Luận văn: Giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài ở việt nam - Pdf 15

Luận văn
Giải quyết tranh chấp
thương mại bằng trọng tài
ở việt nam 1
LỜI MỞ ĐẦU

Quan hệ kinh tế quốc tế cùng với mối quan hệ về chính trị, ngoại giao,
văn hoá là những nhân tố quan trọng cấu thành nên bức tranh tổng thể về quan
hệ quốc tế ở mỗi thời kỳ lịch sử nhất định. Nó ra đời và phát triển trên cơ sở
phân công lao động quốc tế, bao gồm một hệ thống đa dạng và phong phú các
hoạt động như: thương mại quốc tế, đầu tư quốc tế, chuyển giao công nghệ
Cùng với xu thế toàn cầu hoá trong quan hệ quốc tế nói chung, hoạt động kinh tế
quốc tế đang đạt được bước phát triển mạnh chưa từng thấy mang tính thời đại
sâu sắc và sẽ còn tiếp tục được bổ sung, phát triển hơn nữa bởi những nhân tố
mới trong tương lai. Trong bối cảnh đó, các tranh chấp phát sinh trong hoạt
động kinh tế quốc tế nói chung và các hoạt động thương mại nói riêng có xu
hướng gia tăng và diễn biến phức tạp đòi hỏi phải có những phương thức giải
quyết nhanh chóng, hiệu quả nhằm bảo đảm cho các hoạt động đó được diễn ra
một cách liên tục và thuận tiện.
Tuy nhiên, giải quyết tranh chấp thương mại là vấn đề vô cùng phức tạp
do tham gia vào các quan hệ này có nhiều chủ thể với những địa vị pháp lý
không giống nhau, thuộc những hệ thống pháp luật khác nhau Do đó, việc lựa
chọn được một phương thức giải quyết tranh chấp hợp lý là một vấn đề có ý
nghĩa quyết định trong việc đảm bảo và thúc đẩy các hoạt động thương mại quốc
tế phát triển thuận lợi. Trên thực tế, toà án là cơ quan có đủ chức năng để thực

về vấn đề này. Về bố cục, bài tiểu luận gồm có: Lời nói đầu, 3 chương và lời kết
luận. Cụ thể là:
Chương I: Một số khái niệm chung
Chương II: Giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài ở Việt
Nam.
Chương III: Đánh giá chung về pháp lệnh trọng tài thương mại 2003
và một số đề kiến nghị. Doanh nghiệp Việt Nam đón nhận trọng tài như thế
nào trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay. Xu hướng phát triển
văn hoá trọng tài thương mại quốc tế.

3
CHƯƠNG I
MỘT SỐ KHÁI NIỆM CHUNG

1. KHÁI NIỆM TRỌNG TÀI VÀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI
1.1. Khái niệm trọng tài trong khoa học pháp lý Quốc tế.
Ở tất cả các nước trên thế giới, các tranh chấp dân sự dù có hay không có
yếu tố nước ngoài đều được giải quyết không chỉ bằng toà án mà bằng cả trọng
tài. Trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp độc lập và ngày càng được sử
dụng rộng rãi trong thực tiễn xét xử quốc tế, đặc biệt là trong lĩnh vực quan hệ
kinh tế quốc tế.
Cuối thế kỷ 19, người ta đã cố gắng hợp thức hoá tính cách pháp lý cho
hình thức trọng tài qua hai Hội nghị Quốc tế. Đó là hội nghị Hoà bình tổ chức tại
La - Hay Hà Lan vào năm 1899 và 1907. Hai hội nghị này đã đi đến việc soạn
thảo quy chế và thủ tục và nỗ lực hướng dẫn các quốc gia áp dụng triệt để các
hiệp ước trọng tài.
Cũng như các thuật ngữ khoa học pháp lý khác, khái niệm "Trọng tài"
được đề cập nhiều trong luật quốc tế. Định nghĩa sớm nhất về trọng tài được nêu
trong Công ước La - Hay năm 1988, theo đó: "Trọng tài là nhằm để giải quyết
những bất đồng giữa các bên thông qua một người thứ ba do chính các bên lựa

1.2.1. Khái niệm trọng tài thương mại quốc tế.
Trọng tài thương mại là một phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh
từ các quan hệ thương mại quốc tế mà pháp luật cho phép giải quyết được bằng
trọng tài.
Trọng tài thương mại quốc tế là một trong những phương thức chủ yếu để
giải quyết các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực thương mại quốc tế. Trong
pháp luật và thực tiễn quốc tế, cũng như pháp luật của nhiều nước, công nhận có
hai loại trọng tài chủ yếu là trọng tài adhoc và trọng tài thường trực.
a. Trọng tài ad - hoc:
Trọng tài ad - hoc là thể loại trọng tài được các bên thành lập ra chỉ để
giải quyết một vụ tranh chấp cụ thể, sau khi vụ tranh chấp đã được giải quyết
xong thì trọng tài ad - hoc tự giải thể. Do đó, trọng tài ad - hoc còn được gọi là
trọng tài vụ việc, trọng tài đặc biệt, trọng tài đặc nhiệm

5
Hình thức trọng tài này có đặc điểm là không có trụ sở cố định như trọng
tài thường trực, không lệ thuộc vào bất kỳ quy tắc xét xử nào. Trong các vụ
tranh chấp sử dụng trọng tài ad - hoc, thì các bên thường thống nhất có một
trọng tài viên.
Trọng tài ad - hoc có một số đặc điểm sau:
- Quyền lựa chọn trọng tài viên của các bên đương sự hoặc của người thứ
ba không bị giới hạn vào một danh sách có sẵn như ở hình thức trọng tài thường
trực.
- Các bên đương sự có toàn quyền trong việc xác lập quy chế tố tụng: về
tổ chức hội đồng trọng tài, quá trình tố tụng Nghĩa là các bên tranh chấp có thể
tự định đoạt các cách thiết lập hội đồng trọng tài và thủ tục giải quyết thích ứng
với tính chất từng vụ tranh chấp. Đương sự không bị ràng buộc bởi các quy định
pháp lý về tố tụng chừng nào đảm bảo được nguyên tắc xét xử khách quan trong
trường hợp của họ. Đặc điểm này giúp chúng ta phân biệt trọng tài ad - hoc với
trọng tài thường trực.

này là đủ, không cần mất công tạo lập ra các bộ quy tắc mới. Điều này rất thuận
lợi cho các nhà doanh nghiệp. Nếu họ không muốn có điều gì bất lợi cho mình
thì họ chọn trọng tài thường trực với bộ quy tắc có sẵn.
Các tổ chức trọng tài thường trực đều độc lập và không có quan hệ gì với
nhau trong việc giải quyết các tranh chấp kinh tế, không phụ thuộc vào nhau về
đều bình đẳng trước sự lựa chọn của các bên tranh chấp. Việc lựa chọn tổ chức
trọng tài cũng như trọng tài viên hoàn toàn phụ thuộc vào sự thoả thuận của các
bên tranh chấp.
Trọng tài thường trực thường được thành lập tại các tổ chức, các hiệp hội,
các phòng thương mại và công nghiệp ở các nước. Trong vòng 20 năm qua đã
diễn ra một "phong trào" thành lập các tổ chức trọng tài quốc tế. Khó có thể lập
được một cách đầy đủ các tổ chức trọng tài trên thế giới nhưng ít nhất cũng có
khoảng hơn 100 tổ chức trọng tài quốc tế. Tiêu biểu như: trọng tài La - Hay
thành lập năm 1907, toà trọng tài quốc tế của phòng thương mại quốc tế Paris
(ICC) thành lập năm 1919, toà trọng tài quốc tế London (LCIA) thành lập năm
1899, Hiệp hội trọng tài Hoa Kỳ (AAA) thành lập năm 1928. Trung tâm trọng

7
tài kinh tế Trung Quốc (CIETAC) thành lập năm 1954, Trung tâm trọng tài quốc
tế Hồng Kông (HKIAC) thành lập năm 1985
Toà án trọng tài quốc tế ICA của phòng thương mại quốc tế ICC lfa trọng
tài được biết đến nhiều nhất. ICA được thành lập năm 1923 tại Paris với mục
đích ban đầu là trợ giúp các nước Châu Âu là giảm tối đa có thể các tranh chấp
kinh tế thương mại để mau chóng ổn định kinh tế phục vụ công cuộc hàn gắn
sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Hiện nay, ICA là trọng tài chuyên trách
chuyên giải quyết các tranh chấp thương mại phát sinh trong hợp đồng giữa các
pháp nhân, thể nhân có quốc tịch khác nhau. ICA luôn đứng đầu thế giới về giải
quyết tranh chấp thương mại quốc tế bởi vì ICA có thể giải quyết các tranh
chấp trực tiếp bằng hầu hết các thứ tiếng trên thế giới nên tranh chấp được giải
quyết nhanh chóng kịp thời và giảm chi phí cho các bên tranh tụng.

thường trực và trọng tài ad - hoc. Trọng tài ad - hoc được công nhân trong một
số văn bản pháp luật như: Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật hàng
không dân dụng Việt Nam, pháp lệnh chuyển giao công nghệ, nghị định mua
bán li - xăng Hiện nay, ở Việt Nam cũng có một số trung tâm trọng tài (trọng
tài thường trực) hoạt động khá hiệu quả như trung tâm trọng tài quốc tế Việt
Nam, trung tâm trọng tài kinh tế Sài Gòn
2. KHÁI NIỆM TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI
2.1.Khái niệm hoạt động thương mại
2.1.1. Khái niệm quan hệ thương mại trong khoa học pháp lý quốc tế
Luật mẫu về trọng tài thương mại quốc tế năm 1985 của UNCITRAL quy
định, thuật ngữ "thương mại" được giải thích theo nghĩa rộng, liên quan tới tất
cả các mối quan hệ có bản chất thương mại dù là quan hệ hợp đồng hay không
phải là quan hệ hợp đồng.Theo đó, những mối quan hệ này bao gồm nhưng
không giới hạn bởi các giao dịch sau:
- Mọi giao dịch thương mại về cung cấp hay trao đổi hàng hoá, dịch vụ; Thoả
thuận về phân phối, đại diện và đại lý thương mại ; Kỹ thuật; Li - xăng; Đầu tư;
Tài chính; Ngân hàng; Bảo hiểm; Thoả thuận thăm dò, khai thác; Liên doanh
hoặc các hình thức hợp tác công nghiệp hoặc liên doanh khác; Vận chuyển hàng
hoá hay hành khách bằng đường không, đường biển, đường sắt hay đường bộ.

9
Qua đó có thể thấy, cách hiểu về quan hệ thương mại trong luật pháp quốc
tế là rất rộng. Nó không bị giới hạn bởi các giao dịch nêu trên mà chỉ bao gồm
các giao dịch này.
2.1.2. Khái niệm hoạt động thương mại theo pháp luật Việt Nam
Theo pháp luật hợp đồng kinh tế năm 1989
(1)
, Luật thương mại năm
1997
(2)

(3)
Khoản 2 Điều 3 Luật doanh nghiệp năm 1999

10
vụ, phân phối, đại diện, đại lý thương mại, ký gửi, thuê, cho thuê, thuê mua, xây
dựng, tư vấn, kỹ thuật, li – xăng, đầu tư, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, thăm
dò, khai thác, vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường hàng không, đường
biển, đường sắt, đường bộ và các hành vi thương mại khác theo quy định của
pháp luật.
2.2. Khái niệm tranh chấp thương mại
Theo quy định của pháp luật thương mại Việt Nam, "tranh chấp thương
mại là tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng
hợp đồng trong hoạt động thương mại" (điều 238). Như vậy, tranh chấp thương
mại là những xung đột, bất đồng của chủ thể tiến hành hoạt động thương mại
được thể hiện trên cơ sở các hợp đồng đã được xác lập giữa các bên. Tranh chấp
thương mại phát sinh có thể là do một bên nào đó hoặc các bên ký kết hợp đồng
không thực hiện đúng hợp đồng hay không thực hiện hợp đồng.
Trong điều kiện kinh tế thị trường như ở nước ta hiện nay, vấn đề giao lưu
thương mại với các nước khác trên thế giới đóng vai trò quan trọng và chiếm
một số lượng đáng kể trong hoạt động thương mại nói chung của Việt Nam. Do
đó, vấn đề phát sinh tranh chấp thương mại quốc tế cũng ngày một gia tăng.Ví
dụ tranh chấp trong hợp đồng mua bán máy thêu giữa Việt Nam và Hàn Quốc
năm 1997 hay tranh chấp giữa Việt Nam và Hồng Kông trong hợp đồng mua
bán gạo
Như vậy, phạm vi của những hoạt động thương mại và tranh chấp thương
mại là rất rộng. Trong xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá đa dạng và phức tạp
hiện nay, nhu cầu cần phải có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, một hành lang
pháp lý an toàn về vấn đề giải quyết tranh chấp thương mại ngày một lớn.
2.2.1. Khái niệm tranh chấp thương mại theo pháp lệnh trọng tài
thương mại 2003.

bằng trọng tài hữu hiệu hơn biện pháp hoà giải hay thương lượng. Hoà giải hay
thương lượng chỉ mang tính chất khuyến nghị chứ không có tính ràng buộc thực
hiện về mặt pháp lý đối với các bên tranh chấp. Còn quyết định trọng tài mang
hiệu lực pháp luật, các bên có nghĩa vụ phải thi hành.
Thứ ba, cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài linh hoạt hơn toà án.
Trong cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, các trọng tài viên được các

12
bên lựa chọn có quyền xét xử và ra các quyết định xét xử một cách hoàn toàn
độc lập trên cơ sở chứng cứ, tài liệu mà các bên cung cấp hoặc có được bằng
con đường khác như trọng tài viên tự điều tra xem xét hay giám định viên và
nhân chứng cung cấp trên cơ sở những quy định của pháp luật. Điều này khiến
cho người ta liên tưởng tới tố tụng toà án. Nhưng về bản chất quyền lực của
trọng tài và toà án khác hẳn nhau. Toà án đại diện cho quyền lực nhà nước còn
trọng tài đại diện cho ý chí của các bên đương sự. Do đó, trong tố tụng trọng tài,
các bên có quyền tự do lựa chọn trọng tài viên, lựa chọn cơ quan trọng tài giải
quyết khi có tranh chấp. Nhưng trong tố tụng toà án, các bên không có quyền
lựa chọn thẩm phán, không có quyền lựa chọn toà án xét xử cho mình.
Thứ tư, tố tụng trọng tài thường nhanh chóng hơn so với tố tụng toà án.
Đặc điểm của tố tụng trọng tài là chỉ xét xử một lần và phán quyết có giá trị
trung thẩm, chỉ trong một số trường hợp đặc biệt thì toà án mới xem xét lại
quyết định trọng tài. Đối với các tranh chấp thương mại thì sự nhanh gọn của
hình thức giải quyết này là một lý do các bên tranh chấp thường hay chọn trọng
tài để giải quyết tranh chấp.
Thứ năm, trọng tài hoạt động theo nguyên tắc xử kín tức là không cần
phải đưa các vấn đề tranh chấp, cơ sở của các quyết định trọng tài về vụ tranh
chấp vào quyết định trọng tài (Điều 44 pháp lệnh trọng tài thương mại
2003).Trọng tài không cần phải xét xử công khai như toà án nếu các bên yêu
cầu. Nhờ vậy mà có thể giữ được bí mật những chi tiết, số liệu, thông tin cụ thể
mà các bên tranh chấp không muốn công khai (liên quan đến bí mật công

Các bên tranh chấp bình đẳng với nhau trong việc bãi miện hoặc lựa chọn
trọng tài viên, trong việc lựa chọn địa điểm tiến hành tố tụng, trong việc đưa đơn
yêu cầu về đơn biện minh đối với yêu cầu của phía bên kia, cũng như mọi chứng
cứ tài liệu khác mà các bên cho là cần thiết để chứng minh yêu cầu hay bác đơn
yêu cầu của bên kia, trong việc nhận thông tin từ trọng tài và phía bên kia. Tất
cả thông tin tài liệu do một bên cung cấp cho trọng tài đều phải thông báo cho
phía bên kia. Mọi biện pháp, quyết định của trọng tài tiến hành trong quá trình
giải quyết tranh chấp đều phải đảm bảo sự bình đẳng giữa các bên tranh chấp.

14
3.2.3. Nguyên tắc độc lập của các trọng tài viên trong quá trình giải
quyết tranh chấp.
Trong quá trình giải quyết tranh chấp, không ai có quyền can thiệp vào
hoạt động của trọng tài viên. Một vụ tranh chấp gồm 3 trọng tài viên tiến hành
xét xử thì các trọng tài viên hoàn toàn bình đẳng với nhau, xét xử độc lập căn cứ
vào các điều khoản của hợp đồng và pháp luật hiện hành. Phán quyết của trọng
tài được thông qua theo nguyên tắc đa số. Trong trường hợp một trọng tài viên
không đồng ý với nội dung phán quyết - một phần hay toàn bộ thì trọng tài viên
này được quyền bảo lưu ý kiến của mình trong biên bản.
3.2.4. Nguyên tắc giữ bí mật trong giải quyết tranh chấp.
Trong giải quyết tranh chấp kinh tế bằng trọng tài thương mại, việc tiến
hành công khai hoặc bí mật đều do các bên lựa chọn. Các buổi họp xét xử của
trọng tài cơ sở thoả thuận của các bên có thể tiến hành trong phòng mà ở đó
ngoài trọng tài viên và các đương sự thì những người không có trách nhiệm hoặc
liên quan không có mặt. Trọng tài viên có trách nhiệm phải đảm bảo bí mật mọi
vấn đề liên quan. Quyết định của trọng tài chỉ được công bố công khai nếu các
bên đồng ý?
3.2.5. Quyết định của trọng tài có giá trị bắt buộc với các bên và không
thể bị kháng cáo.
Nguyên tắc này bắt nguồn từ bản chất của tố tụng trọng tài là nhân danh ý

tế. Hệ thống tổ chức gồm trọng tài kinh tế nhà nước, trọng tài kinh tế tỉnh, thành
phố; trọng tài kinh tế huyện, quận và cấp tương đương. Trọng tài kinh tế nhà
nước chịu sự lãnh đạo trực tiếp của hội đồng bộ trưởng, trọng tài kinh tế các cấp
chịu sự lãnh đạo của ủy ban nhân dân cùng cấp đồng thời chịu sự chỉ đạo giám
sát của trọng tài kinh tế cấp trên. Trọng tài kinh tế nhà nước ở cấp trung ương
gồm có chủ tịch, một hoặc hai phó chủ tịch và các trọng tài viên. Chủ tịch trọng

16
tài kinh tế nhà nước do chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng chính
phủ) bổ nhiệm và miễn nhiệm. Các phó chủ tịch và các trọng tài viên cũng do
Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng bổ nhiệm trên cơ sở được Chủ tịch trọng tài kinh
tế Nhà nước giới thiệu. Các cơ quan trọng tài kinh tế cấp dưới cũng có cơ cấu
tương tự như vậy. Trọng tài viên có nhiệm vụ giải quyết tranh chấp hợp đồng
kinh tế, xử lý vi phạm pháp luật hợp đồng kinh tế. Các bên tranh chấp hoàn toàn
không có vai trò gì trong việc chỉ định trọng tài viên để xét xử vụ việc bởi vì
việc đó thuộc quyền hạn của Chủ tịch trọng tài kinh tế có liên quan. Đây là điểm
khác biệt rất cơ bản của trọng tài nhà nước so với trọng tài phi chính phủ (các
bên tranh chấp có quyền tự do hoàn toàn định đoạt các vấn đề trọng tài trong đó
có quyền chỉ định trọng tài viên). Trọng tài nhà nước là các viên chức nhà nước
và họ hưởng lương của nhà nước. Còn đối với trọng tài phi chính phủ thì các
bên tranh chấp có nghĩa vụ phải trả thù lao cho hoạt động của các trọng tài viên.
Khi xét xử, các trọng tài viên của cơ quan trọng nhà nước hoạt động thay mặt
nhà nước chứ không phải chỉ với tư cách là người phân giải độc lập và chỉ tuân
theo pháp luật và yêu cầu của các bên. Chính vì vậy mà theo điều 10 của pháp
lệnh trọng tài kinh tế, tiêu chuẩn mà trọng tài viên cần có trước tiên là "phẩm
chất chính trị, liêm khiết công minh", rồi sau đó mới là "có kiến thức pháp lý và
quản lý kinh tế cần thiết". Với quy định như vậy, việc giải quyết tranh chấp khó
có thể công bằng và có hiệu quả.
Điều 2 pháp lệnh trọng tài kinh tế 10/1/1990 quy định nhiệm vụ và quyền
hạn của trọng tài kinh tế nhà nước như sau:

hút sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài đặc biệt là các nước phương tây
cũng làm đa dạng hoá các mối quan hệ thương mại.
Do những bất cập trong cơ chế của mình, cùng với những thay đổi của đời
sống kinh tế xã hội, hiện nay trọng tài kinh tế nhà nước không còn tồn tại nữa.
Sau khi trọng tài kinh tế nhà nước bị giải thể năm 1994, theo nghị định 116 - CP
của chính phủ, các trung tâm trọng tài kinh tế đã và sẽ được thành lập. Tổ chức
và hoạt động của trọng tài kinh tế do Điều lệ quyết định. Mặc dù mang tính chất
là các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các trung tâm trọng tài kinh tế vẫn chịu sự
quản lý trực tiếp của nhà nước về vấn đề xét đơn xin thành lập trung tâm, chỉ
định Hội đồng tuyển chọn trọng tài viên, cấp và thu hồi thẻ trọng tài viên Hiện

18
nay Việt Nam có một số trung tâm trọng tài kinh tế hoạt động, tiêu biểu như:
Trung tâm trọng tài kinh tế Bắc Giang (tỉnh Bắc Giang), Trung tâm trọng tài
kinh tế Hà Nội (Thành phố Hà Nội), trung tâm trọng tài kinh tế Thăng Long
(thành phố Hà Nội), Trung tâm trọng tài kinh tế Sài Gòn (thành phố Hồ Chí
Minh)
1.2. Trọng tài thương mại quốc tế.
1.2.1. Giai đoạn từ 1960 đến 1993.
Trong thời kỳ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, để có thể giải quyết các
tranh chấp phát sinh trong quan hệ kinh tế quốc tế, bên cạnh mô hình tổ chức
trọng tài kinh tế nhà nước còn có các tổ chức trọng tài giải quyết các tranh chấp
thương mại quốc tế.
Vào đầu năm 1960, thực tiễn khách quan đòi hỏi Việt Nam phải thành lập
các tổ chức trọng tài để giải quyết tranh chấp phát sinh trong quan hệ kinh tế
quốc tế, đặc biệt là trong quan hệ kinh tế quốc tế giữa Việt Nam với Liên Xô và
các nước xã hội chủ nghĩa khác. Tuy rằng tỷ trọng buôn bán với nước ngoài của
Việt Nam không lớn nhưng việc thành lập một tổ chức trọng tài mang tính chất
xã hội nghề nghiệp để giúp các doanh nghiệp trong và ngoài nước giải quyết
tranh chấp kinh tế là cần thiết. Do đó hai hội đồng trọng tài là hội đồng trọng tài

số bao gồm luôn cả hai yếu tố ngoại thương và hàng hải. Ngoại thương quốc tế
đa phần gắn với hàng hải quốc tế. Hai tổ chức này ở Việt Nam, xét về mặt tính
chất đều là những tổ chức xã hội - nghề nghiệp có trình tự tố tụng được quy định
giống nhau (chỉ khác nhau về đối tượng tranh chấp). Các quy tắc của cả hai Hội
đồng trọng tài này nhìn chung mới dừng lại ở tính nguyên tắc, chưa đầy đủ,
thiếu chi tiết.
Trước những đòi hỏi của tình hình mới, ngày 28/4/1993, Thủ tướng chính
phủ ra quyết định số 204/TTg cho phép thành lập Trung tâm trọng tài quốc tế
Việt Nam (VIAC) bên cạnh phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam trên cơ
sở hợp nhất hai Hội đồng trọng tài ngoại thương và Hội đồng trọng tài hàng hải.
Hoạt động của trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam được quy định trong văn
bản đi kèm theo quyết định 204/TTg.

20
Trong tài phi chính phủ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong hoạt
động kinh tế của nước ta do đó đặt ra nhu cầu thiết yếu xây dựng quy chế pháp
lý cho hoạt động của tổ chức này. Trước tình hình đó, Uỷ ban thường vụ Quốc
hội đã thông qua pháp lệnh số 08 năm 2003 về trọng tài thương mại Việt Nam.
Đây là văn bản pháp luật cao nhất về vấn đề này từ trước tới nay, tạo cơ sở
thuận lợi cho việc phát triển cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng
tài ở Việt Nam.
2. NHỮNG NÉT MỚI CỦA PHÁP LỆNH TRỌNG TÀI THƯƠNG
MẠI 2003 SO VỚI NGHỊ ĐỊNH 116/CP VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA TRỌNG TÀI
Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 (sau đây gọi là pháp lệnh 2003) đề
cập tới những vấn đề và quy định mà Luật tố tụng dân sự của Việt Nam chưa đề
cập tới. Sự bổ sung này khiến cho chế định trọng tài của Việt Nam trở nên khá
phù hợp với các quy định của quốc tế. Do đó pháp lệnh 2003 đóng một phần rất
quan trọng trong việc thúc đẩy các hoạt động thương mại của Việt Nam. Việc áp
dụng pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 khá độc lập so với luật tố tụng dân sự

cảnh mới sau này.
2.1.2. Vấn đề thoả thuận trọng tài
Trước đây, pháp luật Việt Nam quy định về thoả thuận trọng tài khá là gò
bó, không được thoáng và không tương đồng với các thông lệ quốc tế. Chẳng
hạn như vấn đề hình thức của văn bản thoả thuận. Theo như điều 1 pháp lệnh
hợp đồng kinh tế thì hợp đồng kinh tế phải được ký kết dưới hình thức văn bản.
Như vậy, nếu như điều khoản này bị vi phạm thì hợp đồng kinh tế sẽ vô hiệu.
Nghị định 116/CP cũng quy định thoả thuận trọng tài phải được đưa ra hình thức
văn bản (khoản 2 điều 3). Trong khi đó, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật
hiện đại, thương mại quốc tế cũng đã có những bước phát triển về hình thức giao
dịch để có thể tiết kiệm được thời gian. Vấn đề ký kết hợp đồng qua mạng
Internet, qua máy fax không còn là vấn đề mới mẻ và cũng khá phổ biến ở
Việt Nam. Chính vì vậy mà cần phải có sự thay đổi để phù hợp với hoàn cảnh
mới. Điều 9 khoản 1 pháp lệnh 2003 nêu: "Thoả thuận trọng tài phải được lập
bằng văn bản. Thoả thuận trọng tài thông qua thư, điện báo, telex, thư điện tử
hoặc hình thức văn bản khác thể hiện rõ ý chí của các bên giải quyết vụ tranh

22
chấp trọng tài được là thoả thuận trọng tài bằng văn bản". Như vậy hình thức
thoả thuận trọng tài khá là đa dạng.
Một trong những nét tiến bộ hơn hẳn của pháp lệnh 2003 so với nghị định
116/CP đó là vấn đề tính độc lập của thoả thuận trọng tài với hợp đồng. Nhiều ý
kiến cho rằng thoả thuận trọng tài là một phần của hợp đồng. Do đó, khi hợp
đồng vô hiệu hoàn toàn thì thoả thuận trọng tài cũng sẽ vô hiệu. Như vậy nếu
như có một bên cố tình làm vô hiệu hoàn toàn hợp đồng thì một cách hợp pháp
họ có thể tránh được việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Điều này làm
giảm vai trò của trọng tài trọng thực tiễn giải quyết những tranh chấp giữa các
bên. Tuy nhiên, đến pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 thì quan điểm đã được
bày tỏ rõ ràng: "Thoả thuận trọng tài có thể là điều khoản trọng tài trong hợp
đồng hoặc là một thoả thuận riêng" (điều 9 khoản 2).Điều đó có nghĩa là điều

pháp lệnh này, những tiêu chuẩn của trọng tài viên đã được nâng cao hơn. Việc
quy định như vậy càng đảm bảo tính đúng đắn của quyết định trọng tài. Vì
trọng tài càng là người có kiến thức tốt, có nhiều kinh nghiệm thì sẽ càng có lợi
cho việc giải quyết các vụ tranh chấp giữa các bên.
2.1.4. Vấn đề sử dụng ngôn ngữ trong quá trình tố tụng trọng tài.
Theo quy định tại khoản 1 điều 24 của nghị định 116/CP thì: Tiếng nói,
chữ viết dùng trong quá trình giải quyết tranh chấp là tiếng Việt. Như vậy, ngôn
ngữ sử dụng trong quá trình giải quyết tranh chấp được pháp luật ấn định và các
bên không có quyền thoả thuận. Nếu trong vụ tranh chấp có yếu tố nước ngoài
mà các bên đương sự chọn giải quyết bằng trọng tài Việt Nam thì vẫn phải sử
dụng tiếng Việt và thuê phiên dịch tiếng nước ngoài. Điều này gây rất nhiều cản
trở cho việc giải quyết các tranh chấp. Bởi vì trong thời đại ngày nay, hoạt động
thương mại không chỉ thu hẹp trong nội bộ quốc gia mà các doanh nghiệp nước
ngoài cũng thường xuyên tìm đến Việt Nam, các doanh nghiệp Việt Nam cũng
muốn mở rộng hoạt động của mình ra nước ngoài. Tuy nhiên, pháp lệnh 2003 đã
có những phát triển phù hợp với hoàn cảnh mới bằng việc quy định cho phép sử
dụng tiếng nước ngoài trong quá trình giải quyết tranh chấp thương mại trọng tài
(điều 49). Điều này làm tăng tính hấp dẫn của cơ chế giải quyết tranh chấp
thương mại bằng trọng tài ở Việt Nam. Nhưng nó cũng đặt ra một thách thức đối

24
với các trung tâm trọng tài Việt Nam về việc phải đổi mới và bổ sung hơn nữa
về mặt sử dụng ngôn ngữ, chủ yếu là các ngôn ngữ thông dụng.
2.1.5. Nguyên tắc áp dụng luật để giải quyết vụ tranh chấp.
Đối với vụ tranh chấp giữa các bên Việt Nam, Hội đồng trọng tài áp dụng
pháp luật của Việt nam để giải quyết tranh chấp. Đối với vụ tranh chấp có yếu tố
nước ngoài Hội đồng trọng tài áp dụng pháp luật do các bên lựa chọn. Việc lựa
chọn pháp luật nước ngoài và việc áp dụng pháp luật nước ngoài không được
trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam trong trường hợp các bên
không lựa chọn được pháp luật để giải quyết vụ tranh chấp thì Hội đồng trọng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status