BÀI TIỂU LUẬN Môn TIỀN TỆ NGÂN HÀNG Đề tài LỊCH SỬ TIỀN TỆ - Pdf 26

LỚP ĐH23NH13
NHÓM 11
BÀI TIỂU LUẬN
Môn: TIỀN TỆ NGÂN HÀNG
Đề tài: LỊCH SỬ TIỀN TỆ
I. Lịch sử hình thành và các hình thái tiền tệ:
1. Sự ra đời và phát triển của tiền tệ
Sự ra đời của tiền tệ là một quá trình phát triển xuất phát từ sự phát triển không
ngừng các hoạt động kinh tế dưới những hình thức khác nhau của sản xuất và trao đổi sản
phẩm. Việc trao đổi sản phẩm xuất hiện ngay trong lòng xã hội cộng đồng nguyên thủy,
vào giai đoạn cuối của chế độ cộng xã nguyên thủy.
Khi cuộc phân công lao động xã hội lớn lần thứ nhất xuất hiện, chăn nuôi tách
khỏi trồng trọt, trình độ sản xuất phát triển, số lượng và chủng loại sản phẩm ngày càng
nhiều hơn, tạo ra khả năng trao đổi ngày càng lớn hơn. Đi đôi với việc cải tiến công cụ
lao động và sự phát triển của 2 nghành trồng trọt và chăn nuôi, sản xuất cá nhân thay cho
sản xuất cộng đồng, chế độ sở hữu tư nhân ra đời dần dần thay thế chế độ sở hữu công xã
về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động. Đến giai đoạn này trao đổi không còn mang
tính ngẫu nhiên và cá biệt nữa mà có tính chất thường xuyên hơn, phức tạp hơn và mang
tính quy luật hơn.
Hình thức trao đổi ban đầu là trao đổi trực tiếp: hàng- hàng (H-H’). Giá trị của
hàng hoá H không thể trực tiếp biểu hiện mà phải biểu hiện thông qua hàng hoá H’, H’ sẽ
lấy một số lượng (giá trị sử dụng) nhất định của bản thân nó để phản ánh giá trị của hàng
hoá H. Trong công thức này, hàng hoá H được biểu hiện giá trị bằng giá trị sử dụng bằng
giá trị sử dụng của hàng hoá khác nên mang hình thái giá trị tương đối và hàng hoá H’
dùng giá trị sử dụng của nó để biểu hiện giá trị sử dụng của hàng hoá khác nên mang hình
thái ngang giá như quả cân để đo trọng lượng, cây thước để đo chiều dài. Quan hệ trao
đổi sơ khai này đã đánh dấu một tiến lớn khi xã hội công xã thoát khỏi tình trạng tự cung-
tự cấp.
Điều kiện xảy ra trao đổi là phải có sự phù hợp về nhu cầu giữa những người
tham gia trao đổi: phù hợp về thời gian, địa điểm, phù hợp về giá trị sử dụng của sản
phẩm trao đổi nên khả năng thực hiện các quan hệ này rất hạn chế.

+ Loại tiền ấy phải có những giá trị thực tế.
+ Phải dễ sử dụng trong tự nhiên.
+ Dễ vận chuyển và không quá cồng kềnh.
+ Có thể chia nhỏ đến bao nhiêu cũng được để phục vụ cho những giao dịch nhỏ.
+ Tồn tại lâu dài và không hư hại.
Với những tiêu chuẩn như vậy, rất nhiều loại hàng hoá trước đây là tiền giờ đã không còn
thích hợp nữa. Nhìn chung, hoá tệ có rất nhiều bất tiện: chỉ được địa phương này công
nhận không lưu thông được ở địa phương khác; mau hư hỏng, khó phân chia thành những
đơn vị nhỏ hay lớn hơn.
Vì những thuộc tính tự nhiên củ nó phù hợp nhất với việc phát huy tác dụng xã hội của
tiền tệ, nên trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, nhiều thử thách thực tế, các hàng hoá khác
dần dần bị đào thải, kim loại dần dần được chọn làm tiền tệ, thay cho các hàng hoá thông
thường khác (kim tệ).
Bước quá độ từ các hàng hóa chuyển sang kim loại làm tiền tệ bắt đầu từ cuộc
phân công lao động xã hội lớn lần thứ 2 được thực hiện, thủ công nghiệp tách khỏi nông
nghiệp. Đầu tiên kim loại được sử dụng làm phương tiện trao đổi dưới dạng thỏi, sau đó
nó được đúc dưới dạng” tiền đúc” và được đưa vào sử dụng từ rất sớm như ở vùng Tiểu
Á và Hy Lạp vào thế kỷ VII trước công nguyên, ở Trung Quốc vào cuối thế kỉ IV trước
công nguyên, ở Châu Âu vào thế kỉ thứ nhất trước công nguyên…Ban đầu các kim loại
sắt kẽm, thiếc, đồng được sử dụng để đúc tiền. Kim loại, nhất là đồng, đã được sử dụng
làm tiền ở hầu hết các quốc gia trên thế giới trong một giai đoạn lịch sử rất dài. Thực thế,
có lẽ đồng đã được sử dụng sớm nhất do các đồ đồng có niên đại khoảng năm 8.700 trước
Chúa giáng sinh đã được tìm thấy nhiều nơi. Đồng cũng đã được ghi chép trong các tư
liệu của một số nền văn minh cổ đại và nó có lịch sử sử dụng ít nhất là 10.000 năm trước
công nguyên. Hoa tai bằng đồng đã được các nhà khảo cổ tìm thấy ở miền Bắc Iraq, có
niên đại 8.700 năm trước công nguyên. Trong khi vàng, các dấu hiệu sớm nhất của việc
sử dụng, chỉ vào khoảng 4.000 năm trước công nguyên mà thôi. Người ta còn tìm thấy đồ
vật bằng đồng và đồng thau ở các thành phố người Sumériens, ở thung-lũng sông
Euphrate, có niên-đại 3.000 năm trước công-nguyên và các đồ vật cổ đại của người Ai
cập bằng đồng và hợp kim của đồng với thiếc, cũng có niên đại tương tự. Trong một kim

định lượng, và đánh giá chất lượng kim loại.
Mặc dù tiền xu được đúc theo được đúc theo dấu hiệu riêng của từng quốc gia làm
bằng chứng bảo đảm về nội dung và chất lượng kim loại, nhưng trong thực tế các quốc
gia thường đúc những đồng xu hỗn hợp kim loại có giá trị thấp hơn. Các quốc gia ngày
càng thường xuyên giảm tỷ trọng của vàng (hay bạc) trong các đồng xu làm cho các
đồng xu mất giá trị dần trong lưu thông.
Kinh tế và các vấn đề xã hội khác càng phát triển, các câu hỏi và yêu cầu đặt ra
càng cao hơn, người ta bắt đầu tìm kiếm những phương tiện tiện lợi hơn để dùng làm
tiền. Thêm nữa, xã hội ngày càng trở nên thiếu tài nguyên do dân số trở nên đông đúc
hơn,và vì mọi nguồn lực không phải là vô hạn, sự tiết kiệm các dạng như kim loại là rất
cần thiết. Đó là 1 trong số những lí do giúp tiền giấy ra đời và phát triển nhanh chóng từ
cuối những năm 1600 cho đến tận bây giờ.
Có thể phân biệt 3 giai đoạn lớn trong lịch sử của đồng tiền kim loại:
+ Giai đoạn chiếm ưu thế của vàng, trong đó kim loại này loại trừ tất cả các đối
thủ cạnh tranh khác, nhất là bạc. Giai đoạn này kết thúc vào chiến tranh thế giới thứ nhất.
+Giai đoạn suy giảm vai trò của vàng với tư cách là đồng tiền có giá trị nội tại
là giữa hai thế chiến
3
+Giai đoạn suy giảm vai trò của vàng với tư cách là đồng tiền quốc tế, giai
đoạn này bắt đầu từ 1945 và vẫn đang tiếp tục.
Tiếp theo là sự xuất hiện giấy bạc ngân hàng (tiền giấy). Đầu tiên giai đoạn của
tiền giấy khả hoán, nghĩa là tiền giấy có thể đổi ra vàng và bạc bất cứ lúc nào. Tiền giấy
khả hoán tồn tại từ thế kỉ 17, được củng cố bởi học thuyết của David Ricardo, kéo dài cho
đến tận những năm 30 của thế kỉ 20. Với chế độ tiền giấy khả hoán, thế giới từ bỏ thời kì
hoá tệ chuyển sang thời kì tiền- kí hiệu. Đặc trưng cơ bản của thời kì tiền kí hiệu là tiền tệ
không có giá trị nội tại, giá trị của nó nằm trong số vàng nó đại diện, uy tín của ngân
hàng phát hành ra nó. Sau này, để kiểm soát việc phát hành tiền giấy, Nhà nước dần dần
trao cho một ngân hàng duy nhất việc phát hành tiền giấy. Ngân hàng có đặc quyền phát
hành tiền giấy trở thành ngân hàng trung ương. Do đó, ngày nay tiền giấy còn được gọi là
tiền trung ương.

bất khả hoán phổ biến cho đến ngày nay là do:
+ Hậu quả của chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918), các nước tham chiến
đã dùng vàng để mua sắ vũ khí, làm cho dự trữ vàng trở nên cạn kiệt, không còn đủ lực
lượng vàng để đổi cho công chúng
4
+ Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929-1933) làm cho hàng ngàn ngân hàng
bị phá sản và hàng loạt các ngân hàng rơi vào thế khủng hoảng, dẫn đến tâm lý lo sợ của
công chúng, làn sóng đổi tiền giấy lấy vàng của công chúng dâng lên ào ạt, khiến các
ngân hàng bế tắc không có đủ vàng để đáp ứng yêu cầu chuyển đổi của công chúng.
Trước tình hình đó các ngân hàng các nước lần lượt tuyên bố ngừng chuyển đổi tiền giấy
lấy vàng và tiền giấy trở thành tiền giấy bất khả hoán…
Như vậy, chính sự phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hoá đã dẫn tới sự xuất hiện của
tiền tệ, và cũng chính sự phát triển hàng hoá cùngvới sự can thiệp của Nhà nứơc, đã đã
dẫn tới sự thay thế phương tiện trao đổi này bằng phương tiện trao đổi khác. Do đó,không
thể có một hàng hoá nào độc chiếm vai trò tiền tệ trong suốt quá trinh phát triển và trao
đổi hàng hoá.
2. Các hình thái tiền tệ:
2.1. Căn cứ vào giá trị của tiền tệ:
Căn cứ vào giá trị của tiền tệ, có thể chia hình thái tiền tệ thành 2 loại: Tiền thực
và dấu hiệu giá trị.
Tiền thực (hoá tệ) là hình thái tiền tệ, có đầy đủ giá trị nội tại, lưu thông được là
nhờ vào giá trị của chính bản thân.
Với loại hình thái tiền tệ này, giá trị trao đổi của tiền tệ phụ thuộc vào giá trị nội tại của
chính bản thân nó, không phụ thuộc vào luật định hay sự quy ước của xã hội. Điển hình
của loại hình thái tiền tệ này là tiền vàng và tiền bạc. Như vậy, nếu chi phí khai thác vàng
và bạc, chi phí đúc tiền vàng và bạc thay đổi thì giá trị nội tại của vàng và bạc thay đổi,
do đó giá trị của nó cũng thay đổi theo. Ngược lại, nếu giá trị nội tại của vàng không thay
đổi thì giá trị trao đổi của nó sẽ ổn định.
Dấu hiệu giá trị (tín tệ) là hình thái tiền tệ lưu thông được không phải nhờ giá trị
của bản thân, mà là sự tín nhiệm , sự quy ước của xã hội, của luật định đối với bản thân

điện tử và tin học cũng như sự ứng dụng của chúng trong công nghệ ngân hàng, hứa hẹn
một hệ thống than toán hiệu quả trong đó việc sử dụng công cụ điện tư trở nên phổ biến.
Hiện nay,ở những nước có nền kinh tế thị trường phát triển, trình độ công nghệ ngân hàng
hiện đại, đổng tiển ghi sổ chiếm từ 90%-95% trong tổng số lượng tiền cung ứng .
Như vậy, sự phát triển của tiền ghi sổ đã làm cho tiền tệ nói chung trở nên mềm dẻo và đa
dạng hơn vì nó có thể tồn tại dưới dạng hơn vì nó có thể tồn tại dưới dạng phi vật chất.
Tuy nhiên cũng lưu ý rằng việc sử dụng tiền ghi sổ cũng không phải là không có những
hạn chế, như: cần phải có thời gian để chuyển séc, thời gian cần thiết để có thể sử dụng
số dư trên tài khoản, chi phí dàng cho việc xử lý các chứng từ thanh toán… Do đó, sự
phát triển của hệ thống ngân hàng, sự phát triển của công nghệ thanh toán qua ngân hàng
là rất cần thiết và quan trọng.
II. Chế độ tiền tệ thế giới:
1. Chế độ song bản vị:
1.1. Khái niệm: là chế độ tiền tệ trong đó cũng một lúc có hai thứ kim loại
(vàng, bạc) đóng vai trò làm vật ngang giá chung và là cơ sở của toàn bộ chế độ lưu
thông tiền tệ của một nước. Bắt đầu xuất hiện ở Châu Âu vào khoảng thể kỷ 16 và kết
thúc vào khoảng cuối thế kỷ 19.
1.2. Đặc điểm, hình thức:
+ Chế độ song bản vị bao gồm hai hình thức:
- Chế độ bản vị song song: tiền đúc bằng vàng và tiền đúc bằng bạc được lưu thông tự do
theo giá thị trường.
- Chế độ bản vị kép: tiền đúc bằng vàng và tiền đúc bằng bạc được lưu thông theo tỷ giá
bắt buộc do Nhà nước quy định (tỷ giá pháp định).
+ Đặc điểm:
- Mọi người được tự do đúc tiền vàng và tiền bạc.
- Tiền vàng và tiền bạc được tự do lưu thông trong phạm vi quốc gia và giữa các quốc gia
với nhau.
1.3. Ưu – nhược điểm của chế độ song bản vị:
+ Ưu điểm:
- Thúc đẩy thương mại quốc tế diễn ra nhanh chóng.

năm 1870 Đức cũng chuyển từ song bản vị sang bản vị vàng.
Đến cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX để phù hợp với sự phát triển nhanh chóng của
thời đại công nghiệp hóa, hầu hết các nước tư bản châu Âu và Bắc Mỹ cũng đã chuyển
sang chế độ bản vị vàng. Trong khi trên một phần lớn diện tích thế giới ở cả ba châu lục:
Á, Phi, Mỹ Latinh, các nước chậm phát triển vẫn duy trì chế độ bản vị bạc.
Ở Việt Nam, mãi đến năm 1931, Ngân hàng Đông Dương mới chuyển sang chế
độ bản vị vàng nhưng là chế độ bản vị vàng cắt xén.
2.3.2. Đặc điểm:
Chế độ bản vị vàng cổ điển có 3 đặc điểm cơ bản sau đây:
- Mọi người được tự do đúc tiền vàng theo tiêu chuẩn giá cả do Nhà nước quy
định.
- Tiền giấy được tự do đổi lấy vàng theo giá trị ghi trên giấy, từ đó hình thành tỷ
giá hối đoái giữa các quốc gia. Ví dụ, trước chiến tranh thế giới 1USD có thể
đổi được gần 1/20 lượng vàng, 1GBPcó thể đổi được gần 1/4 lượng vàng, nên
tỷ giá hối đoái giữa GBP và USD là gần 5 đôla.
- Vàng được tự do luân chuyển giữa các nước, nghĩa là vàng vừa là tiền tệ quốc
gia, vừa là tiền tệ quốc tế.
Với những đặc trưng trên, chế độ bản vị vàng cổ điển có tác dụng tích cực đối với
sự phát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa:
- Thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của nền sản xuất TBCN
- Góp phần thúc đẩy sự phát triển của hệ thống tín dụng TBCN
- Tạo điều kiện phát triển ngoại thương
7
Tuy nhiên, chế độ bản vị vàng cũng có những hạn chế của nó như:
- Chính phủ các nước không còn kiểm soát được chính sách tiền tệ của mình vì
lượng cung ứng tiền tệ của nước đó được xác định bởi các luồng vàng được di
chuyển giữa các nước.
- Chính sách tiền tệ trên toàn thế giới bị chi phối rất lớn bởi việc sản xuất vàng
và việc phát hiện các mỏ vàng. Khi lượng vàng đủ cho lưu thông thì nền kinh
tế phát triển tốt, không có lạm phát. Nhưng nếu lượng vàng cung ứng không

quốc gia Bắc Âu khác cũng lần lượt khôi phục lại chế độ bản vị vàng.
Tuy nhiên, hầu hết các nước lúc bấy giờ không còn đủ vàng để chế độ bản vị vàng
theo kiểu cổ điển mà phải thực hiện chế độ bản vị vàng mới, không trọn vẹn hay còn gọi
là chế độ bản vị vàng bị cắt xén. Chế độ bản vị vàng mới bao gồm chế độ bản vị vàng
thoi và chế độ bản vị hối đoái vàng.
Những nước có dự trữ vàng lớn có khả năng chuyển đổi trực tiếp tiền lấy vàng thì
thực hiện chế độ bản vị vàng thoi như Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Nga… điển hình là Anh.
Ngân hàng Anh không đúc những đồng GBP bằng vàng nặng 7,31gr nữa mà chỉ đúc
8
những thoi vàng lớn nặng 400 ounce. Người Anh nào muốn giữ vàng phải đem 1.700
GBP đến Ngân hàng Anh để đổi.
Những nước có lượng dữ trữ vàng hạn chế thì thực hiện chế độ bản vị hối đoái
vàng, tức là chuyển đổi gián tiếp lấy vàng thoi thông qua quan hệ hối đoái với đồng GBP.
Các nước muốn có vàng thoi phải bán hàng cho Anh đổi lấy GBP bằng giấy hoặc GBP
trong tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Anh, rồi từ đó sẽ chuyển đổi ra vàng thoi. Ngân
hàng Anh trở thành trung tâm tài chính, tiền tệ, tín dụng và thanh toán quốc tế của toàn
thế giới, London trở thành thị trường vàng và ngoại hối lớn nhất thế giới.
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 làm cho hàng ngàn ngân hàng bị
phá sản và hàng loạt ngân hàng rơi vào thế khủng hoảng, dẫn tới tâm lý lo sợ của công
chúng, làn sóng đổi tiền giấy lấy vàng dâng lên ào ạt khiến các ngân hàng không còn đủ
vàng để đáp ứng nhu cầu chuyển đổi. Những nước giữ nhiều GBP (đứng đầu là Pháp) đã
dùng GBP để săn vàng của Anh làm cho dự trữ vàng của Anh cạn dần. Đến ngày
21/09/1931, Ngân hàng Anh phải đình chỉ đổi tiền giấy lấy vàng, tuyên bố chấm dứt chế
độ bản vị vàng thoi. Không săn được vàng của Anh, các nước chuyển sang săn vàng của
Mỹ. Chỉ trong một thời gian ngắn, Mỹ mất luôn 20% dự trữ vàng, Mỹ phải tuyên bố
chấm dứt chế độ bản vị vàng vào năm 1933. Và các quốc gia khác cũng lần lượt buộc
phải từ bỏ nó trong thời gian Đại khủng hoảng như ở Thụy Điển năm 1929, ở Bỉ vào
tháng 3/1935, ở Pháp, Hà Lan, Thụy Sĩ vào tháng 10/1936…
Ngay từ khi ra đời, chế độ bản vị vàng mới đã bộc lộ tính chất không ổn định nên
khi cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 bùng nổ đã thật sự phá sập hệ thống

Chế độ ngoại tệ bản vị bao gồm những hình thức chủ yếu sau:
3.2.1. Chế độ tiền tệ theo khu vực: giai đoạn này, các nước đều
phá giá tiền tệ của họ để canh tranh xuất khẩu và giành giật thị trường tiêu thụ hàng hoá.
Để có thể đứng vững trong cạnh tranh, các nước đã tự tập họp thành các khu vực tiền tệ.
mỗi khu vực do một nuớc lớn cầm đầu đối địch với các nước khác.
+ Đặc điểm:
- Phần lớn dự trữ ngoại hối của các nước thành viên được tập trung vào ngân hàng
của các nước cầm đầu.
- Quan hệ tiền tệ giữa tiền tệ của các nước cầm đầu khu vực tiền tệ với tiền tệ của
các nước thành viên được thực hiện theo một tỷ giá hối đoái nhất định.
- Phần lớn thanh toán quốc tế của các nước trong khu vực tiền tệ được thực hiện
bằng tiền tệ của nước cầm đầu khu vực tiền tệ.
* Chế độ tiền tệ theo khu vực hình thành và phát triển từ năm 1933 và kết thúc
vào năm 1939 do cuộc đại chiến tranh thế giới thứ II làm cho tình hình kinh tế chính trị
và tài chính của các nước ngày càng xấu đi, phong trào giải phóng dân tộc dâng cao đã
làm tan rã khối thuộc địa, do đó kéo theo sự sụp đổ của các khu vực tiền tệ.
3.2.2. Chế độ bản vị Đô-la Mỹ (1945-1973):
+ Hoàn cảnh ra đời: trong khi cả thế giới bị đổ nát, kiệt quệ và thiếu thốn do
cuộc đại chiến II thì Mỹ lại là nước duy nhất không bị chiến tranh tàn phá, mà ngược lại
đã trở nên giàu có vượt bậc. Tháng 7/1944, Mỹ triệu tập hội nghị tài chính tiền tệ quốc tế
ở Bretton-woods với sự tham gia của 44 nước trên thế giới. Mục đích của hội nghị: triển
khai hệ thống tiền tệ quốc tế mới, thúc đẩy thương mại quốc tế và sự phồn vinh sau chiến
tranh. Hội nghị đã đi tới thoả thuận và ký kết một hiệp định mang tên hệ thống Bretton
Woods với 3 nội dung chủ yếu:
Khu vực tiền tệ Các quốc gia sử dụng
Khu vực bảng Anh
Anh và các nước thuộc địa, nửa thuộc địa, các
nước có mối quan hệ mật thiết với Anh về
thương mại, tài chính như: Ai Cập, I Rắc,
Thái Lan, Bồ Đào Nha, Đan Mạch…

quốc tế.
- Dự trữ ngoại tệ có thể đem lại những khoản thu nhập nhất định trong khi dự trữ vàng
không được hưởng thu nhập.
+Nhược điểm: Chế độ bản vị Đô-la đã tạo cho Mỹ độc quyền phát hành giấy bạc.
Dựa vào đặc quyền này, Mỹ đã lợi dụng phát hành Đô-la giấy để chi tiêu cho quyền lợi
riêng của bản thân và để chạy đua vũ trang. Bằng tiền giấy, Mỹ đã đầu tư ra nước ngoài
hàng trăm tỷ Đô-la, do đó nạn lạm phát Đô-la giấy ngày càng trầm trọng, dẫn tới bùng nổ
những cơn sốt vàng làm cho dự trữ vàng của Mỹ bị giảm sút ở mức nghiêm trọng. Dẫn
tới một loạt các hệ quả nghiêm trọng.
Đến tháng 3/1968: Mỹ phải tuyên bố chế độ hai giá vàng. Tháng 8/1971: Mỹ tuyên bố
đình chỉ đổi Đô-la ra vàng cho mọi đối tượng và phá giá Đô-la 7,89%. Tháng 2/1972: phá
giá Đô-la 10%. Tháng 3/1972: thả nổi Đô-la, thả nổi giá vàng. Đến đây, sau hơn 25 năm
tồn tại và phát triển, chế độ bản vị Đô-la đã thực sự sụp đổ hoàn toàn.
3.2.3. Chế độ tiền tệ tập thể:
a) SDR (Special Drawing Right):
Tháng 1/1970, IMF đã phát hành SDR (được gọi là “Quyền rút vốn đặc biệt” )
nhằm thiết lập chế độ tiền tệ quốc tế lấy đồng tiền tập thể thay cho vàng. Với SDR cho
phép quốc gia sở hữu có được quyền ưu tiên trao đổi trong nội bộ IMF để lấy ngoại tệ
mạnh.
Thực chất của SDR là đồng tiền ghi sổ, đại biểu của một “rổ tiền tệ” gồm các
đồng tiền mạnh. SDR được phân bổ cho các nước thành viên của IMF dùng để trao đổi
giao dịch với nhau hoặc với IMF. Các nước có thể sử dụng SDR cũng như vàng và các
ngoại tệ trong quan hệ thanh toán quốc tế.
b) ECU (European Currency Unit), EURO
Năm 1957, Cộng Đồng Kinh Tế Châu Âu (European Economic Community-
EEC) được thành lập theo hiệp ước Rome. Đến năm 1979, thiết lập Hệ Thống Tiền Tệ
11
Châu Âu - EMS. Vào những năm 1986-1987, EEC bắt đầu phát hành trái phiếu, dưới
hình thức một loại tiền của Châu Âu, được gọi là ECU
ECU là đồng tiền ghi sổ, được thiết lập theo tỷ trọng các đồng tiền thành viên của

1.4. Thời Lê, Mạc: trải qua giai đoạn bị nhà Minh đô hộ, khi Lê Thái Tổ
lật đổ ách thống trị của nhà Minh và lên ngôi vua, tiền đồng trong nước không còn, ông
cho đúc tiền đồng Thuận thiên thông bảo và quy định 1 tiền bằng 50 đồng. Triều vua Lê
Thái Tông đúc tiền đồng hiệu Thiệu bình và quy định 1 tiền bằng 60 đồng. Năm 1528,
Mạc Đăng Dung cho đúc tiền kẽm và cả tiền sắt, đến năm 1658, tiền kẽm và tiền sắt bị
cấm sử dụng. Dưới triều vua Lê Hiển Tông (niên hiệu Cảnh Hưng), do những cuộc nội
chiến liên miên tốn kém chi phí nên nhà vua cho mở rất nhiều sở đúc tiền để đúc tiền
kẽm. Năm 1726 (Cảnh Hưng thứ 37), tiền đồng niên hiệu Cảnh Hưng thuận bảo lại được
đúc từ binh khí và đại bác bằng đồng không sử dụng nữa.
12
1.5. Thời Nguyễn: Sau khi lên ngôi, vua Gia Long cho mở các sở đúc tiền
ở Bắc thành, Gia Định để đúc tiền đồng Gia Long thông bảo. Các triều vua sau của nhà
Nguyễn tiếp tục đúc tiền đồng và có lúc đúc cả tiền kẽm. Để trao đổi mua bán những tài
sản lớn, phải sử dụng khối lượng tiền đồng, tiền kẽm không tiện, năm Gia Long thứ 11
(1812) bắt đầu đúc bạc đĩnh 1 lạng (1 lạng bạc = 2 quan 8 tiền), đĩnh bạc 10 lạng ( trên có
khắc niên hiệu, năm đúc, nơi đúc) và các đĩnh vàng, sử dụng song song với tiền đồng.
Vàng được định giá gấp 17 lần bạc và mỗi lạng bạc giá 2 quan 3 tiền đồng.
2. Thời kì Pháp thuộc:
Từ 1858 đến 1875 khi chưa có Ngân hàng Đông Dương (NHĐD) thì trên đất Việt
sử dụng đồng thời nhiều loại tiền khác nhau: Tiền Frăng của Pháp, tiền Mêxicô, tiền
“Liên hiệp Pháp”, tiền Trung Quốc Tiền tệ do chính quyền trong giai đoạn này lấy bạc
làm bản vị nhưng những đồng tiền của các triều vua nhà Nguyễn vẫn được lưu hành chủ
yếu ở các vùng nông thôn mặc dù bất hợp pháp. Tiền đúc lúc đầu có đồng bạc Mexico
nặng 27 gam 073 (độ tinh khiết 902 phần nghìn), sau đó là đồng bạc Đông Dương được
đúc ở Pháp nặng 27 gam (độ tinh khiết 900 phần nghìn).
Từ 1875 khi NHĐD thành lập thì dân ta sử dụng tiền Đông Dương mang bản vị
bạc. Tiền giấy thời kỳ này được Ngân hàng Đông Dương phát hành và có thể đem đến
ngân hàng đổi thành bạc,1 đồng bạc Đông Dương = 24,4935 gram bạc nguyên chất, năm
1895, con số này giảm xuống còn 24,3. Giấy bạc Đông Dương đã được lưu hành đầu tiên
ở Việt Nam, từ Nam kỳ lục tỉnh. Sau khi chiếm xong Nam kỳ lục tỉnh, Tổng thống Pháp

tranh, tỷ giá với đồng franc Pháp lại được khôi phục. Tuy nhiên, tháng 12 năm 1945, để
tránh sự mất giá của đồng franc, tỷ giá hối đoái đã bị thay đổi thành 1 đồng = 17 franc.
Từ 1936 đến 1954 chế độ bản vị vàng bị sụp đổ và đồng Đông Dương neo giá trị vào
đồng Franc của Pháp - có thể gọi là bản vị Franc Pháp.
Tiền Đông Dương có các đơn vị đếm là piastre, cent và sapèque. Một piastre bằng
100 cent. Một cent lại bằng 5 sapèque. Mặt trước của các tờ tiền giấy hoặc tiền kim loại
ghi bằng tiếng Pháp. Mặt sau ghi bằng chữ Hán, chữ quốc ngữ, chữ Lào và chữ Khmer,
song cũng có lúc ghi chỉ chữ Pháp. Piastre phiên sang chữ quốc ngữ thành đồng, hoặc
đồng bạc hay thậm chí ngắn gọn là bạc (khi tiền Đông Dương còn theo chế độ bản vị bạc
cho đến trước tháng 5/1930), hoặc đồng vàng (khi tiền Đông Dương theo chế độ bản vị
vàng từ tháng 5/1930). Cent khi phiên sang chữ quốc ngữ thành xu. Người Việt Nam còn
có thói quen gọi các tiền mệnh giá hàng chục xu trở lên là cắc. Về sau, người Pháp viết
chính thức bằng chữ quốc ngữ là hào.
3. Thời kỳ từ CMT8/1945 đến nay
3.1.Thời kỳ kháng chiến chống xâm lược Pháp 1945 - 1954:
Sau Cách mạng Tháng Tám-1945, Nhà nước Việt Nam non trẻ ra đời. Ngay sau
những ngày trứng nước đó, đất nước gặp vô vàn khó khăn, ngân khố quốc gia trống rỗng.
Xây dựng một nền tài chính vững mạnh là yêu cầu rất cấp thiết để duy trì hoạt động của
một chính quyền cách mạng. Chính quyền cách mạng của chính thể VNDCCH phải lãnh
đạo toàn dân thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: Kháng chiến và kiến quốc -
Trong đó vấn đề tài chính, tiền tệ được đặc biệt quan tâm và coi đó là một vũ khí sắc bén,
trực tiếp của cả 2 nhiệm vụ chiến lược nói trên. Ngày 1/12/1945, đúng 3 tháng sau ngày
thành lập nước VNDCCH – Mở đầu thời đại Hồ Chí Minh ở Việt nam, đồng tiền tài
chính với chất liệu nhôm đầu tiên lọai hai hào và tờ giấy bạc đầu tiên của cách mạng của
ta được phát hành, còn được gọi với cái tên rất ấn tượng là: “tờ bạc Cụ Hồ” và được sử
dụng song song với đồng bạc Đông Dương. Tiếp theo đó ngày 21/1/1946 ta phát hành
đồng tiền nhôm loại năm hào, ngày 31/1/1946 , lần đầu tiên giấy bạc Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa phát hành. Một mặt có chữ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (chữ Quốc ngữ và chữ
Hán), có hình Chủ tịch Hồ Chí Minh. Một mặt có hình Nông Công binh. Các loại giấy
bạc đều có ghi chữ số Á Rập, chữ Quốc Ngữ, chữ Hán, Lào, Campuchia chỉ mệnh giá.

chiến như nhà máy này để đánh phá. Các chú phải giữ gìn bí mật”. Quả nhiên, đúng như
dự đoán của Bác, ngay ngày hôm sau, thực dân Pháp đã thả 8 quả bom xuống đồn điền
Chi Nê, trong đó có 2 quả trúng nhà của ông Đỗ Đình Thiện. Trung tâm ấn loát bị trúng
đạn. Kho cà phê và kho vật liệu bị cháy. Gia đình ông Thiện bị thiệt hại nặng. Nhà máy in
tiền ở Chi Nê bị bắn phá. Bộ trưởng Lê Văn Hiến đã quyết định chuyển nhà máy lên
Chiêm Hóa (Tuyên Quang) để tiếp tục in tiền phục vụ cuộc kháng chiến, xây dựng đất
nước.
Do máy móc thô sơ nên các tờ giấy bạc trông khá thủ công. Ông Đỗ Long Vân,
trên 80 tuổi, hiện đang sống ở phố Nguyễn Du (Hà Nội), là con trai út của cụ Đỗ Đình
Thiện còn giữ một tờ giấy bạc mệnh giá 100 đồng. Ông Vân bảo: “Tờ giấy bạc này còn
được gọi là tờ bạc “con trâu xanh” vì một mặt in ảnh Bác Hồ, mặt còn lại in hình con trâu
màu xanh và hai người nông dân khỏe mạnh đang làm ruộng”. Đó là những tờ giấy bạc
đầu tiên của nước Việt Nam độc lập và được đông đảo người dân đón nhận, sử dụng và
trân trọng gọi bằng cái tên: “tiền Cụ Hồ”.
Ngày 5/6/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Nghị định thành lập Ngân hàng Quốc
gia Việt Nam và phát hành giấy bạc mới, gọi là giấy bạc ngân hàng. Giấy bạc ngân hàng
đổi lấy giấy bạc Tài chánh, cứ 1 đồng ngân hàng đổi 10 đồng Tài chánh. Giấy bạc ngân
hàng có loại 1 đồng, 10 đồng, 20 đồng, 50 đồng, 100 đồng, 200 đồng, 500 đồng, 1.000
đồng và 5.000 đồng. Điểm đặc biệt những tờ giấy bạc này là: một mặt có chữ Việt Nam
15
dân chủ Cộng hòa (chữ Hán và chữ Quốc Ngữ) và hình Chủ tịch Hồ Chí Minh, một mặt
in hình Công nông binh, hình bộ đội ở chiến trường. Trên tờ giấy bạc có số hiệu, mệnh
giá ghi bằng số Á Rập, chữ Quốc Ngữ và chữ Hán. Các loại giấy bạc Ngân hàng in ở
nước ngoài nên rất sắc sảo, tính mỹ thuật cao.
Sau ngày toàn quốc kháng chiến, việc liên lạc giữa địa phương và trung ương có
nhiều khó khăn, nên chính quyền trung ương cho phép Trung bộ và Nam bộ phát hành
tiền Cụ Hồ riêng của vùng mình. Tiền này có mệnh giá 1 đồng, 5 đồng, 20 đồng, 50 đồng,
100 đồng. Hình ảnh trang trí cũng tương tự như giấy bạc Cụ Hồ do trung ương phát hành,
duy có điểm khác là trên giấy bạc có hai chữ ký: chủ tịch UBKC Nam bộ (Phạm Văn
Bạch) đại diện Bộ trưởng Tài chánh và Giám đốc Ngân khố Nam bộ - đại diện Tổng giám

16
Quốc Mỹ, hầu như cả miền Nam là một thị trường tiêu thụ và cung ứng nguồn tài
nguyên, sức lao động rẻ mạt - Bức tranh kinh tế thời chiến của chính quyền Sài gòn là
một nền kinh tế phồn vinh giả tạo: Thủ công, lắp ráp và tiêu thụ. Chính quyền Ngụy có
luật nghiêm cấm lưu hành đồng tiền miền Bắc và đồng tiền Đông Dương ở miền Nam.
Chúng thành lập Ngân hàng năm 1954 và cũng lấy tên là NHQG Việt nam, cho phép tiêu
song song đồng USD và đồng tiền Quốc gia với tỷ giá 35đồng Quốc gia ăn 1 đồng USD.
Tỷ giá này ổn định từ năm 1954 đến năm 1960. Từ năm 1960 đến 1965 đồng tiền Ngụy
mất giá dần dần và đến năm 1965 tỷ giá này còn 118đ/USD. Từ năm 1966 đến 1968 sức
mua của đồng tiền Ngụy tiếp tục mất giá mạnh xuống còn 250đ/ USD và đến năm 1973
thì tỷ giá này đã là 500đ/ USD - giảm 14,3 lần so với thời kỳ những năm 1954 - 1960.
Ở miền Bắc, tiền đồng đã trở thành tiền tệ mới của quốc gia mới được công nhận,
với tỷ giá với tiền piastre đang lưu hành đồng Việt Nam Cộng hòa là 32 đồng Bắc Việt
Nam = 1 piastre hay đồng Nam Việt Nam. Năm 1956, đồng đã được neo vào Nguyên
Nhân dân tệ Trung Quốc với tỷ giá 1,47 đồng = 1 nguyên.Vào ngày 28 tháng 2 năm
1959, một đơn vị đồng khác đã thay thế loại thứ hai với tỷ lệ 1 đồng năm 1959 = 1000
đồng năm 1951. Một tỷ giá hối đoái với tiền rúp Xô Viết đã được thiết lập năm 1961, với
3,27 đồng = 1 rúp.
Bên cạnh đó, vào thời kỳ 1966 -1973 - thời kỳ cả nước có chiến tranh, Nhà nước
đã cho phép Quân đội ở tuyến Trường Sơn sử dụng đồng “tiền Trường sơn” hay còn gọi
là "phiếu bách hóa" - Một hiện tượng tiền tệ kỳ diệu đã giúp quân đội có một cơ chế
"phân phối" rất linh hoạt: Thay vì bộ đội hậu cần phải chuyển nhu yếu phẩm đến từng
đơn vị đóng quân dọc Trường sơn thì chỉ cần chuyển hàng đến từng binh trạm cố định.
Việc phân phối sau đó đã trở nên vô cùng thuận tiện thông qua hình thức "mua hàng" và
thanh toán bằng tiền Trường sơn theo tổng định lượng vật chất đã được giá trị hoá - Tính
vô danh của tiền trong quan hệ phân phối đã giảm đi một chi phí khổng lồ về thời gian,
chứng từ, tem phiếu, sổ theo dõi của cả hai bên nhập hàng và nhận hàng, đặc biệt là giảm
biên chế hậu cần, giảm chi phí kho lán ở từng đơn vị và do đó cũng hạn chế thương vong
xương máu trên đường đi phân phối nhu yếu phẩm cho từng đơn vị. Còn người “có tiền”
thì tuỳ nghi chủ động đến các binh trạm để “ mua ” hàng cho đơn vị mình đồng thời lại

nhanh chóng bị “doãng ra”. Đồng tiền NHNN VN mất giá mạnh so với đồng USD, đến
trước ngày đổi tiền tháng 9/1985 tỷ giá giữa đồng tiền NHNN VN so với đồng USD đã
là: 150đ/USD. Do lạm phát quá cao, Chính phủ phải thực hiện đổi tiền thứ ba vào tháng
9/1985, khi 10 đồng tiền cũ đổi thành 1 đồng tiền mới.
Vào năm 2003 ngân hàng nhà nước Việt Nam phát hành tiền polymer mệnh giá
500.000, 200.000, 100.000, 50.000, 20.000… tiền xu: 5.000, 2000, 1000, 500, 200.
Hết
DANH SÁCH NHÓM:
1/ Nguyễn Thủy Nguyên
2/ Huỳnh Đông Trung
3/ Lê Thị Thanh Hà
4/ Nguyễn Thị Tâm
5/ Thái Thị Tuyết Mai
18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status