Đại học Huế
Đại học Kinh tế
Nguyễn Bá Long Vũ
K52 Rennes
CHƯƠNG 1.VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1. Mở đầu
1.1.Tính cấp thiết của vốn đầu tư phát triển kinh tế
Kinh tế xã hội tiếp tục ổn định và phát triển, tuy nhiên cũng còn những hạn chế. Một
trong đó những nguyên nhân cơ bản đó là thu hút vốn đầu tư và sử dụng vốn đầu tư
còn chưa hiệu quả. Vì vậy có thể phát huy tiềm năng và lợi thế trong phát triển kinh
tế xã hội thì vấn đề đầu tư, thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư cho
phát triển kinh tế xã hội luôn quan tâm. Chính vì vậy việc thực hiện nghiên cứu đề tài
là hết sức cần thiết.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Trình bày có hệ thống để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về thu hút
vốn đầu tư.
Đánh giá phân tích thực trạng và rút ra những nguyên nhân tác động đến việc thu
hút vốn đầu tư.
Đề xuất những giải pháp, cơ chế, chính sách phù hợp với điều kiện của Nhà
nước; kiến nghị, đề xuất.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là vấn đề thu hút và sử dụng vốn đầu tư các nguồn đầu tư.
Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong lĩnh vực vốn đầu tư với phát triển kinh tế xã
hội, tập trung nghiên cứu thu hút vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, sử dụng số liệu thống
kê và phương pháp dự báo, phân tích thống kê, phương pháp so sánh tổng hợp
trong xử lí thông tin.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Tổng quan và lý luận về vốn đầu tư phát triển kinh tế
tổng cầu, khi đầu tư tăng lên thì trực tiếp làm cho thu nhập quốc dân tăng lên;
Vốn là yếu tố đầu vào cơ bản của quá trình sản xuất, kết hợp với các yếu tố
khác tạo ra của cải vật chất trong xã hội. Do vậy vốn là nhân tốc quan trọng
nhất tạo ra tăng trưởng kinh tế.
2.4. Vai trò của vốn đầu tư đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế
Trong quá trình đầu tư vốn là một nhân tố đặc biệt quan trọng, là chìa khóa của sự
thành công về tăng trưởng và phát triển kinh tế.
2.4.1. Đối với các đơn vị kinh tế
Vốn là nhân tố tiền đề cho ra đời, tồn tại và phát triển của mỗi đơn vị kinh tế; vốn
không thể mất đi mà vẫn được bảo tồn và phát triển.
2.4.2. Đối với nền kinh tế quốc dân
Tác động của vốn đến cân bằng kinh tế vĩ mô.
Vốn tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Tác động của vốn đến việc phát triển cơ sở hạ tầng và sự chuyển dịch cơ
cấu kinh tế.
Vốn chính là nhân tố tạo ra động lực đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu theo
hướng tối ưu.
2.5. Nguồn vốn đầu tư
2.5.1. Nguồn vốn đầu tư trong nước
Nguồn vốn đầu tư trong nước hình thành từ tiết kiệm của Ngân sách nhà
nước, tiết kiệm của các doanh nghiệp và tiết kiệm của khu vực dân cư.
Tóm lại, tiết kiệm là quá trình nền kinh tế dành ra 1 phần thu nhập ở hiện tại để tạo
ra nguồn vốn cung ứng cho đầu tư phát triển. Tuy vậy, do nguồn tiết kiệm trong nước
thấp nên cần phải thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
2.5.2. Nguồn vốn nước ngoài
Vốn đầu tư nước ngoài bao gồm vốn đầu tư gián tiếp và vốn đầu tư trực tiếp:
Viện trợ phát triển chính thức : (ODA)
vẫn bảo đảm được tốc độ tăng trưởng (ICOR giảm) cũng cho thấy tính hiệu
quả đầu tư của khu vực này được nâng lên.
Quy mô nguồn vốn khu vực nhà nước phụ thuộc lớn vào thu ngân sách nhà
nước.Tuy nhiên, nguồn thu ngân sách của nước ta hiện nay còn một số yếu tố
thiếu vững chắc .Trong cơ cấu tổng thu ngân sách nhà nước, thu nội địa chiếm
tỷ lệ thấp, chủ yếu thu từ dầu thô và từ thuế nhập khẩu. Khoản thu này không
trực tiếp phản ánh hiệu quả của sản xuất kinh doanh, đồng thời các nội dung
thu này sẽ bị ảnh hưởng bởi nguồn dầu thô ngày càng cạn kiệt và lộ trình cắt
giảm thuế quan.
2.6.2. Nguồn vốn từ khu vực ngoài nhà nước
Tỷ lệ nguồn vốn từ khu vực ngoài Nhà nước trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng
dần qua các giai đoạn. Giai đoạn 19962000 chiếm 24,1%, đến giai đoạn 20012005 là
32,5%, giai đoạn 20062010 là 36,1% và giai đoạn 20112015 là 38,3%(2). Điều này cho
thấy, kinh tế ngoài nhà nước ngày càng phát triển và có vai trò quan trọng trong nền
kinh tế nhiều thành phần, đã phát huy hiệu quả sức mạnh tổng hợp của các thành
phần kinh tế cho sự phát triển chung của đất nước. Đó là kết quả của cơ chế thị
trường đã khai thông các nguồn vốn nói chung và vốn ngoài nhà nước nói riêng. Hiệu
quả sử dụng nguồn vốn này rất cao vì tính linh hoạt và thận trọng trong sử dụng đồng
vốn. Tuy quy mô vốn của các doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước còn nhỏ nhưng
tính linh hoạt trong điều kiện nền kinh tế mở đã góp phần giúp nền kinh tế quốc dân
thích nghi nhanh với những thay đổi của kinh tế toàn cầu.
2.6.3. Nguồn vốn khu vực nước ngoài
Viện trợ phát triển chính thức (ODA) :
Nguồn vốn ODA tại Việt Nam được thực hiện dưới 3 hình thức chủ yếu gồm
nguồn vốn ODA viện trợ không hoàn lại (chiếm khoảng 10%12%), nguồn vốn
ODA vay ưu đãi (chiếm khoảng 80%) và nguồn vốn ODA hỗn hợp (chiếm
khoảng 8%10%)(3). Trong những năm qua, ODA cho Việt Nam không ngừng
tăng lên cả về số vốn cam kết cũng như vốn giải ngân.
biệt, quy mô nguồn vốn này có xu hướng giảm do hiện nay Việt Nam là nước đang
phát triển có mức thu nhập trung bình, các quan hệ kinh tế chuyển đổi cơ bản từ quan
hệ viện trợ phát triển sang quan hệ đối tác.
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) :
Tính đến hết năm 2016, cả nước có 22.509 dự án còn hiệu lực với tổng vốn
đăng ký đạt gần 293,25 tỷ USD. Vốn thực hiện lũy kế của các dự án FDI đạt
hơn 154,54 tỷ USD (bằng gần 53% tổng vốn đăng ký còn hiệu lực). Khu vực
FDI đã đầu tư vào 19 trong tổng số 21 ngành, trong đó lĩnh vực công nghiệp chế
biến và chế tạo chiếm tỷ trọng lớn nhất (58,8% tổng vốn đăng ký), kinh doanh
bất động sản đứng thứ hai (17,7% tổng vốn đăng ký). Có 116 quốc gia và vùng
lãnh thổ đã đầu tư vào Việt Nam, trong đó Hàn Quốc là nhà đầu tư lớn nhất với
5.747 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký hơn 50,7 tỷ USD (chiếm 17,3% tổng
vốn đầu tư); đứng thứ 2 là Nhật Bản với 3.280 dự án còn hiệu lực, tổng vốn
đăng ký hơn 42 tỷ USD (chiếm 14,3% tổng vốn đầu tư).
Đến nay, FDI đã có mặt tại 63 tỉnh, thành phố trên cả nước, trong đó tập trung
chủ yếu tại các địa bàn trọng điểm, có lợi thế. Xếp theo quy mô vốn, thành phố
Hồ Chí Minh dẫn đầu với 6.737 dự án còn hiệu lực, vốn đăng ký hơn 44,82 tỷ
USD, chiếm 15,3% tổng vốn đăng ký cả nước; thứ hai là Bà Rịa Vũng Tàu với
342 dự án, vốn đăng ký 26,86 tỷ USD, chiếm 9,2%; thứ ba là Bình Dương với
3.035 dự án, vốn đăng ký 26,96 tỷ USD, chiếm 9,1%(7).
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đã không ngừng được mở rộng và phát
triển, trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế, giải quyết việc làm và
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cải thiện trình độ công nghệ, nâng cao
khả năng xuất khẩu và hội nhập, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, góp phần tích cực vào công cuộc CNH, HĐH.
Nguồn vốn kiều hối :
Hiện nay có khoảng 4,5 triệu người Việt Nam đang sinh sống ở nước ngoài,
của dân cư còn rất thấp; quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tiến
hành chậm; các chính sách về huy động nguồn lực từ các thành phần kinh tế
cho đầu tư chưa đủ sức hấp dẫn; môi trường đầu tư chưa tốt; bộ máy hành
chính nhà nước chưa thật sự là bạn đồng hành của các nhà đầu tư.
Thứ năm, chất lượng nguồn vốn FDI còn nhiều hạn chế, chưa thu hút được
nhiều dự án có hàm lượng công nghệ cao, có tác động lan tỏa, lôi kéo các ngành
công nghiệp hiện đại. Tỷ lệ vốn FDI thực hiện so với vốn đăng ký còn thấp,
tính đến hết năm 2016 chỉ đạt gần 46%.
Thứ sáu, chưa khai thác hết tiềm năng nguồn vốn khu vực ngoài nhà nước, chưa
huy động vào đầu tư trực tiếp cho quá trình sản xuất kinh doanh. Dòng vốn
chảy vào các lĩnh vực, ngành mang tính ngắn hạn, thiếu bền vững do yếu tố
tâm lý chi phối mà ít tuân theo các quy luật của thị trường nên đôi khi tăng
trưởng quá nóng hay quá lạnh. Số doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước phá
sản hoặc dừng sản xuất tăng lên trong những năm gần đây. Cụ thể, năm 2010
số doanh nghiệp phá sản, dừng hoạt động là 43 nghìn, 2011 là 53 nghìn, 2012 là
54 nghìn, 2013 là 60,8 nghìn, 2014 là 67,8 nghìn và 2015 là 71,4 nghìn
2.7. Giải pháp của Chính phủ về giải quyết vốn đầu tư
Đại hội XII của Đảng đề ra kế hoạch 5 năm 20162020: “Tốc độ tăng trưởng
kinh tế bình quân 5 năm đạt 6,57%/năm. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình
quân 5 năm bằng khoảng 3234% GDP”(10). Mặc dù, Chính phủ đã có nhiều cố
gắng huy động tối đa các nguồn vốn cho đầu tư phát triển, nhưng nhu cầu đầu
tư của nền kinh là rất lớn. Do đó, để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế,
cần thực hiện các nhóm giải pháp có tính định hướng sau đây:
Một là, tạo lập môi trường đầu tư, xây dựng hệ thống pháp lý tiệm cận với
quốc tế nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư. Đây là giải pháp trung tâm trong việc
huy động các nguồn vốn, vì nơi nào hiệu quả đầu tư càng cao thì nơi đó có khả
năng huy động vốn càng lớn.
Hai là, tổ chức đánh giá tiềm năng về vốn đầu tư của các thành phần kinh tế,
Thứ tư: Tăng cường nguồn vốn từ các tổ chức tín dụng
Thứ năm: Nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng nguồn vốn đầu tư
Thứ sáu: Nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng nguồn vốn đầu tư
3. Kết luận
Như đã trình bày ở trên vốn và hoạt động huy động vốn cho sự nghiệp phát triển
kinh tế xã hội đất nước là rất quan trọng. Nhưng một phần cũng không kém phần
quan trọng đó là hoạt động sử dụng vốn huy động này sao cho có hiệu quả để đảm
đem lại lợi ích và hiệu quả cao nhất. Nếu chúng ta sử dụng vốn hiệu quả thì các
nguồn lực dành cho đầu tư xẽ phát huy được tối đa lợi ích cho chủ đầu tư nói riêng và
nền kinh tế nói chung và ngược lại nếu chúng ta sử dụng vốn đầu tư không hiệu quả
thì các kết quả của những đồng vốn mà chúng ta bỏ ra sẽ không phát huy được tối đa
cho nền kinh tế. Để làm được vấn này đòi hỏi chúng ta phải làm tốt các chiến lược sử
dụng vốn cho đầu tư như: quản lý đầu tư, kế hoạch hoá đầu tư, cũng như các công
tác thẩm định dự án và quản lý dự án đầu tư.
CHƯƠNG 2: NỢ CÔNG
1. Mở đầu:
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong chính sách tài khóa của Chính phủ, việc quản lí nợ công là vấn đề quan
trọng luôn được xem xét dưới nhiều góc độ nhằm đảm bảo khả năng phát triển
đồng thời giữ độ an toàn cần thiết
cho nền tài chính quốc gia. Số liệu
thống kê cho thấy những nền kinh tế lớn nhất trên thế giới như Mỹ, Nhật Bản,
Trung Quốc,..cũng chính là những con nợ kếch xù. Nợ công, dùng để phục vụ
cho các nhu cầu chi tiêu và sử dụng của Chính phủ nhằm các mục đích khác
nhau, chiếm một phần trong những khoản vay đó. Tuy nhiên, thực tế các nước
cho thấy, việc vay nợ và chi tiêu lãng phí, sử dụng kém hiệu quả đồng nợ của
Chính phủ đã khiến cho nhiều nước rơi vào tình trạng khủng hoảng nợ công mà
các nước Châu Âu, điển hình là Hy Lạp là ví dụ. Đây cũng là vấn đề thời sự,
Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn tập trung vào việc phân tích hệ thống quản lý nợ công ở Việt
Nam xuất phát từ quan điểm quản lý hiệu quả và tiến hành phân tích thực
trạng quản lý nợ công thông qua những chỉ số kinh tế và các chỉ số nợ
nước ngoài trên tầm vĩ mô.
Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn tập trung vào nghiên cứu công tác quản lý nợ công tập trung
chủ yếu vào nợ nước ngoài, nghiệp vụ quản lý nợ công, các thống kê
kinh tế và các chính sách liên quan đến tính hiệu quả và bền vững của nợ
công trong giai đoạn 2007 – 2011 khi bản tin nợ công số 1 được công bố
công khai.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Cở sở lí luận của nợ công
2.1.1. Khái niệm:
Theo Luật Quản lý nợ công Việt Nam 2009 thì nợ công bao gồm: nợ
Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa
phương. Thước đo nợ Chính phủ thường là phần trăm so với GDP. Nợ thường
được tính tại từng thời kỳ, từng giai đoạn. So sánh tổng nợ nước ngoài với GDP
là nhằm so sánh nợ với những gì một quốc gia làm ra, để xác định khả năng trả
nợ của quốc gia đó.
Thông thường, nợ công là hệ quả trực tiếp của thâm hụt ngân sách chính
phủ
và quy mô nợ công đúng bằng quy mô thâm hụt ngân sách tích tụ qua các năm.
Về
nguyên tắc, để bù đắp thâm hụt ngân sách, các chính phủ phải đi vay trong và
ngoài.
nước chứ không được phát hành tiền để tránh nguy cơ xảy ra lạm phát cao. Tuy
nhiên, nợ công ở một số nước đang phát triển, chẳng hạn như Việt Nam, còn
b) Vay trực tiếp:
Các quốc gia có thể vay thương mại từ các định chế tài chính với lãi
suất thị trường hoặc có thể vay ưu đãi (ODA) từ Chính phủ các nước
khác hay từ các tổ chức quốc tế như WB, ADB, IMF,… với lãi suất ưu
đãi rất thấp và thời gian ân hạn (thời gian bắt đầu trả nợ gốc) dài. Tuy
nhiên hình thức vay ưu đãi chỉ áp dụng cho những nước nghèo, có thu
nhập thấp.
2.1.4. Những yếu tố ảnh hưởng đến việc tính toán nợ công:
Cách tính nợ công :
Hiện nay cách xác định nợ công của Việt Nam có sự khác biệt so với quốc tế.
Theo Luật Quản lý nợ công số 29/20009/QH12 thông qua ngày 1762009 và
Luật Quản lý nợ công số 20/2017/QH14 thông qua ngày 23112017, nợ công
gồm: nợ chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa
phương. Với cách tính này, nợ công của Việt Nam hiện nay chưa bao gồm nợ
của các doanh nghiệp nhà nước nên chưa phù hợp với cách tiếp cận của thế
giới về phạm vi nợ công. Do vậy, nếu tính cả nợ của Ngân hàng nhà nước,
doanh nghiệp nhà nước, bảo hiểm xã hội... thì nợ công của Việt Nam có thể
cao hơn mức công bố. Trong tình huống xấu nhất, nếu các tổ chức này không
trả được nợ hoặc các doanh nghiệp nhà nước bị phá sản sẽ ảnh hưởng nghiêm
trọng đến uy tín và vị thế quốc gia. Khi đó Chính phủ sẽ phải nhận trách nhiệm
trả nợ thay cho những tổ chức hoặc doanh nghiệp trên.
a) Lạm phát:
Lạm phát là thuật ngữ dùng để chỉ tình huống, trong đó mức giá chung
của nền kinh tế tăng lên. Lạm phát ảnh hưởng rất lớn đến việc tính lãi vay do
Chính phủ trả những khoản lãi vay theo lãi suất danh nghĩa (lãi suất danh nghĩa
là tổng của lãi suất thực tế và tỷ lệ lạm phát: i = r + π)1. Theo phương trình
Fisher, tỷ lệ lạm phát tăng 1% sẽ làm lãi suất danh nghĩa tăng 1%.
b) Tài sản đầu tư:
nhiều so với cách hạch toán truyền thống của Bộ Tài chính. Điều này cho thấy
còn nhiều bất cập trong việc tính toán và công bố tình hình nợ công của nước
ta; đồng thời, khiến cho việc tái dựng toàn cảnh tình trạng nợ công của Việt
Nam trở nên rất khó.
Theo thống kê mà tạp chí kinh tế The Economist đưa ra vào tháng 10/2010 con
số tuyệt đối về nợ công tính theo đầu người của Việt Nam thấp hơn so với
nhiều nước trong khu vực và vào hàng thấp trên thế giới.
Khi vay nợ thì quy mô của khoản nợ không quan trọng bằng khả năng thanh
toán khoản nợ đó mà đối với một quốc gia, khả năng thanh toán nợ được nhìn
đơn giản thông qua GDP của nước đó. Tuy nhiên, nếu xét ở tiêu chí tỷ lệ nợ
công trên GDP, thì Việt Nam đang được The Economist xếp vào nhóm nước có
mức nợ trên trung bình. Mức nợ của Việt Nam xét ở tiêu chí này cao hơn một
số nước trong khu vực như Trung Quốc là 17,4% hay Indonesia là 26,5%. Những
nước trong khu vực có tỷ lệ nợ công so với GDP xấp xỉ Việt Nam là Thái Lan
(48,6%), Malaysia (52,1%), Philippines (55,8%).
Theo dự đoán của các chuyên gia kinh tế tại Trung tâm nghiên cứu kinh tế và
chính sách (VERP), nhiều khả năng nợ công Việt Nam sẽ tạm chững lại trong
năm 2011 do lạm phát tăng mạnh. Tuy nhiên, trong những năm tiếp theo, tỷ lệ
nợ công sẽ tăng dần đều và đạt mức 64% GDP vào năm 2015 và 80% vào năm
2020.
Mặc dù các số liệu thống kê được công bố về quy mộ nợ công của Việt Nam
có chênh lệch nhau đi chăng nữa nhưng nhìn chung thì trong số các nước đang
phát triển và mới nổi, Việt Nam có mức nợ công khá lớn và đang có xu hướng
gia tăng nhanh chóng. Đối với một nước đang phát triển như Việt Nam thì tỷ lệ
an toàn của nợ công/GDP phải là 50% và con số thực tế của tình hình nợ công
của nước ta đang mấp mé ngưỡng an toàn ấy.
2.2.2. Cơ cấu nợ công của Việt Nam:
Với cách tính theo Luật Quản lý nợ công 2009, nợ Chính phủ chiếm tỷ trọng
lớn trong tổng nợ công của Việt Nam. Cơ cấu nợ công của Việt Nam năm 2006
– 2010 gồm nợ Chính phủ chiếm 78,1% còn lại là nợ được Chính phủ bảo lãnh
gia và nợ nước ngoài chiếm 20% dự trữ ngoại hối hiện nay). Mặc dù vậy, nợ
công của Việt Nam vẫn có thể xảy ra những rủi ro về tính thanh khoản, khi
thời hạn trả nợ bị xáo trộn (khoản nợ từ trung hạn và dài hạn có thể chuyển
thành ngắn hạn – trong trường hợp các chủ nợ gặp khó khăn hay khủng hoảng
kinh tế trong nước). Đặc biệt, cơ quan giám sát bày tỏ e ngại rủi ro về tính
thanh khoản của những khoản nợ nước ngoài trong ngắn hạn khi tỷ lệ dự trữ
ngoại hối của Việt Nam/tổng dư nợ ngắn hạn đã và đang sụt giảm với tốc độ
rất nhanh, từ mức 100 lần năm 2007 xuống còn 28 lần vào năm 2008, còn 3 lần
vào năm 2009 và chỉ còn gấp khoảng 2 lần trong năm 2010. Bên cạnh đó, nghĩa
vụ trả nợ nội địa trong ba năm tới được ước tính trên số lượng trái phiếu Chính
phủ đã phát hành và sẽ đáo hạn trong vòng 3 năm tới, ước khoảng 215.000 tỷ
đồng, tương đương 20% dự toán thu ngân sách Nhà nước của thời điểm đó
(2014).
2.3. Chính sách của Nhà nước về nợ công
Theo Luật Quản lý nợ công số 20/2017/QH14:nợ công ở Việt Nam bao gồm nợ
Chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ của Chính quyền địa phương.
Nợ Chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước ngoài
được ký kết, phát hành nhân danh nhà nước, nhân danh chính phủ, bao gồm: nợ
do chính phủ phát hành công cụ nợ; nợ do Chính phủ ký thỏa thuận vay trong
nước, nước ngoài; nợ của ngân sách Trung ương vay từ quỹ dự trữ tài chính
của nhà nước, ngân quỹ nhà nước, quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách. Nợ
được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ do doanh nghiệp, ngân hàng chính sách
của nhà nước vay được Chính phủ bảo lãnh, bao gồm: nợ của doanh nghiệp
được chính phủ bảo lãnh; nợ của ngân hàng chính sách của nhà nước được
chính phủ bảo lãnh. Nợ của chính quyền địa phương là khoản nợ phát sinh do
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh vay, bao gồm: nợ do phát hành trái phiếu của chính
quyền địa phương; nợ do vay lại vốn ODA hoặc vay ưu đãi nước ngoài; nợ của
ngân sách địa phương vay từ ngân hàng chính sách của nhà nước, quỹ dự trữ tài
Nợ nước ngoài chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nợ công: Trong cơ cấu nợ công
của Việt Nam, tỷ lệ nợ nước ngoài/GDP khá cao: Năm 2010, nợ nước ngoài
chiếm 31% GDP (khoảng 44,349 tỷ USD), đến năm 2017 chiếm khoảng 45,2%
GDP (khoảng 109,9 tỷ USD). Tỷ lệ nợ nước ngoài cao không chỉ phản ánh khả
năng tích lũy vốn trong nước hạn chế, phụ thuộc nhiều vào bên ngoài mà còn
tiềm ẩn nguy cơ rủi ro thanh khoản ngoại tệ cho các tổ chức tài chính, đặc biệt
là hệ thống ngân hàng thương mại nếu vấn đề kiểm soát dòng vốn ngoại tệ
không hiệu quả. Các khoản nợ nước ngoài trước đây chủ yếu là nợ trung và dài
hạn nhưng những năm gần đây (đặc biệt giai đoạn 2010 đến nay), tỷ lệ nợ
ngắn hạn có xu hướng tăng lên (dưới 5 năm) do Việt Nam đã ra khỏi nhóm
nước có thu nhập thấp nên các ưu đãi vay bị cắt giảm, phải chuyển sang vay
thương mại, gây khó khăn cho ngân sách nhà nước do tỷ lệ trả lãi vay và nợ gốc
so với tổng thu, chi ngân sách ở mức cao. Mặc khác, nợ nước ngoài trong cơ
cấu nợ công của Việt Nam hiện nay chủ yếu tập trung vào 4 loại ngoại tệ
USD, JPY, EURO, SRD có thể tạo ra các nguy cơ rủi ro tiềm ẩn gắn với sự
biến động giá trị của các đồng tiền này.
Hiệu quả sử dụng nợ chưa cao: Phần lớn nợ công Việt Nam được sử dụng cho
mục đích đầu tư, tạo nền tảng cho sự phát triển kinh tế bền vững nhưng việc
sử dụng các khoản nợ đó chưa đạt hiệu quả cao. Vẫn còn tình trạng chậm trễ,
không đồng bộ trong giải ngân vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước và nguồn trái
phiếu Chính phủ. Theo tổng cục thống kê, ước tính vốn đầu tư của khu vực nhà
nước năm 2017 khoảng 594,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 35,7% tổng vốn đầu tư xã
hội nhưng hiệu quả đầu tư chưa cao.
Tình trạng lãng phí, thất thoát trong đầu tư công còn phổ biến; tình trạng đầu tư
phân tán, dàn trải vẫn chưa được khắc phục; nhiều dự án thời gian thi công kéo
dài, chậm tiến độ làm tăng vốn đầu tư gây thất thoát nguồn lực tài chính của
Nhà nước. Nguyên nhân là do cơ chế quản lý đầu tư công còn yếu kém; pháp
luật đầu tư công chưa hoàn thiện, chưa phù hợp với thông lệ quốc tế và thực
tiễn quản lý đầu tư công, gây khó khăn trong việc thực hiện đã làm chậm quá
trình cải thiện hiệu quả đầu tư công ở nước ta.
đồng thời giám sát chặt chẽ việc tuân thủ; cải cách mạnh mẽ công tác quản lý
đầu tư công ở tất cả các khâu của chu kỳ dự án từ quy hoạch, lựa chọn dự án,
giám sát thực hiện dự án đến đánh giá dự án qua việc nâng cao chất lượng thể
chế quản lý đầu tư công.
Sáu là,chủ động điều hành ngân sách theo hướng siết chặt kỷ luật tài khóa, đẩy
mạnh việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ
việc chi tiêu, đảm bảo đúng chế độ, chính sách quy định, đúng dự toán được
giao và khả năng thu ngân sách nhà nước; giữa bội chi ngân sách trong giới hạn
cho phép; phấn đấu tăng thu, tiết kiệm chi để giảm bội chi ngân sách nhà nước.
3. Kết luận
Vấn đề nợ công giờ không chỉ là vấn đề của các nước bạn mà ngay tại Việt
Nam, nếu cứ theo đà tăng như hiện nay thì sớm muộn cũng phải đối mặt với
bài toán hóc búa như nhiều quốc gia đang phải đối mặt. Tuy nhiên, theo nhìn
nhận của giới chuyên gia, hiệu quả quản lý, sử dụng nợ hiện chưa có sự cải
thiện rõ rệt và cần có những giải pháp cụ thể nhằm giải quyết thấu đáo vấn đề
này, qua đó mới có thể giảm bớt gánh nặng nợ công. –
Vấn đề đặt ra ở đây là Chính phủ cần có một chiến lược kiểm soát đầu tư
công, giảm thâm hụt ngân sách để có thể kiểm soát được nợ vay nước ngoài.
Nếu không tình trạng nợ công sẽ là một vấn đề phức tạp trong dài hạn.
Tóm lại, trong cơ cấu nợ của một quốc gia, nợ công là danh mục nợ lớn nhất.
Đây là một cơ cấu tài chính rất phức tạp, chứa đựng nhiều rủi ro tiềm ẩn ảnh
hưởng đến sự ổn định tài chính trong nước, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập
quốc tế. Nợ công là một hiện tượng bình thường nếu như thiết lập được hệ thống
quản lý và sử dụng nợ công có hiệu quả. Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả quản lý
nợ công được Chính phủ Việt Nam rất quan tâm. Một nền kinh tế lành mạnh bao
gồm rất nhiều yếu tố lành mạnh, trong đó có vấn đề nợ công. Cùng với Ban Quản
lý nợ, mỗi người dân cần làm tròn nghĩa vụ đóng thuế cho nhà nước.