TIỂU LUẬN MÔN NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI MA – SÁP NHẬP VÀ THÂU TÓM - Pdf 24

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HỆ
ĐÀO
TẠO SAU ĐẠI
HỌC

TIỂU LUẬN: MÔN NGHIỆP VỤ NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
Đề tài:
M&A – SÁP NHẬP VÀ THÂU TÓM
GVHD: PGS.TS: TRẦM THỊ XUÂN HƯƠNG
Khóa 22 – Lớp NH Đêm 1 – Nhóm 3
Danh sách nhóm
1.Huỳnh Ngọc Hà My
2.Trần Ngọc Uyên Phương
3.Hoàng Thị Khánh Hội
4.Phạm Quốc Kỳ
Tháng 2 – năm 2014
MỤC LỤC
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ SÁP NHẬP VÀ MUA LẠI NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.1Khái niệm về sáp nhập và mua lại
1.2Phân loại sáp nhập và mua lại
1.2.1 Phân loại sáp nhập
1.2.2 Phân loại mua lại
1.3 Các phương thức thực hiện sáp nhập và mua lại ngân hàng
1.3.1 Thương lượng tự nguyện
1.3.2 Thu gom cổ phiếu trên thị trường chứng khoán
1.3.3 Chào thầu
1.3.4 Mua tài sản
1.3.5 Lôi kéo cổ đông bất mãn

Tại Việt Nam khái niệm sáp nhập, mua lại và hợp nhất được định nghĩa như sau:
Luật Doanh nghiệp ngày 29 tháng 11 năm 2005 quy định:
- Sáp nhập doanh nghiệp là: “Một hoặc một số công ty cùng loại có thể sáp
nhập vào một công ty khác bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và
lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của
công ty bị sáp nhập”. (Điều 153)
- Hợp nhất doanh nghiệp: là “Hai hoặc một số công ty cùng loại có thể hợp
nhất thành một công ty mới bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và
lợi ích hợp pháp sang công ty hợp nhất, đồng thời chấm dứt tồn tại của các công ty
bị hợp nhất” (Điều 152).
Trong Luật Doanh nghiệp lại không đề cập đến hoạt động mua bán doanh nghiệp
mà được nhắc đến trong Luật Cạnh tranh ngày 03 tháng 12 năm 2004:
“Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một
phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một
ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại” (Ðiều 17)
Theo Thông tư Số: 04/2010/TT-NHNN Quy định việc sáp nhập, hợp nhất,
mua lại tổ chức tín dụng có định nghĩa
- Sáp nhập tổ chức tín dụng là hình thức một hoặc một số tổ chức tín
dụng (sau đây gọi là tổ chức tín dụng bị sáp nhập) sáp nhập vào một tổ chức tín
dụng khác (sau đây gọi là tổ chức tín dụng nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn
bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang tổ chức tín dụng nhận sáp
nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của tổ chức tín dụng bị sáp nhập.
- Hợp nhất tổ chức tín dụng là hình thức hai hoặc một số tổ chức tín dụng
(sau đây gọi là tổ chức tín dụng bị hợp nhất) hợp nhất thành một tổ chức tín dụng
mới (sau đây gọi là tổ chức tín dụng hợp nhất) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản,
quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang tổ chức tín dụng hợp nhất, đồng thời
chấm dứt sự tồn tại của các tổ chức tín dụng bị hợp nhất.
- Mua lại tổ chức tín dụng là hình thức một tổ chức tín dụng (sau đây gọi
là tổ chức tín dụng mua lại) mua toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp
pháp của tổ chức tín dụng khác (tổ chức tín dụng bị mua lại). Sau khi mua lại, tổ

mình một cách thường xuyên. Sáp nhập theo chiều dọc đem lại cho công ty tiến
hành sáp nhập lợi thế về đảm bảo và kiểm soát chất lượng nguồn hàng hoặc đầu ra
sản phẩm, giảm chi phí trung gian, khống chế nguồn hàng hoặc đầu ra của đối thủ
cạnh tranh.
- Sáp nhập tổ hợp
Sáp nhập tổ hợp là trường hợp xảy ra đối với các công ty hoạt động ở các lĩnh vực,
ngành nghề kinh doanh không liên quan tới nhau, không có quan hệ người mua -
người bán và cũng chẳng phải là đối thủ cạnh tranh của nhau. Nói cách khác, nếu
một cuộc sáp nhập không rơi vào hai trường hợp sáp nhập theo chiều dọc hoặc sáp
nhập theo chiều ngang thì đó là sáp nhập tổ hợp.
Những công ty theo đuổi chiến lược đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ sẽ lựa chọn
chiến lược liên kết thành lập tập đoàn.
 Dựa trên phạm vi lãnh thổ
- Sáp nhập trong nước
Đây là những thương vụ sáp nhập, mua lại giữa các công ty trong cùng lãnh thổ
một quốc gia.
- Sáp nhập xuyên biên
Được thực hiện giữa các công ty thuộc hai quốc gia khác nhau, là một trong những
hình thức đầu tư trực tiếp phổ biến nhất hiện nay.
1.2.2 Phân loại mua lại
- Mua lại mang tính thù nghịch:
Là một hoạt động mà không được sự ủng hộ của công ty bị mua lại. Việc mua lại
có thể ảnh hưởng xấu đến công ty bị mua lại và đôi khi gây tổn hại đến cả bên
mua lại. Hoạt động này diễn ra khi công ty mua lại thực hiện việc mua lại cổ phiếu
của công ty bị mua lại thông qua phương thức lôi kéo cổ đông bất mãn, mua gom
dần cổ phiếu trên thị trường, và các phương thức khác khi mà không đạt được sự
đồng thuận hay biết trước của ban điều hành công ty bị mua lại. Cổ đông của công
ty bị mua lại được trả tiền hoặc hoán đổi cổ phiếu và hoàn toàn mất quyền kiểm
soát công ty.
- Mua lại có thiện chí:

Hình thức chào thầu thường áp dụng trong các vụ thôn tính mang tính thù địch đối
thủ cạnh tranh. Ngân hàng mục tiêu thường là ngân hàng yếu hơn. Tuy vậy, vẫn có
một số trường hợp một ngân hàng nhỏ nuốt được một đối thủ nặng ký hơn, đó là
khi họ huy động được nguồn tài chính khổng lồ từ bên ngoài để thực hiên được vụ
thôn tính. Các ngân hàng mua lại theo hình thức này thường huy động tiền bằng
cách:
- Sử dụng thặng dư vốn
- Huy động từ vố cổ đông hiện hữu thông qua phát hành cổp phiếu mới hoặc
trả cổp tức bằng cổ phiếu, phát hành trái phiếu chuyển đổi.
- Vay từ các TCTD
Điểm đáng chú ý trong thương vụ chào thầu là ban quản trị ngân hàng mục
tiêu bị mất quyền định đoạt, bởi vì đây là sự trao đổi trực tiếp giữa ngân hàng thu
mua và cổ đông của ngân hàng mục tiêu, trong khi ban quản trị (thường là người
đại diên do đó trực tiếp không nắm đủ số lượng cổ phiếu chi phối) bị gạt ra bên
ngoài. Thông thường ban quản trị, các vị trí chủ chốt của ngân hàng mục tiêu sẽ bị
thay thế, mặc dù thương hiệu và cơ cấu tổ chức của nó vẫn có thể được giữ lại mà
không nhất thiết bị sáp nhập hoàn toàn vào ngân hàng mua lại. Để chống lại vụ sáp
nhập bất lợi cho mình, ban quản trị ngân hàng mục tiêu có thể chiến đấu lại bằng
cách tìm kiếm sự trợ giúp, bảo lãnh tài chính mạnh hơn, để có thế đưa ra mức giá
mua cổ phần của các cổ đông hiện hữu đang ngã lòng.
1.3.4 Mua tài sản
Phương thức này cũng gần tương tự như phương thức chào thầu. Ngân
hàng thu mua có thể đơn phương hoặc cùng ngân hàng mục tiêu định giá tài sản
của ngân hàng đó (họ thường tham khảo giá của công ty tư vấn định giá tài sản
độc lập chuyên nghiệp thực hiện). Sau đó các bên sẽ thương thảo để đưa ra các
mức giá phù hợp (có thể cao hơn hoặc thấp hơn mức giá mà công ty tư vấn định
giá tài sản chuyên nghiệp). Phương thức thanh toán có thể bằng tiền mặt hoặc nợ.
Điểm hạn chế của phương thức này là các tài sản vô hình như thương hiệu, thị
phần, hệ thống khách hang nhân sự, văn hóa daonh nghiệp rất khó được định giá
và được các bên thống nhất.

động sáp nhập ngân hàng được nới rộng không còn giới hạn trong phạm vi tiểu
bang mà có thể thực hiện xuyên tiểu bang. Trong thập niên 90 mỗi năm trung bình
cso gần 400 vụ M&A, từ đó tạo ra các tập đoàn tài chính – ngân hàng khổng lồ
hoạt động trên phạm vi toàn cầu với sự chuyển hướng kinh doanh từ hoạt động
cho vay sang hoạt động dịch vụ. Sau cuộc khủng hoảng tín dụng nhà đất tại Mỹ nổ
ra vào giữa năm 2007, hoạt động M&A trong ngân hàng xảy ra với tộc độ nhanh
chưa từng thấy. Từ đầu năm 2009 đến 6/6/2009 đã có 37 ngân hàng buộc phải
đóng cửa và bán tài sản của mình. Tính đến hết quý I/2009 FDIC (Quỹ bảo hiểm
Tiền gửi Liên bang) đã đưa trên 300 ngân hàng Mỹ vào diện có vấn đề so với 252
ngân hàng vào quý 4/2008 – cao hơn 21% so với cùng kỳ năm 2008 và cao nhất
trong 15 năm.
Tại Châu Âu, hoạt động sáp nhập và mua lại các ngân hàng ở châu Âu diễn
ra mạnh mẽ vào những năm thập niên 1990 cùng với sự hình thành và phát triển
của Liên minh tiền tệ châu Âu. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian tới hoạt động
này ở châu Âu vẫn diễn ra vì cần tạo ra những tổ chức tài chính lớn mạnh, đủ sức
cạnh tranh trên thế giới đặc biệt là các ngân hàng ở Mỹ. Bên cạnh đó, môi trường
kinh doanh không đồng nhất giữa các quốc gia châu Âu vẫn còn tồn tại, chính vì
thế quá trình xây dựng công đồng châu Âu than một thị trường duy nhất, gần gũi
hơn về mặt pháp lý và văn hóa sẽ tạo điều kiện cho tiến trình sáp nhập diễn ra
mạnh mẽ hơn.
Tại châu Á,vào giai đoạn những năm đầu thập niên 90 thế kỷ 20, nền kinh
tế “Bong bóng” Nhật Bản bị vỡ do các khoản nợ xấu phát sinh từ các khoản đầu tư
bất động sản và các khoản đầu tư kém hiệu quả. Để khắc phục tình hình yếu kém
trên, chính phủ Nhật Bản và các ngân hàng thương mại đã thực hiện hàng loạt các
hoạt động sáp nhập và mua lại ngân hàng. Tuy nhiên, hiệu quả của hoạt đọng này
không cao do nên kinh tế Nhật đang vào giai đoạn suy thoái.
1.4.2 Những bài học kinh nghiệm trong hoạt động sáp nhập và mua lại
NHTM ở các nước trên thế giới và các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
1.4.2.1 Cần có thông tin và kinh nghiệm cần thiết để nhận diện bên
mua tiềm năng

quả định giá có thể được xem xét ở các mức độ quan trọng khác nhau.
Không tồn tại phương pháp tài chính hoàn hảo nào tính toán lợi ích việc sáp
nhập. Phương pháp quy đổi dòng tiền tương lai thường hay được sử dụng nhưng
phức tạp và đôi khi không chính xác. Ngoài ra, còn những sai lầm trong công tác
đánh giá tài sản và các khoản nợ.
Nếu các thỏa thuận chịu nhiều sức ép lơn khi phải cạnh tranh với nhiều đối
thủ khác cũng muốn mua lại thường bên mua bắt đầu nhượng bộ. Đến khi các thỏa
thuận được hoàn tất, bên bán bỗng nhiên có nhiều lợi ích và quyền hạn, giá của
người chiến thắng thường cao hơn so với giá thực tế.
Về mặt lý thuyết, hiệu quả đạt được trong M&A là do sự tiết kiệm nhờ quy
mô. Tuy nhiên, trên thực tế đôi khi ngược lại: điều hành một tập đoàn lớn với
nhiều chi nhánh lại phức tạp hơn, và như vậy, đội ngũ cán bộ quản lý lại lớn và
cồng kềnh hơn.
1.4.2.4 Tìm hiểu kỹ vấn đề pháp lý trước khi thực hiện giao dịch
Khi tiến hành sáp nhập, bên mua phải đối mặt với những vấn đề khá phức
tạp như các quy định của luật pháp về độc quyền, thuế, kế toán, chuyển đổi tài sản,
trách nhiệm giải quyết các khoản nợ chưa thanh toán, phân chia lợi nhuận, tính
toán các vấn đề hậu sáp nhập làm sao cho giá trị ngân hàng ngày càng tăng để hấp
dẫn nhà đầu tư. Nếu không phân tích kỹ các vấn đề trên và các yếu tố pháp lý đi
kèm thì nguy cơ thất bại cao
Một số nước, khi sáp nhập các công ty có tổng giá trị tài sản lớn hoặc chiếm một
thị phần lớn sau khi sáp nhập thì cần phải có sự đồng ý của chính phủ do luật về
chống độc quyền. Nếu như công ty vi phạm quy định này, nó sẽ bị xử phạt. Ngoài
ra, chính phủ có thể đưa ra những khuôn khổ hoạt động của công ty trên thị
trường, và do vậy có khi không đem lại lợi ích từ sáp nhập và mua lại hoặc thậm
chí đòi hỏi hủy bỏ hợp đồng thông qua tòa án.
Những thay đổi chủ quan hoặc khách quan từ bên mua, thị trường hoặc môi
trường pháp lý có thể ảnh hưởng trực tiếp tới tiến trình của giao dịch.
1.4.2.5Chuẩn bị các vấn đề hậu sáp nhập và mua lại để có một thương
vụ thành công

này thích hợp với đặc thù của cơ chế quản lý kế hoạch tập trung bao cấp lúc bấy
giờ nhưng khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế kinh doanh thì nó tỏ ra kém hiệu
quả và không còn phù hợp nữa. Hệ thống hai cấp bao gồm Ngân hàng Nhà nuớc
và Ngân hàng chuyên doanh. Ngân hàng Nhà nước, được tổ chức thành hệ thống
từ trung ương đến cấp tỉnh, thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về tiền tệ và
hoạt động ngân hàng. Ngân hàng chuyên doanh bao gồm Ngân hàng Công
Thương Việt Nam, Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam, Ngân hàng Đầu
Tư Xây Dựng Việt Nam và Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, thực hiện chức
năng kinh doanh theo những lĩnh vực tương ứng với tên gọi.)
Vào những năm 1992-1993, tại khu vực TP.HCM đã xảy ra những vụ sáp nhập
NH mang tính chất sơ khai. Đầu tiên là các cơ sở sản xuất, kinh doanh có huy
động vốn bị vỡ nợ như: Nước hoa Thanh Hương, Đại Thành, Xacogiva , rồi đến
sự phá sản và giải thể của các hợp tác xã (HTX) tín dụng, quỹ tín dụng kéo dài từ
những năm 1989-1990, đã gây ra những biến động lớn, buộc một số HTX tín dụng
còn lại đã hợp nhất hình thành nên những NH thương mại cổ phần đầu tiên trên
địa bàn TP.HCM (ngoại trừ Eximbank, Saigon Bank và HDB), để thỏa các điều
kiện theo khuôn khổ các quy định của các pháp lệnh về NH. Nếu như năm 1991
chỉ mới có 9 ngân hàng thương mại, trong đó có đến 4 ngân hàng quốc doanh thì
đến năm 1993 số lượng ngân hàng thương mại đã gia tăng lên đến 56 trong đó có
đến 41 ngân hàng thương mại cổ phần. Một số trường hợp điển hình như:
- Vào ngày 21/12/1991, Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) được
thành lập và đi vào hoạt động trên cơ sở chuyển thể Ngân hàng phát triển kinh
tế Gò Vấp và sáp nhập với ba hợp tác xã tín dụng Tân Bình, Thành Công, Lữ
Gia.
- Ngân hàng TMCP Phát Triển Mê Kông thành lập năm 1992, tiền thân là ngân
hàng TMCP nông thôn Mỹ Xuyên, với trụ sở chính đặt tại thành phố Long
Xuyên, tỉnh An Giang.
- Ngân hàng TMCP Gia Định thành lập năm 1992 trên cơ sở hợp nhất 2 HTX
Tín dụng Bạch Đằng và Kỹ Thương.
- Ngân hàng Tân Việt thành lập năm 1992 trên cơ sở sáp nhập HTX Tín dụng

1 Vietcombank Mizuho Corporate bank .Ltd 347.612.562 15%
2 Viettinbank
The bank of Tokyo_ Mitsubishi
UFJ. Ltd
644.389.811 19,73%
IFC Capitalization (Equity) Fund 176.196.847 5,39%
Inter Finance Corporation (IFC) 85.980.341 2,63%
3 Abbank
Maybank 20%
IFC 10%
4 Techcombank HSBC 172.353.345 19,5%
5 Eximbank Sumitomo Mitsui banking
corporation
185.329.207 15%
Cho đến nay các nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của các TCTD Việt Nam
đang được thực hiện theo nghị định số 69 ban hành ngày 20/04/2007 của Chính
phủ. Nghị định quy định rõ, cụ thể về tỷ lệ sở hữu tối đa của một nhà đầu tư, của
đối tác chiến lược và tổng tỷ lệ sở hữu của các nhà đầu tư nước ngoài tại một
TCTD Việt Nam.
Trong thời gian qua, nhận thức được tầm quan trọng của nguồn lực nước ngoài
trong quá trình tái cơ cấu hệ thống TCTD Việt Nam, Chính phủ đã ban hành đề án
254 với nội dung quan trọng là khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài hợp
tác đầu tư với các TCTD Việt Nam, và khuyến khích các TCTD nước ngoài tham
gia góp vốn mua cổ phần, sáp nhập hợp nhất vào các TCTD yếu kém của Việt
Nam trên cơ sở tuân thủ các quy định của pháp luật.
Để cụ thể chủ trương này, vừa qua Vụ đã trình Chính phủ chủ trương sửa đổi
Nghị định 69 trong đó 2 điểm mà nhà đầu tư nước ngoài hết sức quan tâm:
(i) Trước đây, theo nghị định 69, một nhà đầu tư nước ngoài được NHNN xem
xét mua cổ phần tại TCTD Việt Nam tối đa là 15% vốn điều lệ TCTD, trong
trường hợp cần thiết trình Chính phủ xin ý kiến về nâng mức sở hữu lên 20%. Tuy

hiện nay sẽ rất khó khăn, do đó, việc tìm dòng vốn ngoại đang được nhiều ngân
hàng quan tâm.
Nhiều tổ chức nước ngoài cho rằng, quy định về tỷ lệ sở hữu hiện nay của
Ngân hàng Nhà nước đã không hấp dẫn các tổ chức nước ngoài và họ kiến nghị tỷ
lệ này có thể xem xét nâng lên mức 51% hoặc lên tới 65%.
Khi tỷ lệ sở hữu đạt tới mức này, ngân hàng ngoại mới có thể có được tiếng nói
trong việc xây dựng chiến lược phát triển, kể cả xử lý nợ xấu của ngân hàng nội
bởi vì họ vừa có kinh nghiệm, kỹ năng đánh giá nợ xấu vừa có nguồn vốn để có
thể tham gia vào quá trình xử lý nợ xấu của ngân hàng nội.
2.3 Các diễn biến về Sáp nhập, tâu tóm ngân hàng gần đây:
2.3.1 SCB- Tín Nghĩa- Đệ Nhất
1.1. Thực trạng của các ngân hàng trước khi sáp nhập
a. Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB)
Tại thời điểm cuối năm 2010, SCB là một trong những ngân hàng thương mại cổ
phần lớn ở Việt nam với vốn điều lệ là 4.184 nghìn tỷ đồng, tổng tài sản hơn 60 nghìn tỷ,
tổng huy động hơn 35 nghìn tỷ, dư nợ cho vay hơn 33 nghìn tỷ đồng.
Tuy nhiên, nợ xấu của SCB đang có xu hướng tăng cao trong năm 2010. Theo báo
cáo tài chính hợp nhất năm 2010, dư nợ xấu của SCB tại thời điểm cuối năm nằm ở mức
22.55%. Và có hơn 592 tỷ đồng là nợ có khả năng mất vốn, hơn 2.8 ngàn tỷ đồng là nợ
được cơ cấu lại.
Mức trích lập dự phòng của ngân hàng tại thời điểm cuối năm 2010 là hơn 827 tỷ
đồng.
Hơn 200 tỷ đồng đầu tư góp vốn dài hạn vào 2 dự án Khu dân cư đồi Thánh Mẫu và
dự án khu đô thị phức hợp Đà Nẵng không hiệu quả, ngân hàng vẫn chưa thu hồi được số
tiền đầu tư này.
Rủi ro thanh khoản của SCB ở mức cao do ngân hàng thực hiện dùng nguồn vốn ngắn
hạn để cho vay trung và dài hạn. Cho vay khách hàng của ngân hàng chủ yếu nằm ở kỳ
hạn 3 - 12 tháng và 1 - 5 năm nhưng nguồn huy động tiền gửi khách hàng của ngân hàng
ở 2 kỳ hạn này lại nhỏ hơn khá nhiều. Cụ thể, cho vay khách hàng ở kỳ hạn 3 - 12 tháng
là 7.036 nghìn tỷ đồng nhưng huy động khách hàng cùng kỳ hạn chỉ là 6.728 nghìn tỷ

Các khoản nợ quá hạn thị trường 1 (TT1) của ngân hàng tăng và ở mức cao, đặc
biệt là các khoản nợ quá hạn của các tổ chức kinh tế. Huy động TT2 đến hạn
không chi trả được cũng tăng cao, tạo áp lực thanh khoản lớn. Trong khi đó, việc
sử dụng nguồn bị mất cân đối lớn do kỳ hạn huy động tương đối ngắn, nhưng lại
cho vay và đầu tư khá dài khiến tình hình tài chính trở nên nghiêm trọng hơn.
Còn một nguyên nhân sâu xa khác, chính là áp lực từ Nghị định 141/2006/NĐ-
CP ngày 26/01/2011 về việc bắt buộc các ngân hàng thương mại tăng vốn điều lệ
từ mức 1.000 tỷ đồng đến năm 2008 và nâng lên 3.000 tỷ đồng đến năm 2011.
Bởi, khi tăng vốn điều lệ thì buộc các ngân hàng thương mại tăng tổng tài sản lên
mức tương ứng để tránh lỗ. Vì thế, họ liên tục mở chi nhánh và tìm khách hàng
cho vay- điều không dễ dàng, vì những vị trí đắc địa, khách hàng tốt đã bị những
ngân hàng lớn đi trước chiếm giữ, và lối thoát duy nhất là tìm khách hàng dễ cho
vay nhất, dễ kiếm lời nhất, khả năng cung bao nhiêu vốn cũng hết, đó là bất động
sản. Thậm chí, ngay cả cho vay tiêu dùng cũng chảy vào bất động sản. Do đó, vấn
đề đáng quan tâm hơn cả là ngân hàng lấy đâu ra hàng nghìn tỷ đồng đẻ tăng vốn
pháp định, nhất là trong điều kiện thị trường chứng khóan liên tục sụt giảm.
Trước tình hình này, hội đồng quản trị của ba ngân hàng đã tự nguyện sáp nhập
với nhau thành một ngân hàng dưới sự bảo trợ của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Việt Nam (BIDV), và cần tới sự hỗ trợ của Ngân hàng Nhà nước thông qua khoản
vay tái cấp vốn. Tổng số vốn hỗ trợ liên ngân hàng của BIDV cho ba nhà băng
(tính đến tháng 12/2012) là trên 2.400 tỷ đồng (trên tổng số tài sản được ba nhà
băng đem ra đảm bảo là 30.000 tỷ đồng).
1.3. Kết quả sau thương vụ sáp nhập
Sau sáp nhập, ngân hàng hợp nhất có vốn điều lệ 10.583 tỷ đồng, tổng tài sản
144.8 nghìn tỷ đồng và có hơn 230 chi nhánh, phòng giao dịch trải dài trên khắp từ
nam ra bắc.
Hầu hết các chỉ tiêu đều có sự tăng trưởng mạnh, Tổng tài sản của SCB sau sáp
nhập đạt 144.8 nghìn tỷ đồng vào thời điểm cuối năm 2011 và đạt 149.2 tỷ đồng
vào cuối 2012.
Dư nợ của ngân hàng từ 32.4 nghìn tỷ cuối 2010 tăng lên 64.4 cuối 2011 và đạt

vào nhóm khách hàng này (tương đương 67.93% vốn điều lệ của Ngân hàng) dẫn
đến khi kinh tế suy thoái, Ngân hàng đã bị ảnh hưởng nặng nề từ việc tập trung tín
dụng này.
Ngoài 2.75 ngàn tỷ cho vay, Habubank còn nắm giữ 600 tỷ đồng trái phiếu tập
đoàn Vinashin, số tiền này không biết bao giờ mới đòi lại được.
Và hậu quả tất yếu, quý 4 năm 2011, Habubank lỗ xấp xỉ 41 tỷ đồng. Nếu tính
lũy kế cả năm 2011, Habubank vẫn lãi 349,8 tỉ đồng song mức lãi đã giảm 27,4%
so với năm 2010. Sự thua lỗ trong quý 4 của Habubank có thể được giải thích bởi
nhiều nguyên nhân, trong đó lớn nhất là do hoạt động kinh doanh ngoại hối. Riêng
trong quý IV/2011, khoản lỗ từ hoạt động này của Habubank lên tới 18,6 tỉ đồng,
cả năm 2011 lỗ tới 104,8 tỉ đồng. Cùng kỳ năm 2010, kinh doanh ngoại hối chỉ
làm Habubank lỗ 14,2 tỉ đồng. Tham gia vào thị trường ngoại hối trong tình hình
có rất nhiều biến động thì thua lỗ là chuyện Habubank thua lỗ cũng là điều dễ
hiểu. Nguyên nhân gây lỗ thứ hai là chi phí hoạt động tăng mạnh. Riêng trong quý
IV/2011, chi phí này đã tăng gấp 2,3 lần so với cùng kỳ năm 2010 (từ 111,6 tỉ
đồng tăng lên 247,1 tỉ đồng), khả năng rất cao là Habubank đã lách luật, hạch toán
chi phí huy động vốn vào chi phí này. Nguyên nhân lỗ thứ ba là do trích lập dự
phòng. Quý IV/2011 Habubank trích lập dự phòng rủi ro tín dụng 132,18 tỉ đồng,
tăng 39,3% so với cùng kỳ năm 2010.
b. Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn - Hà Nội
Cũng như các ngân hàng TMCP khác, năm 2011, dư nợ xấu của SHB cũng có
sự gia tăng khá mạnh. Tổng các khoản nợ có vấn đề ở mức 1.745 ngàn tỷ, chiếm
tỷ trọng 5.98% tổng dư nợ. Trong 1.093 ngàn tỷ nợ cần chú ý có 895 tỷ đồng là dư

Trích đoạn CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 3.1 Kết quả đạt được và hạn chế:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status