Bài thảo luận luật kinh tế - tranh chấp thương mại - Pdf 51

Bài thảo luận
Môn : Luật kinh tế
Nhóm:12
Lớp học phần: 1817TLAW0311


Bảng đánh giá thành viên:
STT

Họ và tên

MSV

1

Đặng Thị Thu Trang

15D180056

2

Đỗ Kiều Trang

15D180197

3

Lê Thị Huyền Trang

15D180390


9

Đặng Quốc Việt

15D180272

10

PhạmThị Hải Yến

15D180273

11

Nguyễn Thị Dung

D14D170427

Đáng giá


Lời mở đầu:
Giao dịch thương mại là việc thực hiện hoạt động thương mại của thương nhân,
làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của thương nhân. Giao dịch thương mại có thể là
một hành vi đơn phương, cũng có thể là một hợp đồng. Trong điều kiện kinh tế thị
trường, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, tự do hóa thương mại
thì tranh chấp thương mại, vi phạm giao dịch thương mại cũng xuất hiện như một
hiện tượng kinh tế - xã hội tất yếu. Để giải quyết được những tranh chấp này thì
trọng tài là một phương thức thực hiện được nhiều ưu thế. Chính vì vậy, đòi hỏi
mỗi doanh nghiệp, mỗi người làm kinh tế phải nắm bắt được những quy định, điều


Ta có thể chia tình huống thành 2 mốc thời gian như sau:


+ Ngày 1/1/2016 A chào bán gạo cho công ty B với giá 10.000đ/kg. Hạn trả lời đến
1/2/2016. 15/1/2016 B yêu cầu giảm giá xuống 9.000đ/kg nhưng A không đồng
ý.Ở đây A là người gửi đề nghị giao kết, B là bên được đề nghị giao kết hợp đồng.
Theo Khoản 1 Điều 393 Bộ luật dân sự 2015:” Chấp nhận đề nghị giao kết hợp
đồng là sự trả lời của bên được đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề
nghị.” Vì vậy việc giao kết ở đây sẽ chấm dứt do bên A không đồng ý thỏa thuận
của bên B.
+ Đến ngày 20/1/2016 B đồng ý mua với giá 10.000 đ và hẹn 25/1/2016 đến lấy
hàng, A im lặng. 25/1 B đến lấy hàng nhưng A đã bán cho người khác.Ở đây bên
gửi đề nghị giao kết là B,còn A là bên được đề nghị giao kết hợp đồng. Theo
Khoản 2 Điều 393 Bộ luật dân sự 2015: “ Sự im lặng của bên được đề nghị
không được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa
thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên.”
Ở đây giữa hai bên không đề cập đến việc các bên đã có sự thỏa thuận hoặc thói
quen là đồng ý giao kết hợp đồng,nên không thể xem việc A im lặng là đã đồng ý
giao kết hợp đồng. Vì vậy việc A không giao hàng B là không trái pháp luật.
2. B không được miễn trách nhiệm trước C
Điều 294 Luật thương mại 2005 có quy định về các trường hợp miễn trách
nhiệm đối với hành vi vi phạm.
“Điều 294. Các trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm.
1. Bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm trong các trường hợp sau đây:
a) Xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thoả thuận;
b) Xảy ra sự kiện bất khả kháng;
c) Hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia;
d) Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà
nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp

Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà
nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp
đồng.Rõ ràng trong tình huống này đều không thỏa mãn.
Nên ta có thể đi tới kết luận ở đây B không được miễn trách nhiệm trước C.
3. Thủ tục thanh lý tài sản của B.
Tại thời điểm thanh lý tài sản công ty B còn 2 tỷ chưa bao gồm tài sản bảo đảm.
Các khoản nợ còn:
- Nợ ngân hàng 2 tỷ ( thế chấp nhà xưởng 1 tỷ)
- Phí phá sản 100 triệu


- Lương lao động 200 triệu
- Điện nước 100 triệu
- BHXH 200 triệu
Biết rằng 1/3/2016 B đã tặng cho doanh nghiệp bạn hàng thân thiết X 100 triệu
nhân dịp khai trương chi nhánh mới.
Căn cứ Điều 53 Luật phá sản 2014, ta sẽ thanh toán khoản nợ có bảo đảm trước.


Trả ngân hàng 1 tỷ ( do đã thế chấp 1 tỷ) còn nợ 1 tỷ
Khoản 1 tỷ này lúc này được xem là khoản nợ không có bảo đảm.

Căn cứ Điều 54 Luật phá sản 2014,thứ tự thanh toán như sau:
1. Chi phí phá sản: 2 tỷ - 0,1 tỷ =1,9 tỷ
2. Nợ lương người lao động: 1,9 tỷ -0,2 tỷ =1,7 tỷ
3. Nợ không có bảo đảm : 1,7 tỷ - 1 tỷ( nợ NH không bảo đảm) – 0,1 tỷ ( tiền
nước) – 0,2 tỷ ( BHXH) =0,4 tỷ
+ Ngày 1/3/2016 B đã tặng cho doanh nghiệp bạn hàng thân thiết X 100 triệu nhân
dịp khai trương chi nhánh mới. Thời điểm B tuyên bố phá sản là 1/4/2016. Theo
Điều 48 Luật phá sản 2014.

a, Xảy ra trương hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thỏa thuận;
b, Xảy ra sự kiện bất khả kháng;
c, Hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia;
d, Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà
nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp
đồng.
2.Bên vi phạm hợp đồng có nghĩa vụ chứng minh các trường hợp miễn trách
nhiệm.
Điều 156.(Luật Dân sự năm 2015): Thời gian không tính vào thời hiệu khởi
kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự.


Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải
quyết việc dân sự là khoảng thời gian xảy ra các vụ kiện sau đây:
1.Sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho chủ thể có quyền khởi
kiện, quyền yêu cầu không thể khởi kiện, yêu cầu trong phạm vi thời hiệu.
Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường
trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần
thiết và khả năng cho phép;
Trở ngại khách quan là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động làm cho
người có quyền, nghĩa vụ dân sự không thể biết về việc quyền, lợi ích hợp pháp
của mình bị xâm phạm hoặc không thể thực hiện được quyền, nghĩa vụ dân sự của
mình;
2.Chưa có người đại diện trong trường hợp người có quyền khởi kiện, người có
quyền yêu cầu là người chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn
trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;
3.Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn
trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự chưa
có người đại diện khác thay thế trong trường hợp sau đây:
a,Người đại diẹn chết nếu là cá nhân, chấm dứt tồn tại nếu là pháp nhân;

trị thì Quản trị viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản đề nghị Thẩm phán cho
xử lý ngay tài sản bảo đảm đó theo quy định tại khoản 3 Điều này.
3.Việc xử lý tài sản bảo đảm theo quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều này
được thực hiện như sau:
a, Đối với khoản nợ có bảo đảm được xác lập trước khi Tòa án nhân dân thụ lý đơn
yêu cầu mở thủ tục phá sản được thanh toán bằng tài sản bảo đảm đó;
b, Trường hợp giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán số nợ còn lại sẽ được
thanh toán trong quá trình thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã; nếu giá trị
tài sản bảo đảm lớn hơn số nợ thì phần chênh lệch được nhập vào giá trị tài sản của
doanh nghiệp, hợp tác xã.
Điều 54.(Luật Phá sản năm 2014): Thứ tự phân chia tài sản
1.Trường hợp Thẩm phán ra quyết định tuyên bố phá sản thì tài sản của doanh
nghiệp, hợp tác xã được phân chia theo thứ tự sau:
a, Chi phí phá sản;


b, Khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với người
lao động, quyền lợi khác theo hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể đã
ký kết;
c,Khoản nợ phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản nhằm mục đích phục hồi hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã;
d, Nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước; khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho
chủ nợ trong danh sách chủ nợ; khoản nợ có bảo đảm chưa được thanh toán do giá
trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ.
2.Trường hợp giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã sau khi đã thanh toán đủ
các khoản quy địnhtại khoản 1 Điều này mà vẫn còn thì phần còn lại này thuộc về:
a, Thành viên hợp tác xã, hợp tác xã thành viên;
b, Chủ doanh nghiệp tư nhân;
c, Chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên;
d, Thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, cổ đông của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status