ĐẶT VẤN ĐỀ
Sa lệch thể thuỷ tinh (TTT) tiền phòng do chấn thương đụng dập nhãn
cầu là một cấp cứu thường gặp trong nhãn khoa. Nguyên nhân đa dạng, diễn
biến phức tạp, hiệu quả sau điều trị hạn chế, phụ thuộc vào nhiều yếu tố (bệnh
nhân đến sớm hay muộn, lệch nhiều hay ít, mức độ tổn thương, thái độ xử trí
ban đầu).
Sa lệch thể thuỷ tinh tiền phòng bên cạnh đặc điểm chung của một chấn
thương đụng dập như: phù giác mạc, biến đổi góc tiền phũng, tỏch thể mi, đứt
chân mống mắt, máu tiền phòng, đĩa máu giác mạc, đụng dập mống mắt, xuất
huyết dịch kớnh, phự võng mạc … Nó còn đặc điểm riêng đó là: sa lệch thể
thuỷ tinh ra khỏi vị trí giải phẩu bình thường.
Khi lệch thể thuỷ tinh, dây Zinn có thể đứt hoặc mất một phần, thể thuỷ
tinh không còn nằm ở trung tâm trục thị giác nó chỉ còn một phần ở vùng
đồng tử hoặc sau mống mắt, sa TTT là khi toàn bộ dây zinn bị đứt, vì vậy thể
thuỷ tinh có thể rơi ra tiền phòng hoặc bờ đồng tử, rơi vào buồng dịch kính
hoặc ra khỏi nhãn cầu. Sa lệch TTT có rất nhiều nguyên nhân, cũng có thể là
triệu chứng của một bệnh toàn thân, bẩm sinh, di truyền, hay thứ phát sau
bệnh lý của nhãn cầu. Song chấn thương là nguyên nhân hàng đầu gây sa lệch
TTT. Theo báo cáo của Amaud B và Duperon G năm 1981, sa lệch TTT sau
chấn thương chiếm 1% số bệnh nhân vào viện điều trị, và 4% trong số bệnh
nhân chấn thương |13 |. Tiến triển của sa lệch TTT thường rất nặng, nó phụ
thuộc vào hình thái lâm sàng và gây rất nhiều biến chứng để lại hậu quả trầm
trọng, tổn hại về thị lực có thể dẫn tới mù loà do những biến chứng như: Viêm
màng bồ đào, Glocom thứ phát, phù nề loạn dưỡng giác mạc, đục TTT, ngoài ra
còn kèm theo những tổn thương phối hợp như: Xuất huyết tiền phòng, xuất
huyết dịch kính, bong võng mạc, tổn thương góc tiền phòng, làm cho tình trạng
bệnh cảnh nặng nề, phức tạp khó khăn trong chẩn đoán, điều trị và tiên lượng.
Đây là vấn đề có tính chất thời sự, gây nên sự quan tâm, thu hút, tranh
luận sôi nổi trong và ngoài nước.
Việt Nam là một nước đang phát triển, trong những năm qua cùng với
sự phát triển của kinh tế xã hội, chấn thương mắt đang có xu hướng tăng lên
Mặt trước TTT tiếp giáp với mặt sau của mống mắt, tiền phòng. Trung
tâm mặt trước TTT cách trung tâm mặc sau giác mạc 4 mm.
Mặt sau TTT tiếp giáp với màng dịch kớnh trờn một vùng rộng, đường
kính khoảng 5 mm, gọi là khoang Vogt giữa màng dịch kính và TTT quanh
vùng Vogt có một khoảng dính gọi là dây chằng Berger và Wieger. Ở người
trẻ, dây chằng này lỏng lẻo, vì vậy người ta không có chỉ định lấy TTT trong
bao đối với người trẻ, vì dễ gây biến chứng thoát dịch kính.
1.1.2. Bao thể thuỷ tinh [22], [8].
Bao TTT là một màng bọc bao quanh TTT, có cấu trúc là một màng
đáy trong suốt, có tính chất đàn hồi, được cấu tạo bởi các sợi collaren týp IV,
V. Do các tế bào biểu mô sản sinh ra, bao TTT có khả năng biến đổi hỡnh thù
trong khi điều tiết, giúp cho mắt có khúc xạ tốt nhất trong khi nhìn, và cũng là
nơi treo bám của TTT, từ xích đạo trở về trước gọi là bao trước, từ xích đạo
trở về sau gọi là bao sau. Độ dầy của bao thể thuỷ tinh tuỳ theo vị trí, dầy nhất
là ở vùng xích đạo, bao trước dầy hơn bao sau, và trung tâm bao sau là nơi
3
mỏng nhất. Độ dầy của bao TTT sẽ tăng dần theo độ tuổi. Dưới bao trước là
lớp đơn tế bào biểu mô, lớp này có khả năng tái tạo nhanh, vì vậy khi bao
trước của TTT bị vết rách nhỏ, biểu mô có thể pháp triển, tái tạo và hàn kín
vết thương.
1.1.3. Các sợi dây zinn [22], [6,] [8], [26]
- Thể thuỷ tính được đeo bám và nâng đỡ bởi các sợi dây zinn, là một
hệ thống những sợi có cấu trúc dạng gel, gần giống như dịch kớnh, cỏc sợi
này suất phát từ lớp đáy của biểu mô không sắc tố pars Plana và pars Plicata
của thể mi bám vào vùng chu biên của bao TTT (vùng xích đạo). Các sợi xếp
theo hình nan hoa dầy đặc.
- Ở bao trước dây zinn nhiều và chắc hơn, lấn ra trước 1,5 mm. Bao sau
lấn ra sau 1,5 mm. Các sợi dây zinn không đi xuyên qua bao TTT mà bám
vào lá mỏng dây chằng trên bao của TTT. Do cấu tạo mỏng và yếu của TTT ở
vùng này nên khi bị chấn thương, dây chằng zinn bị đứt một phần hay toàn
đứt thì TTT sẽ bị lệch hoặc trệch ra khỏi vị trí giải phẫu. Nên nếu giây zin bị
đứt trên 25% thì TTT bị lệch sang phải hoặc sang trái, cũng có thể ra trước
hoặc sau, gây cận thị, loạn thị, song thị một mắt do lệch tâm của TTT. Nếu
toàn bộ dây zinn bị đứt thì TTT có thể bị sa vào buồng dịch kính ra trước ở
diện đồng tử, hoặc ở tiền phòng |22, 5, 8, 16, 18, 20|. Sóng phản hồi xuất hiện
sau 0,4 ms đưa trục trước sau nhãn cầu về vị trí bình thường, trong khi sóng
sung kích lan ra ở ẵ sau xích đạo của nhãn cầu, nó gõy nhiều rối loạn vận
mạch. Các phản ứng vận mạch xuất hiện sau làn sóng phản hồi gây thiếu máu,
làm chậm tuần hoàn vận mạch, gây tổn thương tiêu huỷ, hoặc hoại tử tế bào
võng mạc.
5
- Sau gây co mạch là giãn mạch, làm tăng quá trình thẩm thấu, làm
thoát huyết tương, gây xuất huyết, ngoài ra chấn thương đụng dập còn gây ra
hàng loạt những tổn thương như: Rách màng Descemet, tổn thương mống
mắt, đứt cơ co đồng tử -> gõy gión đồng tử, đục TTT
- Tổn thương góc tiền phũng, vựng bố làm bong thể mi - > gõy tỏch
thể mi -> lựi gúc kèm theo tổn thương thể mi - > gây xuất huyết tiền phòng,
xuất huyết dịch kính, phù võng mạc, rách võng mạc, xuất huyết võng mạc,
bong võng mạc, có thể rách hắc mạc.
1.3. Sa lệch TTT do chấn thương đụng dập nhãn cầu.
• Định nghĩa sa lệch TTT :
Lệch TTT : Là khi dây Zinn chỉ bị đứt một phần, thể thủy tinh dii lệch
khỏi vị trí giải phẫu bình thường, nhưng vẫn còn nằm ở sau bờ đồng tử.
Sa TTT : Là khi toàn bộ dây Zinn bị đứt, thể tinh bị rơi tự do về phía
sau vào buồng dịch kính hoặc sa ra phía trước, sa tiền phũng ô Cưỡi ngựa ằ ở
bờ đồng tử hoặc sa ra ngoài nhãn cầu.
1.3.1. Nguyên nhân
Khi chấn thương đụng dập gây áp lực mạnh đột ngột, gõy gión nhanh ở
vùng xích đạo, làm đứt dây chằng zinn, gây sa lệch TTT.
Có thể ước tính khi dây Zinn bị đứt > 25% sẽ dẫn tới lệch TTT. Thể
Trung (1991) nghiên cứu 39 ca sa lệch TTT sau chấn thương tại Bệnh viện
Mắt Trung ương, lệch TTT 34/39 ca |12|. Theo Lê Công Đức năm 2002
nghiên cứu 87 ca sa lệch TTT sau chấn thương tại Bệnh viện Mắt Trung
ương, lệch chiếm 67/87 ca (77,01%).
• Lệch ít thường kín đáo khó phát hiện, thấy các triệu chứng chủ quan
như nhìn mờ (thị lực có thể giảm hoặc giảm ít) thường dẫn tới các rối loạn thị
7
giác như biến dạng hình ảnh, cận thị nhẹ, loạn thị không đều, khó điều chỉnh,
thường gặp các triệu chứng chủ quan như rung rinh mống mắt, rung rinh thể
thuỷ tinh, mất tính song song khi cắt cúp quang học của giác mạc, mống mắt,
TTT. Trong một số trường hợp sử dụng đèn khe ta thấy bờ đồng tử cách
mống mắt một khoảng, độ sâu tiền phòng không đều có sự khác biệt giữa độ
sâu tiền phòng và hình dáng lựi gúc giữa 2 mắt. Có thể thấy thoát dịch kính
khu trú ra tiền phòng hoặc bờ đồng tử, đây là dấu hiệu có giá trị chẩn đoán, vị
trí thoát dịch kính tương ứng với vị trí đứt dây zin. Khi bệnh nhân thay đổi tư
thế, có thể thay đổi vị trí của TTT. Khi soi góc tiền phòng có thể thấy chỗ
TTT còn bám vào dây chằng và góc hẹp phía đối diện thỡ gúc mở rộng, có thể
kèm theo triệu chứng tổn thương khác của góc (Lùi gúc, rỏch bố, bong thể
mi) |20;24| cho thấy nơi chân mống mắt bị đứt qua chỗ đứt có thể thấy vựng
dõy zinn bị tổn thương và dịch kính.
• Lệch nhiều gây rối loạn thị giác một cách trầm trọng thường gặp:
cận thị, viện thị cấp, loạn thị nặng. Khám thấy xích đạo TTT ở diện đồng
tử,gây song thị một mắt làm cho bệnh nhân khó khăn trong sinh hoạt và học
tập. Có thể thấy dịch kính ở diện đồng tử hoặc ra tiền phũng. Rìa của TTT có
thể xuất hiện ở đáy mắt như một bóng đen hình lưỡi liềm vì sự phản xạ bên
trong của ánh sáng khi khám. Có thể nhìn thấy hình ảnh của hai địa thị. Soi
ánh đồng tử có giá trị trong việc mô tả rìa của TTT. Các tổn thương như rung
rinh mống mắt làm thay đổi độ sâu tiền phòng rõ nét hơn rất nhiều.
1.3.2.2. Sa thuỷ tinh thể (Dislocation)
• Sa trước: Theo Arnaud B. và cộng sự năm 1982, trong 85 trường
thay đổi vị tri TTT cũng thay đổi theo. Thể thuỷ tinh có thể dính vào gai thị
hoặc vùng hoàng điểm, thường TTT ở vị trí 6 giờ, dựng kớnh tiếp xúc 3 mặt
9
gương cho phép xác định vị trí cũng như di động trong các vị trí khác nhau
của TTT và mức độ dính của TTT vào dịch kính và võng mạc, đối với những
trường hợp có xuất huyết nội nhãn, hay đục dịch kớnh, khụng xác định bằng
kính tiếp xúc 3 mặt thỡ dựng siêu âm sẽ có giá trị giúp ta chẩn đoán xác định.
• Thể Thuỷ Tinh sa ra ngoài nhãn cầu: Bệnh cảnh này thường hiếm
gặp. Theo Sedan 1963, trong suốt 30 năm chỉ có 5 trường hợp sa TTT ra khỏi
nhãn cầu. Theo B. Arnaud và cộng sự 1982, trong 85 trường hợp ở
Montpellier gặp 4 ca |25|. Theo Hoàng Việt Nga (1990) và Nguyễn Ngọc
Trung (1991) |12| không thấy gặp trường hợp nào.
• Khi chấn thương nhãn cầu bị vỡ thể thuỷ tinh có thể bị bắn ra
ngoài, nằm dưới kết mạc hoặc dưới bao Stenon, nó thường kèm theo cú phòi
kẹp mống mắt hoặc thể mi, qua vết rách của mạc. Nhưng thường gặp nhất ở
góc mũi trên phía sau vựng rìa, có thể thuỷ tinh nằm ẵ trong hoặc ẵ trờn vết
thương củng mạc. Khi khỏm trờn lâm sàng biểu hiện như một u kết mạc. Do
thể thuỷ tinh đội kết mạc lên, vị trí vết thương củng mạc thường gặp là trên
trong phía sau vựng rìa 3 – 4 mm, theo DuKer – Elder. Tuy nhiên cũng có thể
gặp ở những vị trí ẳ khỏc của nhãn cầu, gây sa TTT dưới kết mạc. Có thể
dung nạp tốt song những tổn thương khác kèm theo của nhãn cầu có thể gõy
lên những biến chứng nặng nề, để lại hậu quả về thị lực rất trầm trọng. Một số
trường hợp sa TTT dưới kết mạc mà gây tổn thương ở vùng thể mi, thường
gõy lờn tình trạng tăng nhãn áp.
• Sa TTT dưới bao Stenon: Là một chấn thương đụng dập mạnh vào
nhãn cầu làm rách củng mạc, chỉ cho phép ta chẩn đoán được khi dịch kớnh
cũn trong suốt, ta thấy mất TTT và có vết rách củng mạc (TTT không còn
trong nhãn cầu) |26|.
10
• Mất TTT thường gặp khi chấn thương làm vỡ nhãn cầu, gõy rỏch
phút thứ 2 sau chấn thương, nhận thấy nhãn áp đã tăng lên và nhãn áp tăng
đạt mức tối đa sau 10 – 15 phút, rồi giảm xuống sau 30 phút, để rồi giữ
nguyên nhãn áp cao trong giờ đầu. Đặc biệt các tác giả nhận thấy hiện tượng
tăng Prostaglandin (PG), nhất là PGE và cho rằng đụng dập đã giải phóng
PGE trong mắt và làm tăng nhãn áp |5|.
• Theo tác giả Arnaud (1982) đã gặp 30% tăng nhãn áp trong các ca sa
lệch TTT do chấn thương đụng dập |24|.
• Theo Trần Văn An (1999) |1| tăng nhãn áp gặp 21,62%.
• Theo Lê Công Đức (2002) tăng nhãn áp gặp 37,93%.
Nhãn áp có thể tăng ngay sau chấn thương nhưng cũng có thể xuất hiện đột
ngột sau một thời gian dài. Vì vậy cần phải theo dõi sát nhãn áp của bệnh nhân.
• Roberd – RiTch: Chia nguyên nhân tăng nhãn áp trong sa lệch TTT thành
2 nhúm, nhúm có liên quan đến TTT và nhóm không liên quan đến TTT.
+ Nhóm liên quan đến TTT:
- Nghẽn đồng tử bởi TTT.
- Nghẽn đồng tử bởi dịch kính ra tiền phòng.
- Nghẽn đồng tử bởi TTT và dịch kính.
- Tăng nhãn áp do tiêu TTT.
- Thể thuỷ tinh ra tiền phòng.
- Tăng nhãn áp do những đợt đóng góp bởi TTT lệch nhô ra trước,
làm tăng diện tiếp xúc của TTT với mặt sau mống mắt, gây
nghẽn đồng tử thứ phát. Thuỷ dịch bị ứ đọng ở hậu phòng, đẩy
vùng chu biên của mí mắt ra phía trước, làm cho tiền phũng nụng
12
gây ra gúc đúng, nếu tình trạng này kéo dài lập đi lặp lại nhiều
lần gây tổn hại vựng bố hoặc dớnh gúc.
+ Nhóm không liên quan đến TTT:
- Có bất thường ở góc tiền phòng.
- Cú lựi gúc.
- Trùng với Glocom góc mở mãn tính.
do nhãn áp tăng cao, nếu không được điều trị cũng gây phù nề và loạn dưỡng
giác mạc.
1.3.3.4. Đục TTT tăng dần.
Trong nhãn cầu chứa rất nhiều chất dịch, khi bị chấn thương bị một sức ép
truyền theo các hướng vào TTT, làm cho tổn thương biểu mô của bao TTT,
các thớ TTT và gây đục TTT dưới nhiều hình thái như : Đục hình cánh hoa
hồng, đục hình vòng, đục hình toả lan, đục dưới bao.
1.3.4. Xử trí sa lệch TTT
• Nguyên tắc sử trí sa lệch TTT:
+ Điều trị nội khoa : Nếu TTT lệch ít không có biến chứng hay nguy cơ
biến chứng TL > 3/10 chưa có chỉ định điều trị bằng phẫu thuật mà điều trị
nội khoa và theo dõi.
+ Điều trị ngọai khoa : Chỉ định phẫu thuật khi lệch TTT có TL< 3/10 có
song thị một mắt. Hoặc lệch có đe doạ chuyển thành sa TTT hoặc có biến
14
chứng như : Tăng nhãn áp, bong võng mạc thì phải xử lý biến chứng hoặc đục
TTT thì phẫn thuật lấy TTT.
• Theo Arnaud B., Triby B., Esmenjaud E., Zaghroue K.(1982) |24|:
+ TTT sa ra tiền phòng: Lấy TTT cấp cứu.
+ Lệch TTT: Phẫu thuật nếu có biến chứng như đục TTT, glocom bong
võng mạc, đe doạ lệch sau.
+ Lệch sau: Chỉ phẫu thuật khi có biến chứng tăng nhãn áp, trước khi
phẫu thuật cần điều trị thử bằng thuốc giãn đồng tử, cho bệnh nhân nằm sấp
để TTT ra tiền phòng sau đó dùng co đồng tử và phẫu thuật ngay.
Theo Paton và Gloldhergs (1985) |17|:
+ Phẫu thuật cấp cứu trong những trường hợp TTT sa ra tiền phòng, cưỡi
ngựa ở bờ đồng tử gây tăng nhãn áp, rối loạn nộ mô giác mạc.
Sa TTT dịch kính là một biến chứng nặng của chấn thương đụng dập
nhưng ít nguy cơ tăng nhãn áp, những bệnh nhân này thường chờ đợi khi quá
trình viờm yờn, nếu trục nhìn sạch thì đặt kính tiếp xúc.
Nhìn chung các tác giả thống nhất về chỉ định lấy TTT sa, lệch trong các
trường hợp sau:
- TTT trong tiền phòng.
- TTT cưỡi ngựa ở bờ đồng tử.
- TTT đục, lệch gây giảm thị lực nhiều, song thị.
- TTT lệch là nguyên nhân chớnh gõy tăng nhãn áp điều trị nội
khoa không kết quả.
- Nguy cơ tổn hại nội mô giác mạc.
- Lệch TTT tiến triển.
16
• Phương pháp lấy TTT sa, lệch: Có nhiều
phương pháp lấy TTT sa lệch. Tuy nhiên kết quả thường rất hạn chế vì tỷ lệ
biến chứng trong và sau phẫu thuật khá cao |27|. Sự phát triển của kỹ thuật cắt
dịch kính và vi phẫu thuật thực sự là cuộc cách mạng trong phẫu thuật lấy
TTT sa, lệch |7, 27|. Sử dụng các dụng cụ chuyên dụng của phẫu thuật dịch
kính, võng mạc, vết mổ nhỏ đi qua đường Pars Plana tránh được rất nhiều các
biến chứng. Việc lựa chọn phương pháp lấy TTT phụ thuộc vào tuổi của bệnh
nhân, hình thái sa lệch, tình trạng TTT, dịch kính và võng mạc. Gholam
A.Peyman (1994) |19| đã phân loại sa, lệch TTT theo phương pháp xử lý như
sau:
+ Lệch TTT nhân mềm.
+ Lệch TTT nhân cứng.
+ Sa TTT nhân mềm vào dịch kính.
+ Sa TTT nhân cứng vào dịch kính.
+ Sa TTT nhân cứng và mềm vào tiền phòng.
+ Sa TTT – biến chứng của phẫu thuật lấy TTT.
TTT nhân cứng lệch hoặc sa ra tiền phòng có thể lấy trong bao hoặc lạnh
động, bằng anse qua đường giác mạc, cắt dịch kính trước. Nếu TTT nhân
mềm lệch ra trước hoặc ra sa ra tiền phũng thỡ có thể cắt TTT và dịch kính
qua giác mạc, lấy chất TTT trong bao trước, cắt bao và cắt dịch kính sau.
và định hướng trong không gian bị sai lệch. Chỉ dùng tốt cho những bệnh
nhân mắt độc nhất hoặc đã phẫu thuật lấy TTT cả hai mắt.
- Đeo kính tiếp xúc: Là phương pháp điều chỉnh quang học khá tốt sau khi
đã mổ lấy TTT đặc biệt khi chỉ ở một mắt. Hình ảnh phóng đại giảm xuống
7% nờn nhỡn vật được rõ và chính xác, thị trường không thu hẹp mang lại
18
điều kiện quang học phù hợp cho việc phục hồi thị giác hai mắt. Loại kính
này khó có thể sử dụng cả ngày và đêm đồng thời, đồng thời nó có khả năng
gây ra những biến chứng về lâu dài như: Viêm kết mạc nhú khổng lồ, loét
giác mạc, viêm giác mạc chấm, đặc biệt là những sứ nóng nhiều gió bụi và ẩm
như ở nước ta. Hay nó gây ra tân mạch ngoại vi giác mạc. Mặt khác giá thành
sử dụng cao, khó khăn và phiền toái trong khi sử dụng và không được phép
dùng cho trẻ em.
- Epikeratophakia đã dùng giác mạc tươi đắp lên giác mạc của bệnh nhân
để làm tăng công suất hội tụ của giác mạc, phương pháp này không được phổ
biến rộng rãi bởi: Sau mổ khả năng phục hồi thị lực chậm, mụ ghộp có thể bị
mờ đục sau 6 tháng hoặc trên 6 tháng, lực khúc xạ không dễ thay đổi như
kính tiếp xúc và đặc biệt đối với trẻ em mắt chỳng luụn thay đổi khúc xạ. Vì
vậy đây chỉ là hướng nghiên cứu cho tương lai.
- Đặt TTT nhân tạo: Là phương pháp điều chỉnh quang học tốt nhất. được
sử dụng rộng rãi trên thế giới và những năm gần đây ở Việt Nam sau phẩu
thuật lấy TTT.
Đối với những mắt bao sau TTT rách rộng hoặc không còn bao sau phẫu thuật
lấy TTT sa, lệch. Người ta áp dụng các kỹ thuật.
- Khâu TTT nhân tạo vào mống mắt, phẫu thuật này có thể gõy thoỏi hoỏ
mống mắt, viêm mống mắt thể mi và lệch TTT nhân tạo, bởi những nhược
điểm này nên hiện nay nó không được sử dụng.
- Đặt TTT nhân tạo tiền phòng: Phẫu thuật đơn giản dễ làm hơn so với các
kỹ thuật đặt TTT nhân tạo khác, song nó cũng có thể gõy thoỏi hoỏ mống
mắt, loạn dưỡng giác mạc, phù giác mạc.
20
Trần Thị Phương Thu 2001 [11] đã nghiên cứu sử dụng các máy cắt dịch
kính trong phẫu thuật điều trị sa, lệch TTT chấn thương trên 40 bệnh nhân tại
khoa chấn thương trung tâm Mắt Thành phố Hồ Chí Minh. Từ tháng 3 năm 1998
đến tháng 3 năm 1999 đã đạt được những kết quả hết sức có ý nghĩa.
Hiện nay ở Việt Nam chưa thấy có tài liệu nào nghiên cứu một cách chi
tiết cụ thể về hình thái lâm sàng và điều trị sa lệch TTT do chấn thương đụng
dập nhãn cầu. Các vị trí tổn thương hay gặp của dây zinn và các hướng lệch
của TTT liên quan đến vị trí tổn thương của dây zinn.
21
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành trên những bệnh nhân là người Việt Nam,
không phân biệt giới tính, sắc tộc, được chẩn đoán là sa lệch TTT tiền phòng
do chấn thương đụng dập nhãn cầu, đã được điều trị tại khoa chấn thương
Bệnh viện Mắt Trung ương từ 01/01/2006 đến 31/12/2010.
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân.
- Hồ sơ bệnh án của bệnh nhân bị sa lệch thủy tinh thể tiền phòng
- Có đủ thông tin cần thiết cho nghiên cứu
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ.
- Những hồ sơ bỏ viện, trốn viện.
- Những hồ sơ bị sa lệch TTT do những nguyên nhân khác như: Hội
chứng bẩm sinh, Marfan, cận thị cao…. Và những bệnh nhân có liên quan đến
bệnh tại mắt như viêm màng bồ đào, viêm nội nhãn.
2.2. Phương pháp nghiên cứu.
• Đây là nghiên cứu mô tả hồi cứu đánh giá hình thái tổn thương,
kết quả điều trị.
- Mô tả đặc điểm hình thái sa lệch TTT tiền phòng.
- Đỏnh giá kết quả bước đầu về các phương pháp điều trị của sa lệch
2.4.3. Kết quả khám bệnh (trong hồ sơ)
• Theo mô tả tổn thương trên:
- Mi mắt. (xưng nệ, xuất huyết, rách gia mi, rách lệ quản
- Kết mạc.(phù nề, xuất huyết, rách kết mạc)
- Củng mạc.( rách)
- Giác mạc. (phù, trợt)
- Tiền phòng. (nông, sõu, mỏu, mổ)
- Đánh giá tổn thương góc tiền phũng: Lựi gúc, tỏch thể mi.
- Mống mắt. (đứt, rách)
- Đồng tử. (trũn méo, gián)
- Tình trạng TTT. (sa, lệch ít, lệch nhiều, rách bao, đục thể tinh)
- Tình trạng dịch kính. (xuất huyết dích kớnh, tổ chức hoá dịch kớnh)
- Tổn thương đáy mắt kết hợp.
2.4.4. Kết quả thị lực – nhãn áp.
• Kết quả thị lực trước và sau khi ra viện:
- Người lớn dùng bảng thị lực vòng hở Landolt.
- Trẻ em dùng bảng thị lực hình
• Kết quả nhãn áp trước và sau khi ra viện với quả
cân 10g của nhãn áp kế Maclakov.
2.4.5. Siêu âm điện võng mạc
- Nhằm đánh giá tình trạng dịch kính và võng mạc, đặc biệt có ý nghĩa
đối với những trường hợp bị đục TTT hay xuất huyết tiền phòng không cho
phép ta quan sát phía sau. Dùng siêu âm sẽ xác định được tổn thương và đáp
ứng của võng mạc.
24
2.4.6. Kết quả chụp ảnh
- Chụp ảnh toàn cảnh mắt bị chấn thương.
- Chụp cắt khe lấy các tổn thương tiền phòng, mống mắt, TTT.
2.4.7. Chẩn đoán
Thống kê đầy đủ các hình thái của sa lệch TTT tiền phòng, tính chất của