ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BÀI THẢO LUẬN
MÔN KINH TẾ LAO ĐỘNG
ĐỀ TÀI: VẤN ĐỀ THẤT NGHIỆP
Nhóm sinh viên thực hiện: Nhóm 5
Lớp: Bảo hiểm 47b
Hà Nội – 04/2008
Danh sách nhóm sinh viên nhóm 5
1. Phạm Thị Bích Nguyệt
2. Trần Minh Nguyệt
3. Cù Thị Hồng Nhung
4. Hoàng Thị Nguyên Nhung
5. Phạm Thị Nhung
6. Phạm Thị Hồng Nhung
7. Nguyễn Đức Phương
8. Phạm Thị Lan Phương
9. Nguyễn Công Quyển
10. Nguyễn Thị Như Quỳnh - Trưởng nhóm.
I. Khái quát chung về thất nghiệp:
Thất nghiệp luôn là mối quan tâm chung của toàn xã hội. Hầu hết các quốc gia
trên thế giới đều cố gắng xây dựng các chính sách kinh tế vĩ mô để thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế, ổn định giá cả, cải thiện việc làm và giảm tỷ lệ thất nghiệp. Thất
nghiệp cũng là mối lo của mọi người dân lao động bởi vì nó gắn liền với đời sống
vật chất và tinh thần của họ. Vậy thất nghiệp là gì?
1. Khái niệm về thất nghiệp:
Thất nghiệp là một hiện tượng kinh tế xã hội tồn tại trong nhiều chế độ xã hội.
Đã từng có nhiều khái niệm về thất nghiệp được đưa ra, song định nghĩa thất
nghiệp của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) được nhiều nhà kinh tế và nhiều nước
tán thành. Theo tổ chức này thì: “Thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một số người
trong độ tuổi lao động, muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức
lương thịnh hành”.
- Thất nghiệp tạm thời: phát sinh do sự dịch chuyển lao động giữa các vùng, các
miền, thuyên chuyển công tác giữa các giai đoạn khác nhau trong quá trình sản xuất.
- Thất nghiệp thời vụ: phát sinh theo chu kỳ sản xuất kinh doanh, xảy ra phổ biến
trong ngành nông lâm ngư nghiệp.
- Thất nghiệp cơ cấu: xảy ra khi mất cân đối giữa cung cầu về các loại lao động.
Cầu loại lao động này tăng thì cầu lao động khác lại giảm xuống, trong khi cung
điều chỉnh không kịp.
- Thất nghiệp công nghệ: xảy ra do sự áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật
và công nghệ vào sản xuất ngày càng được tăng cường làm cho người lao động trong
các dây chuyền sản xuất bị dôi ra.
Căn cứ vào ý chí người lao động có:
- Thất nghiệp tự nguyện: là hiện tượng người lao động từ chối một công việc nào
đó do mức lương được trả không thoả đáng hoặc do không phù hợp với trình độ
chuyên môn, mặc dù họ vẫn có nhu cầu làm việc.
- Thất nghiệp không tự nguyện: là hiện tượng người lao động có khả năng lao
động, trong độ tuổi lao động có nhu cầu làm việc và chấp nhận mức lương được trả,
nhưng người sử dụng lao động không chấp nhận hoặc không có người sử dụng lao
động nên thất nghiệp.
Căn cứ vào mức độ thất nghiệp có:
- Thất nghiệp toàn phần: có nghĩa là người lao động hoàn toàn không có việc làm
hoặc thời gian làm việc thực tế mỗi tuần dưới 8 giờ và họ vẫn có nhu cầu làm thêm.
- Thất nghiệp bán phần: có nghĩa là người lao động vẫn có việc làm, nhưng khối
lượng công việc ít hoặc thời gian lao động thực tế trung bình chỉ đạt 3 đến 4 giờ
trong một ngày làm việc và họ vẫn có nhu cầu làm thêm.
4. Nguyên nhân thất nghiệp:
Trong lịch sử loài người, thất nghiệp chỉ xuất hiện trong xã hội tư bản. Ở
xã hội cộng đồng nguyên thủy, việc phải duy trì trật tự trong bầy đàn buộc
mọi thành viên phải đóng góp lao động và được làm việc. Trong xã hội
phong kiến châu Âu, truyền đời đất đai đảm bảo rằng con người luôn có việc
mở rộng thì thu hút thêm lao động, nhưng khi thu hep thì lại dư thừa lao động, làm
cho cung cầu lao động trên thị trường sức lao động co giãn, thay đổi gây ra hiện tượng
thất nghiệp.
- Do sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là sự tự động hoá quá trình sản xuất
diễn ra nhanh chóng, nên trong một chừng mực nhất định máy móc đã thay thế con
người. Vì mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, các nhà sản xuất luôn tìm cách mở rộng sản
xuất và đổi mới công nghệ, đưa tự động hoá vào quá trình sản xuất nhằm nâng cao
chất lượng sản phẩm, hạ giá thành để cạnh tranh. Những cỗ máy tự động đó đã thay
thế cho hang chục , hang trăm công nhân, do đó gây ra hiện tượng thất nghiệp.
- Sự gia tăng dân số và nguồn lao động, cùng với quá trình quốc tế hoá và toàn cầu
hoá kinh tế cũng có những mặt tác động tiêu cực đến thị trường, làm một bộ phận
người lao động bị thất nghiệp. Nguyên nhân này chủ yếu diễn ra ở những nước đang
phát triển có dân số và nguồn lao động tăng nhanh.
- Do người lao động không ưu thích công việc đang làm hoặc địa điểm làm việc, họ
phải đi tìm công việc mới, địa điểm mới.
- Một nguyên nhân nữa là do tính chất thời vụ của nghề nghiệp thường gây ra hiện
tượng thất nghiệp mùa vụ.
Những nguyên nhân trên gây ra tình trạng thất nghiệp luôn tồn tại trong nền kinh tế.
Do đó việc nghiên cứu các nguyên nhân dẫn đến thất nghiệp là rất cần thiết để tìm các
giải pháp nhằm làm giảm bớt thất nghiệp
5. Những ảnh hưởng của thất nghiệp đến phát triển kinh tế xã hội:
Thất nghiệp đã gây ra những ảnh hưởng trực tiếp đến người lao động và gia đình
họ, đồng thời tác động mạnh đến tất cả các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi
quốc gia.
a. Thất nghiệp gây ra sự thiệt thòi với mỗi cá nhân
Không có việc làm đồng nghĩa với hạn chế giao tiếp với những người lao
động khác, tiêu tốn thời gian vô nghĩa, áp lực tâm lý và tất nhiên là không có
khả năng chi trả, mua sắm vật dụng thiết yếu cũng như các hàng hóa tiêu
dùng. Yếu tố sau là vô cùng trầm trọng cho người gánh vác nghĩa vụ gia
đình, nợ nần, chi trả chữa bệnh. Những nghiên cứu cụ thể chỉ ra rằng, gia
Đối với nền kinh tế, thất nghiệp là sự lãng phí nguồn lực xã hội, là một trong những
nguyên nhân cơ bản làm cho nền kinh tế bị đình đốn, chậm phát triển, khả năng sản
xuất thực tế kém hơn tiềm năng, nghĩa là tổng thu nhập quốc gia (GNI) thực tế thấp
hơn (GNI) tiềm năng. Nếu tình trạng thất nghiệp gia tăng sẽ kéo theo sự gia tăng của
lam phát, từ đó làm cho nền kinh tế bị suy thoái, khả năng phục hồi chậm.
c. Thất nghiệp tác động đến đời sống chính trị xã hội:
Đối với xã hội, thất nghiệp làm cho người lao động hoang mang, buồn chán và thất
vọng, tinh thần luôn bị căng thẳng và dẫn đến khủng hoảng long tin. Thất nghiệp là
một trong những nguyên nhân gây nên những hiện tượng tiêu cực, đẩy người thất
nghiệp đến chỗ bất chấp kỷ cương, luật pháp và đạo đức để tìm kế sinh nhai như: trộm
cắp, cờ bạc, mại dâm, ma tuý
Ngoài ra thất nghiệp gia tăng còn làm cho tình hình chính trị, xã hội bất ổn, hiện
tượng bãi công, biểu tình có thể xảy ra. Người lao động giảm niềm tin vào chế độ và
khả năng lãnh đạo của nhà cầm quyền. Tỷ lệ thất nghiệp là một trong những chỉ tiêu
đánh giá uy tín của nhà cầm quyền.
Tuy nhiên, tình trạng thất nghiệp gia tăng tương quan với áp lực giảm
lạm phát. Điều này được minh họa bằng đường cong Phillips trong kinh tế
học.
Một tỷ lệ thất nghiệp vừa phải sẽ giúp cả người lao động và chủ sử dụng
lao động. Người lao động có thể tìm những cơ hội việc khác phù hợp với
khả năng, mong muốn và điều kiện cư trú. Về phía giới chủ, tình trạng thất
nghiệp giúp họ tìm được người lao động phù hợp, tăng sự trung thành của
người lao động. Do đó, ở một chừng mực nào đó, thất nghiệp đưa đến tăng
năng suất lao động và tăng lợi nhuận.
6. Các chính sách và biện pháp khắc phục tình trạng thất nghiệp:
Để khắc phục và giải quyết tình trạng thất nghiệp luôn là vấn đề nan giải,
bởi lẽ vấn đề này đã trở thành căn bệnh cố hữu của nền kinh tế thị trường.
Tuy nhiên, do những tác động tiêu cực của nó đến tất cả các vấn đề kinh tế,
chính trị, xã hội, cho nên buộc Chính phủ các nước phải quan tâm giải quyết.
Tuỳ theo điều kiện thức tế mà mỗi nước có những chính sách biện pháp khác
- Trợ cấp thôi viêc, mất việc làm: laf một biện pháp tình thế góp phần
giải quyết khó khăn, ổn định cuộc sống khi người lao động phải thôi việc
hoặc mất việc do doanh nghiệp bị phá sản, giải thể hay tinh giảm biên chế,
- Trợ cấp thất nghiệp: biện pháp này thường được thực hiện rất đa dạng
và phong phú. Thực chất đây là chế độ trợ cấp thất nghiệp nằm trong hệ
thống các chế độ BHXH mà tổ chức ILO đã khuyến cáo.
- Bảo hiểm thất nghiệp: là một chính sách nằm trong hệ thống chính sách
kinh tế xã hội của một quốc gia. Đây là một biện pháp hữu hiệu cho việc giải
quyết thất nghiệp mà nhiều nước đã và đang áp dụng một rất hiệu quả.
II. Tình hình thất nghiệp ở Việt Nam và các biện pháp
giảm thất nghiệp:
1. Tình hình thất nghiệp ở Việt Nam:
Trên thế giới, từ những nước phát triển đến những nước đang phát triển
đều tồn tại một tỷ lệ thất nghiệp nhất định trong hầu hết các giai đoạn phát
triển của mình. Và tỷ lệ đó cũng thường không giống nhau ở các thời kỳ
khác nhau.
Ở Việt Nam, từ khi nước ta chuyển sang cơ chế thị trường, nền kinh tế đã
đạt được những thành tựu đáng kể, nổi bật nhất là tăng trưởng kinh tế cao và
tương đối ổn định, lạm phát được kiểm soát chặt chẽ và đã bị đẩy lùi, đời
sống nhân dân được cải thiện rõ rệt và từng bước nâng cao,…Tuy nhiên,
những mặt trái của nền kinh tế thị trường đã bộc lộ khá rõ, đặc biệt là tình
trạng thất nghịêp.
Tháng một năm 1996, tổ chức lao động quốc tế (ILO) trong báo cáo
nhan đề “Việt Nam những vấn đề lao động và xã hội trong một nền kinh tế
chuyển tiếp”, đã đưa ra nhận xét tổng quát “VN có thể là một nước phát triển
nhanh nhất nhưng vẫn còn là một trong những nước nghèo nhất. Vấn đề là
sự gia tăng của đội quân những người không kiếm được việc làm. Tỷ lệ việc
làm được tạo ra ở Việt Nam hiện nay là 2,5%, trong khi sự gia tăng của lực
lượng lao động ở quốc gia giàu tiềm năng nhân lực này là 3% tính chung
toàn quốc và tới 5% tại các đô thị. Nếu tình hình trên kéo dài, chậm được
%199
6
199
7
199
8
199
9
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
Cả nước 5.88 6.01 6.85 6.74 6.42 6.28 6.01 5.78 5.60 5.31 4.82
Đồng bằng sông
Hồng 7.57 7.56 8.25 8.00 7.34 7.07 6.64 6.38 6.03 5.61 6.42
Đông Bắc
6,4
6.34 6.60 6.95 6.49 6.73 6.10 5.93 5.45 5.12 4.32
Tây Bắc 4.73 5.92 5.87 6.02 5.62 5.11 5.19 5.30 4.91 3.89
Bắc Trung Bộ 6.96 6.68 7.26 7.15 6.87 6.72 5.82 5.45 5.35 4.98 5.50
Duyên hải Nam
Trung Bộ 5.57 5.42 6.67 6.55 6.31 6.16 5.50 5.46 5.70 5.52 5.36
Tây Nguyên 4.24 4.99 5.88 5.40 5.16 5.55 4.90 4.39 4.53 4.23 2.38
Đông Nam Bộ 5.43 5.89 6.44 6.33 6.16 5.92 6.30 6.08 5.92 5.62 5.47
Đồng bằng sông
Cửu Long 4.73 4.72 6.35 6.40 6.15 6.08 5.50 5.26 5.03 4.87 4.52
Theo kết quả trên, trong 8 vùng lãnh thổ, vùng có tỉ lệ người thất
nghiệp trong độ tuổi lao động ở khu vực thành thị cao nhất là Đông
Nam Bộ và đồng bằng sông Hồng. Các vùng kinh tế trọng điểm tuy
nông thôn đạt tỉ lệ hơn 80%.
Cuộc điều tra cũng cho biết, cả nước hiện có 4,413 triệu người
làm việc ở khu vực Nhà nước, chiếm 10,2%; có 38,355 triệu người
làm việc ở khu vực ngoài Nhà nước, chiếm 88,2% và hơn 687 nghìn
người làm việc ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, chiếm 1,6%.
Về cơ cấu lao động có việc làm, cả nước có hơn 24,677 triệu
người làm việc chính ở khu vực I (nông, lâm nghiệp và thủy sản),
chiếm 56,8%; hơn 7,769 triệu người làm việc chính ở khu vực II
(công nghiệp và xây dựng), chiếm 17,9%; và hơn 1,1 triệu người làm
việc chính ở khu vực III (dịch vụ), chiếm 25,3%.
Tỉ lệ lao động đã qua đào tạo của lực lượng lao động cả nước là
24,8% (tăng thêm 2,2% so với năm 2004).
Những kết quả kể trên cho thấy, tỉ lệ thất nghiệp vẫn trong xu
hướng giảm, tăng tỉ lệ thời gian lao động sử dụng ở nông thôn, nhiều
chương trình giải quyết việc làm được thực hiện có hiệu quả. Tuy
nhiên, sức ép việc làm còn gay gắt, nhất là ở các đô thị lớn như Hà
Nội, TP Hồ Chí Minh, các vùng kinh tế trọng điểm; tỉ lệ thất nghiệp ở
lực lượng lao động trẻ (từ 15 đến 24 tuổi) còn cao, chiếm 13,4%.
Trong kế hoạch năm năm (2000-2005) tỉ lệ thất nghiệp giảm từ
6,4% năm 2000 xuống 5,3% năm 2005, tăng tỉ lệ thời gian lao động
sử dụng ở khu vực nông thôn từ 73,9% năm 2000 lên 80,7% năm
2005, đạt mục tiêu Đại hội Đảng IX đề ra.
Ngoài ra, hiện nay ở nước ta còn tồn tại tình trạng thất nghiệp
trong giới trí thức khá nghiêm trọng, xảy ra một nghịch lý là học
sinh phổ thông phải rất vất vả mới có thể chen chân vào giảng
đường đại học với tỷ lệ chọi rất cao, kèm theo đó là vô số thứ tốn
kém và hệ lụy khác. Thế nhưng khi tốt nghiệp ra trường, một bộ phận
không nhỏ lại gặp rất nhiều khó khăn trong tìm kiếm việc làm. Nhà
nghiên cứu xã hội học, TS.Lưu Hồng Minh (Trưởng khoa Xã hội học -
Học viện Báo chí và Tuyên truyền), cho biết: “Hiện chưa có số liệu
tương đối mới ở Việt Nam, nhưng là điều thông thường đối với các
nước phát triển. Về một mặt nào đó, có thể coi đây là tín hiệu vui cho
thị trường lao động thời gian qua.
2. Nguyên nhân và các giải pháp giảm thất nghiệp:
Nguyên nhân của thất nghiệp ở Việt Nam:
Ngoài những nguyên nhân chủ yếu giống như các nước, tình trạng
thất nghiệp ở nước ta trong những năm qua còn do một số nguyên
nhân sau:
- Trong quá trình chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang
nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải tổ chức lại sản xuất,
sắp xếp lại lao động nên số lao động dư thừa tương đối nhiều.
- Kinh nghiệm và trình độ quản lý còn non yếu, máy móc thiết bị,
công cụ còn lạc hậu, chất lượng sản phẩm kém, giá thành sản phẩm
cao không cạnh tranh được với hang ngoại đã ảnh hưởng trực tiếp
đến tiêu thụ sản phẩm, mở rộng quy mô sản xuất để thu hút thêm lao
động.
- Do quản lý thị trường chưa tốt, hàng ngoại chèn ép hàng nội dẫn
đến một số doanh nghiệp không tiêu thụ nổi sản phẩm, sản xuất đình
đốn, phải phá sản, phải sa thải công nhân.
- Do sự tan rã của hệ thống XHCN nên thị trường truyền thốngbị thu
hẹp, một số doanh nghiệp làm hàng xuất khẩu cho Liên Xô và các
nước Đông Âu phải giải thể hoặc chuyển hướng không kịp đã
làmcho một bộ phận lao động trở nên thất nghiệp hoặc thiếu việc
làm.
Nhận thức rõ được vấn đề này, trong những năm qua Đảng và
Nhà nước ta đã có nhiều chính sách và biện pháp giải quyết tình
trạng thất nghiệp. Chẳng hạn: trợ cấp thôi việc và trợ cấp một lần cho
người lao động tự nguyện xin thôi việc, đồng thời dành những khoản
tiền khá lớn từ ngân quỹ quốc gia giải quyết việc làm, cho phếp thành
lập các trung tâm môi giới việc làm, tư vấn lao động và tư vấn nghề