Nghiên cứu điều trị khớp giả không nhiễm khuẩn do chấn thương thân xương đùi và xương chày bằng phương pháp ''bóc vỏ xương'' - Pdf 12

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ QUỐC PHÒNG
VIỆN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Y DƯỢC LÂM SÀNG 108
************* Nguyễn Lâm Bình NGHIÊN CỨU ĐIỀU TRỊ KHỚP GIẢ KHÔNG NHIỄM KHUẨN DO CHẤN THƯƠNG
THÂN XƯƠNG ĐÙI VÀ XƯƠNG CHÀY BẰNG PHƯƠNG PHÁP “BÓC VỎ XƯƠNG”

Chuyên ngành: Chấn thương - Chỉnh hình
Mã số: 62.72.07.25

trường hợp KG, chưa có nhận xét hay kết luận xác đáng.
Xuất phát từ thực tiễn trên đã thúc đẩy tôi thực hiện đề tài:
Nghiên cứu điều trị khớp giả không nhiễm khuẩn do chấn thương thân xương đùi và xương chày bằng
phương pháp “Bóc vỏ xương”
2. Mục tiêu của đề tài
- Nhậ
n xét khả năng liền xương của ổ khớp giả bằng hình ảnh Xquang và xạ hình xương. Đánh
giá vai trò các mảnh vỏ xương trong quá trình liền ổ “Bóc vỏ xương” trên thực nghiệm và trên lâm
sàng.
- Đánh giá kết quả phẫu thuật “Bóc vỏ xương” điều trị khớp giả thân xương đùi, xương chày.
Nhận xét ảnh hưởng của phương tiện kết xương.
3. Ý nghĩa của đề
tài
Đề tài có tính khoa học và thực tiễn vì đề cập đến một phương pháp có nhiều ưu điểm để điều trị
KG không nhiễm khuẩn thân xương đùi, xương chày. Mặt bệnh này là di chứng phức tạp thường gặp
trong Chấn thương Chỉnh hình. Nghiên cứu đã góp phần làm sáng tỏ khả năng liền xương sẵn có tại
đầu KG được kích thích bằng BVX và vai trò của các mảnh vỏ xương trong quá trình li
ền xương.
Đề tài có ý nghĩa thời sự vì cho đến nay, phương pháp BVX điều trị KG được đánh giá cao trên
Thế giới, nhưng ở trong nước mới chỉ thấy ứng dụng ở một vài trường hợp.
4. Cấu trúc của luận án
Luận án có 135 trang, gồm các phần: đặt vấn đề (2 trang), tổng quan (39 trang), đối tượng và
phương pháp nghiên cứu (19 trang), kết quả (39 trang), bàn luận (33 trang), kết luận (2 trang), kiến
nghị (1 trang). Trong lu
ận án có 15 bảng, 35 ảnh và 9 hình minh họa. Trong phần kết quả có 4 bệnh án
minh họa. Ngoài ra, luận án còn 142 tài liệu tham khảo và phần phụ lục. Phần tài liệu tham khảo gồm
30 tài liệu tiếng Việt, 105 tài liệu tiếng Anh, 7 tài liệu tiếng Pháp.

2
Chương 1: TỔNG QUAN

ng yếu tố sai sót trong điều trị: lựa chọn phương tiện kết xương (PTKX) không phù hợp, kết
xương không đúng kỹ thuật, không chỉnh hết di lệch, lấy bỏ nhiều mảnh xương vỡ, hoặc điều trị bảo
tồn nhưng không đủ vững đến khi liền xương.
1.1.3. Phân loại
Có nhiều cách phân loại KG không nhiễm khuẩn thân xương dài. Phân loại KG của Weber B.G.
và Cech O. (1976) khá chi tiết đượ
c đề cập đến nhiều trong y văn nhưng khó ứng dụng trong lâm sàng.
Gần đây, dựa trên hình ảnh Xquang nhiều tác giả đưa ra cách phân loại KG gần giống với cách phân
loại của Brinker M.R. năm 2003, phân thành 3 nhóm: KG phì đại, KG không có phản ứng tạo can
xương, KG xơ teo (có hiện tượng tiêu xương hoặc teo đầu KG)
Phân loại KG của Brinker N.R. dễ ứng dụng. Theo cách phân loại này, hiện nay còn có nhiều
quan điểm điều trị và tiên lượng khả
năng liền xương khác nhau đối với từng nhóm KG.
1.2. Chẩn đoán hình ảnh trong gãy xương, khớp giả
1.2.1. Chụp Xquang thường quy
3
Chụp Xquang thường quy cho thấy xương bình thường, xương gãy, tình trạng thưa xương, đặc
xương, tiêu xương hay phì đại. Hình ảnh Xquang thường quy cho phép chẩn đoán, phân loại KG, đồng
thời có thể đánh giá các mức độ liền xương: can xương độ I, II, III.
1.2.2. Chụp xạ hình xương
Một số dược chất phóng xạ dùng để chụp xạ hình xương 3 pha có đặc tính phân bố thụ động theo
dòng máu và tập trung ở xương.
Tc
99m
MDP (Technitium-99m-Methylen Diphotphonate) là dược chất phóng xạ thông dụng hiện
nay, ít độc tính, đào thải nhanh, ưa kết gắn với các tinh thể xương mới hình thành. Hình ảnh pha III
của chụp xạ hình xương, mức độ tập trung Tc
99m
MDP gián tiếp phản ánh hoạt động của tạo cốt bào.
Tham khảo y văn, chưa thấy tác giả nào đánh giá KG không nhiễm khuẩn bằng chụp xạ hình

m khuẩn dễ làm phẫu thuật ghép xương thất bại.
Nhiều chất liệu thay thế xương ghép đã được nghiên cứu ứng dụng an toàn. Theo De Long
J.W.G., Finkemeier C.G., một chất liệu ghép xương lý tưởng cần có 3 đặc tính: cảm ứng xương, dẫn
xương, tạo xương. Một số chất liệu: chất căn bản xương khử khoáng, Protein tạo hình thể xương, đã
được ứng dụng trong điề
u trị KG đạt hiệu quả nhưng chưa được khẳng định ở mẫu lớn và giá thành
cao.
4
Ghép xương có cuống mạch liền hoặc nối mạch nuôi đạt kết quả cao trong điều trị KG có khuyết
hổng phần mềm, mất đoạn xương. Phẫu thuật này khá phức tạp, không thấy ứng dụng cho KG không
nhiễm khuẩn thân xương dài.
1.3.3. Kết xương nén ép đơn thuần không ghép xương.
Kết xương vững chắc đạt được mục tiêu cố định vững ổ KG. Các tác giả
điều trị KG thân xương
đùi, xương chày bằng kết xương nẹp vít có sức ép: Parker B., Müller M.E., Rosen H., ; kết xương
bằng đinh nội tủy (ĐNT) không có chốt hoặc có chốt kết hợp tì nén bằng trọng lượng cơ thể:
Christensen N.O., Webb L.X., Kempf I., Bong M.R, ; sử dụng cố định ngoài nén ép: Brinker M.D.,
Johnson E.E., , tất cả đều không ghép xương. Kết quả liền xương đạt từ 80% đến 95%. Mỗi PTKX
có ưu nhược điểm riêng, Đ
NT có chốt là biện pháp cố định tốt nhất cho KG thân xương dài chi dưới.
Gần đây, nhiều tác giả như McKee M.D. (2000), Brinker M.D. (2003), Brilhault J. (2005),
Phieffer L.S. (2006), Crowley D.J. (2007), đều có cùng nhận xét: kết xương nén ép đơn thuần không
ghép xương chỉ đạt hiệu quả cao đối với những KG phì đại.
1.3.4. Phương pháp “Bóc vỏ xương”
1.3.4.1. Nghiên cứu thực nghiệm “Bóc vỏ xương” của Judet R.
Judet R. nghiên cứu so sánh diễn biến hình thành mạch máu tân tạo trên xương đùi động vật bị

làm gãy xương 3 đoạn, một nhóm được BVX và một nhóm không BVX. Kết quả cho thấy mạng mạch
máu tân tạo phát triển nhanh, mạnh ở vùng BVX và nhanh chóng xâm nhập váo đoạn xương trung
gian.

gian liền xương.
Nhiều tác giả khác: Judet T., Jenny G., Müller M.E., Romano P., Beckers L., đã ứng dụng thành
công phương pháp BVX điều trị KG thân xương dài, tỉ lệ liền xương đạt từ 93% đến 98%. Các tác giả
đều nhận thấy BVX là phương pháp điều trị đơn giản, hiệu quả và an toàn.
Tình hình trong nước: phẫu thuậ
t kết xương kết hợp ghép xương mào chậu tự thân điều trị KG
không nhiễm khuẩn thân xương dài vẫn đang là phương pháp điều trị chủ yếu ở hầu hết các Bệnh viện.
Phương pháp BVX được một số tác giả như: Phạm Văn Phúc, Đặng Hưng Khánh (1973), Nguyễn
Bình Nguyên (2004), Trần Anh Dũng (2006), Vương Văn Hà (2008) ứng dụng điều trị cho một vài
trường h
ợp KG. Các tác giả đều nhận thấy phương pháp đạt hiệu quả và không có biến chứng, nhưng
do số liệu ít nên chưa đưa ra được những kết luận xác đáng.
Tóm lại, về mô bệnh học, vai trò của mảnh vỏ xương còn chưa được sáng tỏ. Trong lâm sàng,
BVX là một phương pháp điều trị KG thân xương dài đạt hiệu quả, ít biến chứng. Ở nước ta hiện nay,
phương pháp này còn ít được ứ
ng dụng. Đó chính là những lý do triển khai nghiên cứu đề tài này.

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Phần nghiên cứu thực nghiệm
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu thực nghiệm
7 con thỏ đực trưởng thành, khỏe mạnh, nặng 2kg → 3kg/1 con, được đánh số thứ tự, nuôi tách
biệt từng ngăn, cùng một chế độ ăn.
2.1.2. Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
Thiết kế nghiên cứu di
ễn biến mô bệnh học ổ BVX đối chứng với mảnh xương cứng tự thân được
ghép theo kiểu Phemister.
Mỗi con thỏ: xương đùi phải được mổ BVX, xương đùi trái được ghép mảnh xương sườn dầy
khoảng từ 0,2 mm đến 0,5 mm.
Mổ lấy xương đùi thỏ làm tiêu bản mô bệnh học sau mổ thực nghiệm 3 tuần, 4 tuần, 5 tuần (mỗi
tuần 2 con), 6 tuần (1 con).

+ Phân loại KG dựa trên Xquang (theo Brinker M.R.): nhóm 1 (phì đại), nhóm 2 (không có
can), nhóm 3 (xơ teo, khuyết xương).
+ Nhận xét hình ảnh xạ hình xương theo phân loại KG.
- Kết quả sớm sau phẫu thuật: lâm sàng, Xquang ngay sau mổ.
- Kết quả diễn biến liền xương ổ KG sau BVX: đánh giá kết quả liền x
ương trên Xquang kiểm tra
hàng tháng theo tiêu chuẩn được Nghiên cứu sinh xây dựng, gồm 5 mức độ can xương:
M
0
: các mảnh vỏ xương bao quanh KG, chưa có bóng can xương.
M
1
: khe các mảnh vỏ xương mờ đi, tương ứng can xương độ I.
M
2
: một vài mảnh vỏ xương dính với nhau, có chỗ can xương độ II.
M
3
: cả vùng BVX thành một khối tương ứng can xương độ II
M
4
: cả vùng BVX thuần nhất, tương ứng can xương độ III, liền xương vững.
- Thời gian liền xương.
- Kết quả liền xương: theo 3 mức độ (liền xương vững, liền xương chưa vững, không liền
xương).
- Kết quả phục hồi chức năng: đánh giá theo tiêu chuẩn phục hồi chức năng gồm 4 mức độ (rất
tốt, tốt, vừa, kém).
7
Chương 3: KẾT QUẢ
3.1. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm

KG nhóm 1 53 58,2%
KG nhóm 2 20 22,0%
KG nhóm 3 18 19,8%
KG phì đại chiếm tỉ lệ cao nhất.
3.2.2.2. Kết quả hình ảnh xạ hình xương
Tất cả 35 BN được chụp xạ hình xương đều tăng tập trung phóng xạ tại vị trí KG, 7 BN có khe
giảm xạ tương ứng khe KG.
Bảng 3.2: Tập trung phóng xạ ở pha III theo phân loại KG (n = 35).
Hình thái ổ KG (theo hình ảnh Xquang)
Xạ hình pha III:
Tăng phóng xạ tại KG
nhóm 1 nhóm 2 nhóm 3
Không có khe giảm xạ 11 10 7
Có khe giảm xạ 4 1 2
Cộng 15 11 9
20 KG nhóm 2 và nhóm 3 cũng đều tăng tập trung phóng xạ.
8
3.2.3. Kết quả diễn biến sớm sau phẫu thuật
88/91 BN có diễn biến ổn định, liền sẹo kỳ đầu.
2 BN có máu tụ vết mổ (ở phần mềm), liền vết mổ sau 20 ngày.
1 BN bị rách động mạch chày trước do xuyên đinh Steinmann.
Không có biến chứng nhiễm khuẩn.
3.2.4. Diễn biến hình thành can xương tại ổ “Bóc vỏ xương”
Bảng 3.3: Kết quả mức độ can xương của
ổ BVX từng tháng sau mổ.
Kết quả mức độ hình thành can xương
BN đến khám
Thời điểm Số BN
M
0

xương chày
Cộng
≤ 4 tháng (th) 0 11 3 14
> 4 th  6 th 10 17 10 37
> 6 th  8 th 10 4 1 15
> 8 th 2 1 0 3
Cộng 22 33 14 69
Trung bình
Độ lệch chuẩn
6 tháng 8 ngày
22 ngày
4tháng 19ngày
13 ngày
4tháng 25ngày
15 ngày

Có 20/22 KG thân xương đùi (91%) liền xương vững sau mổ BVX từ 4 tháng đến 8 tháng.
Có 41/47 KG thân xương chày (87,2%) liền xương vững trong khoảng 6 tháng sau mổ BVX.
3.2.5.2. Liên quan đến phương tiện kết xương
Bảng3.5: Thời gian liền xương liên quan đến PTKX (n = 69).
PTKX
Thời gian
liền xương
CERNC đinh SIGN Küntscher Nẹp vít
Cộng
≤ 4 tháng (th) 11 3 0 0 14
> 4 th  6 th
14 21 2 0 37
> 6 th  8 th
3 9 1 2 15


Độ lệch chuẩn:
5 tháng 21 ngày

21 ngày
5 tháng 6 ngày

15 ngày
4 tháng 20 ngày

14 ngày
Giữa các nhóm, thời gian liền xương khác nhau, với p < 0,05.
3.2.6. Kết quả liền xương
Bảng 3.7: Kết quả liền xương (n = 91).
Kết quả Số BN (tỉ lệ %)
Liền xương vững
Liền xương chưa vững
Không liền xương
87 ( 95,6%)
1 (1,1%)
3 (3,3%)
Cộng 91 (100%)
Có 88/91 ổ KG (96,7%) đạt được liền xương sau 1 lần mổ BVX.
3.2.6.1. Kết quả liền xương theo phân loại khớp giả
Bảng 3.8: Kết quả liền xương theo phân loại KG (n = 91).
Phân loại ổ KG
Kết quả
Nhóm 1 Nhóm 2 Nhóm 3
Cộng
Liền xương vững 52 19 16 87

3.2.7. Kết quả phục hồi chức năng chi thể
Có 78/91 BN (85,7%) được theo dõi xa, đánh giá kết quả phục hồi chức năng. Thời gian theo dõi
đánh giá kết quả xa sau mổ BVX: dài nhất: 12 năm, ngắn nhất: 1 năm, trung bình: 3,25 năm (±1,5
năm)
Bảng 3.11: Kết quả phục hồi chức n
ăng chi thể (n = 78).
Kết quả Số bệnh nhân Tỉ lệ %
Rất tốt 21 26,9%
Tốt 37 47,5%
Vừa 16 20,5%
Kém 4 5,1%
Cộng 78 100%
58/78 BN (74,4%) đạt kết quả phục hồi chức năng tốt và rất tốt.
- Liên quan đến thời gian KG
Bảng 3.12: Kết quả phục hồi chức năng liên quan đến thời gian KG
Thời gian KG
K
ế
t quả
điều trị
6  8 tháng 9  12 tháng >1nă
m
8nă
m
Cộng
Rất tốt 12 6 3 21
Tốt 13 12 12 37
Vừa 2 2 12 16
Kém 1 1 2 4
Cộng 28 21 29 78

gãy, kích thước PTKX nhỏ, ngắn,
Nguyên nhân KG còn do những yếu tố bất lợi khác tác động đến quá trình liền xương ổ gãy.
Nhưng nguyên nhân chiến tỉ lệ cao là cố định không vững và những thiếu sót trong điều trị. Đây là
những nhận định rất có ích cho việc dự phòng KG và lập kế hoạch điều trị nhữ
ng BN này.
4.2. Hoạt động tạo xương tại ổ khớp giả
Dược chất Tc
99m
MDP được phân bố thụ động theo dòng máu, có đặc tính ưa kết gắn vào các tinh
thể xương mới hình thành. Theo Taylor A., Christian P.E., trên xạ hình xương pha III, vùng tập trung
Tc
99m
MDP phản ánh sự cấp máu và hoạt động của tạo cốt bào.
Trên xạ hình xương 35 BN, tất cả đều tăng tập trung Tc
99m
MDP tại ổ KG ở cả 3 pha: ở pha I, pha
II chứng tỏ cơ thể có phản ứng tăng tuần hoàn tại vùng KG; ở pha III chứng tỏ xương đầu KG được
cấp máu đầy đủ, vẫn đang có nhiều hoạt động tạo xương của tạo cốt bào. Trong đó có 20 KG không có
can xương hoặc có sự tiêu mòn xương, khuyết xương trên Xquang. Gặp 7 trường hợp có khe giảm tập
trung phóng xạ tương ứng v
ới khe KG trên Xquang.
Từ kết quả xạ hình xương của 35 BN, nhận thấy: tổ chức xương đầu KG được cung cấp máu đầy
đủ có nhiều tạo cốt bào đang hoạt động, kể cả những KG có hình ảnh rất kém phát triển can xương
trên Xquang. Tổ chức ở khe KG hầu như không có hoạt động tạo xương.
Từ nghiên cứu giải phẫu bệnh KG, Urist M.R. (1954) đã nhận xét: hoạt động tạo x
ương không
dừng lại cho tới khi liền xương ổ gãy. Ở hai đầu gãy luôn có “nỗ lực” hình thành xương mới, nhưng bị
chặn bởi mô sụn sợi và sụn hyaline thoái hóa nằm ở khe KG.
Theo Nguyễn Văn Nhân (1960), trên Xquang, trong phẫu thuật, dù thấy xương có tình trạng đông
đặc hay thưa xương thì trong các đầu gãy của KG bao giờ cũng bắt gặp hoạt động tái tạo xương.

SIGN là loại đinh đặc, có khoan ống tủy. Ở giai đoạn đầu sau mổ, nguồn máu và các yếu tố làm liền
xương ổ KG chỉ có thể được đưa đến từ những mảnh vỏ xương.
Tóm lại, có thể khẳng định: mảnh vỏ xương dính cốt mạc, cơ được tạo ra từ kỹ thuật BVX là
m
ảnh ghép có nguồn mạch nuôi, có vai trò tích cực, chủ động trong quá trình liền xương ổ KG.
4.4. Chỉ định phẫu thuật “Bóc vỏ xương” trong điều trị khớp giả
4.4.1. Tình trạng phần mềm, dinh dưỡng tại chỗ và nguy cơ nhiễm khuẩn
Những KG đã phẫu thuật nhiều lần hoặc có tiền sử viêm rò kéo dài thường có nhiều tổ chức xơ
sẹo bao quanh hai đầu KG, không có nền nhận tốt cho m
ảnh xương ghép kinh điển. Những KG có sẹo
xấu dính xương, việc lóc cốt mạc bộc lộ và làm sạch hai đầu KG đôi khi không dễ làm, nhưng rất
thuận lợi nếu BVX. Chính thao tác đục BVX lại đảm bảo ít tổn thương cho những mạch máu nghèo
nàn ở sẹo dính xương.
Trong nghiên cứu này, có 26 ổ KG có phần mềm sẹo xấu dính xương đều liền vết mổ kỳ đầu sau
BVX, kết quả li
ền xương 25 ổ KG. Có 5 ổ KG mới hết viêm rò từ 4 đến 6 tháng, sau mổ BVX không
có trường hợp nào nhiễm khuẩn bùng phát, tất cả đều đạt liền xương.
4.4.2. Chỉ định theo hình thái ổ khớp giả
Nhiều tác giả có cùng quan điểm điều trị đối với những KG phì đại, việc ghép xương là không
cần thiết. Mục tiêu chính cần đạt được trong biện pháp điều trị KG phì đại là phả
i cố định vững.
Vấn đề còn chưa thống nhất trong lựa chọn biện pháp kích thích quá trình liền xương đối với
những ổ KG không có can xương, KG xơ teo, khuyết xương. Một số tác giả theo quan điểm của Judet
R. khi lựa chọn chỉ định BVX điều trị những KG loại này và đã thành công. Ghép xương chỉ được
thực hiện khi có khuyết xương lớn và bao giờ mảnh xương ghép c
ũng được đặt dưới lớp vỏ xương.
Trong nghiên cứu này, 52/53 KG nhóm 1, 35/38 KG nhóm 2 và nhóm 3 đã liền xương vững sau
mổ BVX. Có 1 KG nhóm 3 (hết rò 4 tháng) đã đạt liền xương nhưng chưa vững do khuyết xương.
13
Tôi đồng thuận với quan điểm của Judet R. trong chỉ định BVX điều trị KG. Ngoài ra, cần nhấn

quá trình liền xương.
- BVX thuận lợi ở cả những KG có sẹo xấu dính xương.
- BVX đạt được kết quả liền xương với khối can xương hình thoi vững chắc, phù hợp sinh lý chịu
lực của xương đùi, xương chày.
- Có thể rút ngắn thờ
i gian chờ ổn định nhiễm khuẩn tại KG.
- Phương tiện dụng cụ phẫu thuật đơn giản, kỹ thuật dễ thực hiện, không có biến chứng phức tạp,
đạt tỉ lệ thành công cao.
4.6.2. Nhược điểm
Những KG xơ teo dạng bút chì, khuyết xương lớn khó có thể đạt được liền xương vững bằng
BVX đơn thuần không ghép xương.
4.6.3. Về kết quả
điều trị
Kết quả liền xương: Sau một lần phẫu thuật BVX 88/91 KG (96,7%) đạt liền xương, 3 KG (3,3%)
không liền xương. Nguyên nhân của 3 trường hợp thất bại do yếu tố cố định không vững. 1 KG đã liền
xương sau mổ BVX lần 2.
95,6% KG đạt liền xương với khối can xương hình thoi vững chắc là một trong những ưu điểm
của BVX đồng thời phù h
ợp với chức năng chịu trọng lực cơ thể của chi dưới.
14
Thời gian liền xương trung bình: 6 tháng 8 ngày (± 22 ngày) đối với KG thân xương đùi; 4 tháng
19 ngày (± 13 ngày) đối với KG 2/3 trên xương chày; 4 tháng 25 ngày (± 15 ngày) đối với KG 1/3
dưới xương chày. Thời gian liền xương trong nghiên cứu này dài hơn so với của Judet R. và Judet T.
do tiêu chuẩn đánh giá liền xương khác nhau. Theo tôi, thời gian như vậy để đạt liền xương vững đối
với di chứng KG thân xương đùi, xương chày là chấp nhận được.
Kết quả phục hồi chức n
ăng: Có 74,4% đạt kết quả tốt và rất tốt, chức năng chi thể bình thường
hoặc gần như bình thường. Có 20,5% đạt kết quả vừa, BN hài lòng với kết quả điều trị. 5,1% kết quả
kém, cần điều trị bổ xung.
Có thể khẳng định phẫu thuật BVX kết hợp với kết xương vững chắc điều trị KG thân xương đ

- Kế
t quả phục hồi chức năng chi thể: có 74,4% đạt kết quả tốt, rất tốt, 20,5% đạt mức độ vừa và
5,1% đạt kết quả kém.
Phương pháp “Bóc vỏ xương” có ưu điểm: thực hiện được ghép xương tự thân nhưng không phải
thêm một phẫu thuật lấy xương ghép; thao tác thuận lợi cả trong những trường hợp khớp giả có phần
mềm sẹo x
ấu (26/91 bệnh nhân); kỹ thuật “Bóc vỏ xương” không phức tạp, dễ thực hiện với trang bị
phòng mổ và dụng cụ phẫu thuật chấn thương thông thường. Nhược điểm của “Bóc vỏ xương”: can
xương không bồi đắp đủ đối với những khớp giả khuyết xương lớn.
Kết xương bên trong bằng đinh nội tủy có chốt cố định khớp gi
ả thân xương đùi, xương chày
không nhiễm khuẩn là biện pháp hợp lý và hiệu quả. Cố định ngoài bằng cọc ép ren ngược chiều phù
hợp với khớp giả thân xương chày trong điều kiện không có đinh nội tủy có chốt hoặc nhiễm khuẩn ổn
định dưới 6 tháng. Hai biện pháp cố định này ít ảnh hưởng tới kỹ thuật “Bóc vỏ xương”, cho phép
bệnh nhân vận động các khớp kế c
ận và đi lại sớm.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status