BÀI THẢO LUẬN MÔN: KINH TẾ VĨ MÔ - Pdf 68

BÀI THẢO LUẬN
MÔN: KINH TẾ VĨ MÔ
CHỦ ĐỀ: Lạm phát ở Việt nam trong những năm gần đây
Nhóm: 3
I/ Lý do chọn đề tài:
Hiện nay,do nền kinh tế của toàn thế giới có nhiều thay đổi,các quốc gia
dần và đang chuyển mình để hoà nhập với xu thế toàn cầu hoá.Trong nền kinh tế
thị trường,các hoạt động cạnh tranh luôn diễn ra gây gắt nhằm thu lại lợi nhuận
cao và đứng vững trên thị trường.Các nhà kinh tế cũng như các Doanh nghiệp
phải biết cách tiếp cận, nắm bắt nhanh chóng những vấn đề của nền kinh tế
mới.Một trong những vấn đề đó là lạm phát, tham nhũng, hối lộ.....nhưng nổi
bậc nhất chính là vấn đề Lạm phát.
Do đó, Nhóm chúng em đã chọn đề tài “Lạm phát” để tìm hiểu sâu sắc hơn
vấn đề trên.Lạm phát như một căn bệnh của nền kinh tế thị trường, nó hết sức
phức tạp đòi hỏi sự đầu tư về thời gian và trí tuệ mới có thể có kết quả khả quan
được. Việc chống Lạm phát không chỉ là việc của các Doanh nghiệp mà nó còn
là nhiệm vụ của chính phủ.Lạm phát ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế quốc
dân, đời sống xã hội, đặc biệt là giới lao động. Ở nước ta hiện nay, chống Lạm
phát, giữ vững kinh tế phát triển ổn định, cân đối là mục tiêu quan trọng trong
phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống nhân dân.
Vấn đề Lạm phát đã được nhiều quốc gia quan tâm, nghiên cứu và đề xuất
các biện pháp khắc phục, trong đó có Việt Nam chúng ta. Nét đặc trưng nổi bậc
của thực trạng nền kinh tế khi có Lạm phát là hầu hết giá cả hàng hoá đều tăng
cao và sức mua đồng tiền ngày càng giảm nhanh.
Do điều kiện và khả năng hạn chế, chắc rằng trong bài viết này không
tránh khỏi những thiếu xót.Nhóm chúng em rất mong được Cô xem xét và có ý
kiến để cho nhóm chúng em có thể có bài làm tốt hơn nữa.
II/Nội dung:
1/ Định nghĩa
Lạm phát là hiện tượng lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế dư thừa so
với nhu cầu cần thiết của lưu thông hành hoá.

Khi giá của một hoặc một vài yếu tố này tăng lên thì tổng chi phí sản xuất của
doanh nghiệp tăng , để đảm bảo lợi nhuận thì doanh nghiệp sẽ tăng giá thành sản
phẩm. lạm phát nảy sinh từ đó.
Ngoài ra cũng phải kể đến một vài nguyên nhân khác gây ra lạm phát:
• Lạm phát do cơ cấu
• Lạm phát do cầu thay đổi
•Lạm phát do xuất khẩu
• Lạm phát do nhập khẩu, lạm phát tiền tệ
3/ Tác động của lạm phát
2
- Nạn nhân của lạm phát: hầu hết mọi thành phần trong nền kinh tế đều trở thành
nạn nhân của lạm phát bởi vì nhìn một cách tổng quát thì mỗi người đều là
người tiêu dùng.
- Các thành viên chịu ảnh hưởng mạnh nhất của lạm phát đó là:
• Người về hưu.
• Người gửi tiết kiệm.
• Những người cho vay nợ.
• Những người thuộc diện nghèo trong xã hội (thu nhập dưới 1USD/ngày):
đây là những người chịu hậu quả nặng nề nhất của lạm phát khi số tiền ít ỏi của
họ giờ đây không đủ cho 1 bữa ăn gia đình.
4/ Các loại Lạm phát
*Lạm phát dự đoán
- Là lạm phát diễn ra đúng như dự kiến, không gây ra tổn thất lớn cho nền
kinh tế vì dân chúng sẽ hạch toán để giảm thiệt hại.
+Thứ nhất, hạch toán tỷ lệ lạm phát (tỷ lệ trượt giá ) vào những chỉ tiêu có
liên quan.
+Thứ hai, nếu tỷ lệ lạm phát cao, dân chúng sẽ tránh giữ tiền mà thay vào
đó là vàng, ngoại tệ mạnh.
-Mặt trái: kích thích số lượng tiền giao dịch trong nền kinh tế.
*Lạm phát ngoài dự đoán

Về chính sách tài khóa, thâm hụt ngân sách là khá cao do Chính phủ tăng chi
tiêu và giảm thuế vào năm ngoái nhằm kích thích tăng trưởng kinh tế. Quy mô
lớn của gói kích cầu trị giá gần 7 tỷ Đô la đã được các nhà kinh tế cảnh báo về
nguy cơ gây lạm phát từ đầu năm. Trong năm ngoái, thâm hụt ngân sách lên tới
6,9% GDP, là mức cao so với mức chấp nhận thông thường ở mức 5% GDP ở
Việt Nam. Tăng chi tiêu Chính phủ khiến cho cầu về hàng hóa tăng, thúc đẩy giá
tăng, đồng thời thâm hụt ngân sách liên tục sẽ gây áp lực cho in tiền để tài trợ
cho các khoản chi tiêu của Chính phủ.
4
- Quỹ tiền tệ quốc tế( IMF) dự báo tăng trưởng kinh tế của việt nam trong năm
2010 là ở mức 6%, nhưng lạm phát có thể lên đến 2 con số do tăng trưởng tín
dụng manh, giá hàng hóa thế giới cao trở lại cũng sẽ tác động đến giá cả trong
nước.
Kinh nghiệm điều hành chính sách tiền tệ trong năm 2009 cho thấy mặc
dầu Ngân hàng Nhà nước đã đưa rất nhiều những cảnh báo và mệnh lệnh hành
chính nhằm ngăn chặn tăng trưởng tín dụng, tuy nhiên vẫn không cản trở tăng
trưởng tín dụng lên mức 37,7% từ mức mục tiêu ban đầu là 25%.
Cụ thể, về chính sách lãi suất, bỏ trần lãi suất huy động hoặc nâng trần lãi suất
huy động là việc cần làm để hút thêm tiền vào hệ thống ngân hàng. Hiện tại,
việc quy định trần lãi suất tiền gửi ở mức 10,5% đang gây khó khăn cho ngân
hàng trong việc huy động vốn Mặc dầu, các ngân hàng cũng áp dụng trả lãi suất
tăng thêm khoảng 1-2% so với mức lãi suất trần qui định đối với khách hàng
VIP nhưng mức lãi suất này vẫn chưa đủ hấp dẫn để tăng lượng tiền gửi. Trong
ba tháng gần đây, tốc độ tăng trưởng huy động tiền gửi âm hoặc gần với không.
Tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng tiền gửi.
Lãi suất tiền gửi nên được điều chỉnh tăng, để khuyến khích người dân gửi
tiền vào hệ thống ngân hàng và lãi suất cho vay cao, dẫn tới giảm tăng trưởng tín
dụng và từ đó cải thiện được chỉ số tổng tín dụng trên tổng tiền gửi.
Thêm vào đó, việc kiểm soát tín dụng nhằm nâng cao chất lượng tín dụng là
điều cần bàn khi lãi suất cho vay ở mức cao nhằm tránh sự lựa chọn bất lợi.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status