Luận văn: PHÂN TÍCH TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM - Pdf 15



1
Tiểu luận

Đề tài: PHÂN TÍCH TỔNG QUAN
VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 2
I- Sự hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam.
1. Sự hình thành và phát triển của TTCKVN.
Hội nhập và phát triển kinh tế đang là xu hướng chung của nền kinh tế thế
giới. Nó tạo cho chúng ta cơ hội học hỏi kinh nghiệm, tiếp thu vốn, công nghệ
khoa học-kĩ thuật, tác phong làm việc, quản lý, của các nước có nền kinh tế phát
triển. Tuy nhiên, bên cạnh đó việc phát huy các yếu tố nội lực cũng cần hêt sức
quan tâm, đánh giá nó một cách chính sác để sử dụng nó sao cho hiệu quả. Trong
các yếu tố nội lực này cần phải đặc biệt quan tâm đến nguồn vốn – yếu tố mà các
nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng đang rất thiếu. Trong khi đó
vốn trong nền kinh tế quốc dân chủ yếu được tập trung ở các cá nhân, tổ chức. Vì
vậy, để thu hút được nguồn vốn dư thừa trong công chúng, trong các tổ chức ta
cần phải thành lập một cơ quan chuyên về huy động và sử dụng nguồn vốn này.
Tổ chức đó chỉ có thể là thị trường chứng khoán. Vấn đề này, đã được nghiên
cứu, xây dựng đề án thành lập TTCK đã được nhiều cơ quan Nhà nước, các Viện
nghiên cứu phối hợp đề xuất với Chính phủ. Điều này được đánh dấu bằng các sự

chế về chuyên môn và cách thức quản lý…Song nhờ có sự quan tâm của Chính
phủ và Các bộ ngành liên quan mà tổ chức này hoạt động tương đối tốt, tạo niểm
tin cho nhà đầu tư và công chúng, góp phần phát triển kinh tế đất nước.
+ Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội ( TTGDCKHN)
Sự ra đời của trung tâm này đáp ứng kĩ vọng rất lớn của các nhà đầu tư và
các tổ chức cần huy động vốn nó đáp ưng nhu cầu huy động và sử dụng vốn của
các tổ chức ở phía Bắc, đánh dấu bước tiến phù hợp của thị trường chúng khoán
Việt Nam.
Tháng 6/2004, Bộ tài chính ra Thông báo số 136/TB/BTC với nội dung là
hoàn thiện và phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam theo đó xẽ định hướng
TTGDCKHN thành thị trường gao dich phi tập trung (OTC).
Ngày 8/3/2005 TTGDCK Hà Nội chính thức khai trương hoạt động, đánh
dấu một bước phát triển mới của thị trường chứng khoán Việt Nam. 4
Ngày 19 tháng 02 năm 2004 Chính phủ đã ban hành Nghị định số
66/2004/NĐ-CP chuyển Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước vào Bộ Tài chính. Đây là
bước tiến quan trọng hợp lý của TTCKVN. Bởi hiện tại thị trường của chúng ta
còn nhỏ lẻ sơ khai, còn nhiều hạn chế về kiến thức và cách quản lý nên chưa thể
tách ra thành một tổ chức hoạt động độc lập (bài học rút ra từ kinh nghiệm về sự
thất bại của thị trường chứng khoán Thái Lan.). Với sự quản lý của Bộ Tài Chính
sẽ làm cho thị trường của chúng ta hoạt động ổn định hơn, nhạy bén và hiệu quả
và an toàn hơn.
Như vậy, có thể nói sự ra đời của TTCKVN được đánh dấu bởi sự ra đời
của hai trung tâm giao dịch chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh và trung tâm
giao dịch chứng khoán Hà Nội. Điều này đã thể hiện chúng ta đã có những bước
tiến quan trọng về phương thức huy động vốn này. Nó cho phép ta huy động và sử
dụng vốn có hiệu quả cao hơn, hạn chế các hiện tượng làm thất thoát tài sản của
nhà nước và tập thể, đặc biệt là hiện tượng chảy vốn ra nước ngoái.

1.1 Số lượng chứng chứng khoán.
Thị trường chứng khoán Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ,
thể hiện ở số lượng cổ phiếu, trái phiếu không ngừng được tăng lên. Lúc đầu khi
trung tâm giao dịch chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh chỉ có hai công ty được
niêm yết cổ phiếu và tổng giá trị thị trường là 270 tỷ đồng ( tương đương 16,8
triệu USD) thì đến ngày 27/11/2005 có 21 loại cổ phiếu được niêm yết với tổng
số vốn là 1.086 tỷ đồng, hai loại trái phiếu công ty với số vốn 157 tỷ đồng và 50
loại trái phiếu Chính phủ với số vốn là 5400 tỷ đồng ( như vậy có 73 loại chứng
khoán được phát hành trên thị trường với số vốn khoảng 6.600 tỷ đông. Như vậy
trong 5 năm số lượng chứng khoán lưu hành trên thị trường như vậy là quá chậm.
Điều này cũng thật dễ hiểu khi thị trường của chúng ta mới ở dạng sơ khai, non
trẻ, chưa thực sự thu hut được sự quan tâm của các nhà đầu tư. Mặt khác sự hiểu
biết của các cá nhân và tổ chức về thị trường này là còn tương đối mới mẻ dẫn đến 6
sự phát triển của thị trường là tương đối chậm. Tuy nhiên đến thởi điểm hiện nay
tại TTGDCKTP.HCM đã có tới 750 chứng khoán ( tăng hơn 10 lần so với thời
điểm này năm 2005) chứng khoán được lưu hành. Trong đó có 49 loại cổ phiếu (
tăng hơn 2.3 lần), một chứng chỉ và 700 loại trái phiếu ( tăng 16.45 lần). Như vậy,
trong một năm qua thị trường chứng khoán Việt Nam đã có bươc tiến vượt bậc
điều này đã chứng tỏ chúng ta đã có những bước đầu thành công trong việc điều
hành và quản lý thị trường này.
Tuy nhiên với tốc độ tăng này trong 3 tháng 7, tháng 8, tháng 9 năm 2006
đem so với các nước trong khu vực thì ta thấy thị trường của chúng ta quá nhỏ bé.
Theo số liệu của Bloomberg thì trung bình trong 3 tháng này chỉ có 6,6 triệu USD
giá trị cổ phiếu được giao dịch hàng ngày tại trung tâm giao dich TP Hồ Chí Minh,
trong khi đó tại Thái Lan là 314 triệu USD, Hồng Kông là 3,2 tỷ USD. Điều này
cũng thật dễ hiểu bởi thị trường của chúng ta còn quá nhỏ bé, số lượng chứng
khoán được niêm yết còn hạn chế. Trong khi đó các nhà đầu tư chủ yếu là các cá

70 doanh nghiệp niêm yết và khoảng 370 trái phiếu chính phủ và công ty ( dự kiến
vào đầu năm sau). Cón số trên cho ta thấy một điếu đáng lo ngại là sự thành lập
các công ty diễn ra một cách ồ ạt, quy mô tiềm lực tài chính của các công ty này
chưa thật sự mạnh. Chỉ có khoảng 5 công ty là có tiềm lực tài chính, các công ty
còn lại chỉ thực hiện các nhiệm vụ nhỏ lẻ, chưa bao quát được thị trường. Điều này
tạo nên bong bóng bề nổi, bởi các công ty ra đời hiện nay dường như theo phong
trào chứ chưa chú trọng đến bề sâu của nó mà cụ thể hơn là các hoạt nghiệp vụ của
thị trường chứng khoán. Trong thời gian tới chúng ta sẽ ra nhập WTO và sau 5
năm ra nhập các công ty nước ngoài có quyền thành lập các công ty chứng khoán
với số vốn 100% vốn nước ngoái, dẫn đến cuộc cạnh tranh quyết liệt sẽ diễn ra. Vì
vậy, trong thời gian tới nếu các công ty của ta không chú trọng đầu tư theo chiếu
sâu có thể dẫn đến phá sản, tự đào thải.

2. Đánh giá của chuyên gia nước ngoài về TTCKVN. 8
Trong giai đoạn từ năm 2000 đến nay nền kinh tế Việt Nam có những
chuyển biến rõ rệt, tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam đạt 7.5% năm, trong khi
đó một số nền kinh tế trong khu vực như: Thái Lan, Indonesia, Phillippines,
Malaysia chỉ đạt trung bình khoảng 4.7% năm. Điều này đã làm cho các nhà kinh
tế trên thế giới quan tâm đến nền kinh tế Việt Nam nhiều hơn mà đặc biệt là thị
trường chứng khoán.
Theo tin kinh tế của hãng Bloomberg đánh giá thì TTCKVN có triển vọng
nhất tại Châu Á. Chỉ số chứng khoán của Việt Nam trong năm nay đã tăng 66%
cao nhất trong số các chỉ số của thị trường chứng khoán Châu Á. Theo chuyên gia
kinh tế Raghuram Rajan ( IMF) thì Việt Nam sẽ là một “ Trung Quốc mới” bởi
trong thời gian qua thị trường chứng khoán Việt Nam luôn luôn phát triển với tốc
độ cao, ( thực tế đã chứng minh từ đầu năm 2006 đến nay thị giá của thị trường đã
tăng gấp đôi lên đến 3 tỷ USD, giá trị giao dich hàng ngày là 10 triệu USD, gấp

3. Hạn chế TTCKVN
Hiện nay thị trường chứng khoán Việt Nam là một thị trường còn mới và
được đánh giá là một thị trường tồn tại ở dạng sơ cấp, số vốn mà các doanh nghiệp
huy động được thông qua thị trường này còn quá nhỏ lẻ. Năm 2000 và 2001 số
vốn huy động qua thị trường này bằng 0, năm 2002 là 0.035 nghìn tỷ đồng nếu
đem ra so sánh với số dư nợ của ngân hàng thì con số này quá nhỏ. Đến ngày
30/6/2003 nếu tính cả vốn huy động của nhà nước đã có 5.400 tỷ đồng trái phiếu
chính phủ, 5 công ty niêm yết với số điêu lệ tăng thêm 155.4 tỷ đồng. Đến
20/3/2006 có khoảng 13 triệu trái phiếu cầm cố tại các ngân hàng và các công ty
phát hành chứng khóa có giá trị 751 nghìn tỉ VND. Có thể nói số vốn này là quả
nhỏ so với nhu cầu về vốn của doanh nghiệp, làm cho doanh nghiệp luôn lâm vào
tình trạng thiếu vốn.
Mặc dù thị trường chứng khoán của chúng ta được các chuyên gia kinh tế
nước ngoài đánh giá cao về sự phát triển trong tương lai. Tuy nhiên, bên cạnh đó
còn có những hạn chế làm thị trường của chúng ta chưa hoàn toàn được giải phóng
triệt để như: 10
- Tốc độ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước diễn ra còn chậm, bên cạnh đó
các nhà đầu tư nước ngoài còn hoài nghi các doanh nghiệp Việt Nam được Chính
phủ ưu đãi dưỡi một hình thức trợ cấp nào đó, tạo ra sân chơi thiếu bình đẳng,
nhiều rủi ro. Mặc dù kinh tế trong những năm gần đây đạt bình quân 7.5% năm
nhưng họ cho rằng trong tương lai sẽ chững lại.
- Kỹ năng quản lý còn yếu kém, các báo cáo tài chính thường không chính
xác, bị sửa đổi bổ sung, sai sự thật… điều nay cung cấp các thông tin thiếu chính
xác và không đầy đủ tăng độ rủi ro cho nhà đầu tư.
- Các tổ chức tài chính ngân hàng trong nước còn thiếu và yếu kém về
những dịch vụ, sản phẩm dành cho các tầng lớp khác nhau trong nền kinh tế, các
ngân hàng nước ngoài bị hạn chế. Các ngân hàng có kinh nghiệm, uy tín và tiêm


12
TÀI LIÊU THAM KHẢO

1. Giảo trình TTCK. Đại học kinh tế Quốc Dân
2. Các trang Website:
- Ủy ban chứng khoán nhà nước
- Ngân hàng đầu tư và phát triển
- TTGDCKTP.HCM
- TTGDCKHN
- Ngân hàng ngoại thương


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status