BÀI TẬP NHÓM
MÔN: THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
Nghiên cứu các vấn đề về hạ tầng
kỹ thuật internet của Việt Nam
I: Internet, tốc độ kết nối internet, lịch sử hình thành internet ở Việt Nam,
các loại kết nối internet.
1. Khái niệm internet:
Internet là mạng toàn cầu được hình thành từ các mạng nhỏ hơn, liên kết hàng
triệu máy tính trên thế giới thông qua cơ sở hạ tầng viễn thông. Internet bắt đầu
như là một phương tiện để các nhà nghiên cứu và khoa học ở các cơ sở khác
nhau và các nước khác nhau có thể chia sẻ thông tin
Internet cung cấp chi bạn cơ sở hạ tầng để có thể hiện diện trực tuyến và
cho phép tất cả mọi người trên thế giới có thể truy nhập đến World Wide
Web (WWW).
- Internet cho phép khả năng cung cấp cho khách hàng, các đối tác kinh
doanh hiện tại và tương lai, truy nhập dễ dàng đến các thông tin về công ty
và các sản phẩm của bạn từ nhà hay văn phòng công ty.
2. Lịch sử phát triển
Ông Rob Hurle, giáo sư tại Đại học Quốc gia Australia (ANU) được xem là
người đầu tiên đặt nền móng cho sự phát triển Internet tại Việt Nam với việc
trình bày ý tưởng của mình với các sinh viên Việt Nam đã từng du học tại
Úc (Australia) và mang một chiếc "modem" to bằng "cục gạch" sang Việt
Nam năm 1991 để thử nghiệm . Sau đó, ông Rob Hurle cùng với ông Trần
Bá Thái, Viện Công nghệ thông tin tại Hà Nội (IOIT) tiến hành thí nghiệm
kết nối các máy tính ở Úc và Việt Nam thông qua đường dây điện thoại, ông
sau:
Viện Công nghệ thông tin thuộc Trung tâm Khoa học tự nhiên và
Công nghệ quốc gia hợp tác với Đại học Quốc gia Australia để phát
triển thử nghiệm mạng Varenet vào năm 1994.
Trung tâm thông tin Khoa học công nghệ Quốc gia thuộc Bộ Khoa
học công nghệ và Môi trường liên kết với mạng Toolnet thuộc
Amsterdam (Hà Lan) vào năm 1994.
Trung tâm Khoa học và công nghệ thuộc Sở Khoa học công nghệ và
Môi trường TP HCM liên kết với nút mạng ở Singapore vào năm
1995 với tên gọi là mạng HCMCNET.
Công ty Điện toán và Truyền số liệu (VDC) thuộc Tổng công ty Bưu
chính Viễn thông (VNPT) tại hai địa điểm Hà Nội và Thành phố Hồ
Chí Minh thông qua hai cổng quốc tế 64 Kb/giây kết nối Internet
Sprintlink (Mỹ) vào năm 1996.
3. Quá trình phát triển
Với 10 năm phát triển, Internet đã trở thành một phần không thể thiếu trong
đời sống kinh tế - văn hóa – xã hội. Sau 15 năm phát triển, Internet đã
chuyển mạnh từ hình thức quay số sang băng rộng và liên tục đạt tốc độ tăng
trưởng ở mức bùng nổ.
Năm 1997-2003: Từ năm 1997 – 2003, Việt Nam mới chỉ khoảng 1,8
triệu người sử dụng Internet (khoảng 4% dân số Việt Nam bây giờ).
Tuy nhiên, với thời kỳ Internet băng rộng hữu tuyến, đánh dấu bằng
sự ra đời của dịch vụ Internet ADSL (2/2003), số lượng người sử
dụng Internet đã có sự gia tăng đột biến.
Năm 2003-2010:
- Vào ngày 17/10/2000, Chỉ thị số 58-CT/TW được phê duyệt bởi
ông Phạm Thế Duyệt, thường trực Bộ Chính trị Ban Chấp hành
Năm
S
ố
ngư
ờ
i dùng
% dân
số
S
ố
thuê
bao
Dung
lượng(bit/s)
Domestic
bandwidth(bit/s)
2000
2003
804.528
26.784.035
-
3/2012
33.100.0004.2 tri
ệ
u
Biểu đồ số người dùng internet tại Việt Nam phát triển qua các năm.
(nguồn theo MIC việt nam)
4. Các loại kết nối Internet.
Cùng với sự phát triển vượt bậc của Internet, con người đã có nhiều cách
thức để "kết nối" vào Internet. Mỗi cách có ưu điểm và nhược điểm riêng,
nối trực tiếp, không cố định là một giải pháp, và gần như cho đến
bây giờ nó vẫn rất thông dụng. Đơn giản vì người dùng có thể tạo
kết nối, truy cập Internet , và ngắt kết nối khi không còn nhu cầu.
- Mỗi lần kết nối, máy tính sẽ được cấp cho một địa chỉ IP động
(dynamic IP), địa chỉ này chỉ tồn tại trong thời gian kết nối, nói
cách khác máy tính chỉ trở thành một phần của Internet mỗi khi nó
được nối mạng.
- Loại kết nối này thường sử dụng một đường dây điện thoại, một
modem, một số phần mềm và giao thức (protocol) để có thể kết nối
thành công. Ưu điểm là giá tương đối thấp, tuy nhiên hạn chế của
loại kết nối này là tốc độ, đơn giản vì dữ liệu được truyền chung
với tín hiệu thoại trên cáp đồng, qua khoảng cách khá dài
- Nếu kết nối qua đường dây điện thoại thì tốc độ hạn chế ở 56kbps
(khoảng 6kilobyte /s). Tuy nhiên đó chỉ là trên lý thuyết, thực tế,
nhất là ở Việt Nam, khó mà có thể đạt đến tốc độ tối đa này, cho
dù có sử dụng loại modem "chất lượng cao" đến mức nào.
Kết nối gián tiếp, không cố định
Đây là kết nối Internet mà máy tính của người dùng (máy khách)
không kết nối một cách trực tiếp vào mạng, mà nó được kết nối vào
một máy tính khác (tạm gọi là máy chủ) đang thực sự nối Internet.
- Cách này thường thấy ở các phòng máy tính, các dịch vụ Internet
công cộng. Máy tính người dùng có thể được nối đến máy chủ
bằng modem, hoặc mạng cục bộ
- Tốc độ cũng tuỳ thuộc vào loại kết nối Internet mà máy chủ đang
trăm kBps.
- Ngày nay, vẫn tồn tại loại hình dịch vụ này, người ta dùng nó để
kết nối trong trường hợp để dùng tạm, cấp thiết không có hệ thống
khác thay thế.
Hệ thống kết nối qua đường truyền ADSL:
Nhu cầu làm việc với máy tính đòi hỏi cần phải có băng thông lớn
hơn cho các ứng dụng như truyền files dữ liệu, chat, emails Tuy
nhiên, việc xây dựng cơ sở hạ tầng viễn thông không thể rễ dàng thực
hiện được trong một sớm một chiều, vì vậy người ta nghĩ ngay đến
việc sử dụng cáp điện thoại làm nền cho việc mở rộng mạng máy tính
băng thông rộng.
- Qua quá trình nghiên cứu, đào sâu vào nhu cầu thực tế, các nhà
khoa học viễn thông phát triển chuẩn truyền thông ADSL - Chuẩn
truyền thông băng rộng. một chuẩn thông dụng nhất hiện nay trên
thế giới, hiện nay có tới trên 70% ( hiện chúng tôi chưa có con số
cụ thể) thuê bao trên thế giới dùng chuẩn này kết nối.
- ADSL là chuẩn kết nối về điện, mục đích của nó là dùng để kết nối
các máy tính ở xa lai với nhau, khoảng cách có thể lên tới trên
5km, với băng thông kết nối đủ phục vụ nhu cầu truyền files,
emails, chat ADSL là chuẩn bất đối xứng có nghĩa là tốc độ
download và upload không bằng nhau ví dụ bạn nghe nhà mạng
nói: tốc độ kết nối là 3M, đọc là 3 Mê (phiên dịch cho rễ hiểu),
người nói ngầm ám chỉ tốc độ download là 3 Mbps (tức 3 Mega bit
trong 1 giây), thông thường tốc độ upload ở vào khoảng 512 kbps.
Chuẩn này được thiết kết chủ yêu cho người sử dụng phổ thông.
không yêu cầu tốc độ upload cao. Chuẩn ADSL có băng thông
download vào khoảng 1M đến 4M. Hiện nay người ta còn phát
triển thêm chuẩn ADSL 2+ tốc độ download có thể lên tới 8M.
- Tương ứng với chuẩn ADSL còn có VDSL, VDSL2+ đây là chuẩn
bất đối xứng tốc độ cao 100M/75M - Download/upload trong
- Tốc độ của internet cáp quang thì khỏi phải bàn, bạn muốn bao
nhiêu? 8 Mbps, 12M, 16M, 24M, 30M, hay cao hơn? xin trả lời
ngay là mọi tốc độ trong giải trên, thậm trí kết nối cao nhất trên thế
giới có thể đạt con số 1Gbps.
- Thông thường hiện nay ở Việt nam các ISP thường giới hạn băng
thông của khách hàng truy cập nhằm tiết kiệm tài nguyên băng
thông nên băng thông truy cập mạng phổ biến là 12M, 16M, 24M,
28M, 30M, 36M và tất nhiên giá cả sẽ phân phối theo băng thông.
- Hệ thống internet cáp quang hay hệ thống FTTX, FTTH thực chất
chỉ là phần truy cập của mạng internet, phần này chứa phẩn tử truy
cập mạng qua cáp quang, phần còn lại của hệ thống mạng hầu như
không có gì thay đổi so với hệ thống trước đó là ADSL, chính vì
vậy băng thông kết nối quốc tế vẫn không có gì thay đổi, hoặc nếu
có thay đổi là do nhà cung cấp đã nâng băng thông của mình nên.
Như vậy, nếu bạn là đơn vị đa quốc gia muốn thiết lập một đường
truyền băng thông cỡ 12M, thì cũng không nên lựa chọn một
trong các gói dịch vụ FTTx trên, bởi thực chất hệ thống này chỉ
phục vụ trong phạm vi Việt nam.
2. Các nhà cung cấp dịch vụ kỹ thuật internet ở Việt Nam( ISPs), các công
nghệ mà ISP ứng dụng cho Thương mại điện tử
1.Khái niệm:
- Nhà cung cấp dịch vụ Internet (tiếng Anh: Internet Service Provider, viết tắt:
ISP) chuyên cung cấp các giải pháp kết nối Internet cho các đơn vị tổ chức hay các
cá nhân người dùng.Các ISP phải thuê đường và cổng của một IAP. Các ISP có
quyền kinh doanh thông qua các hợp đồng cung cấp dịch vụ Internet cho các tổ
chức và các cá nhân.
Internet Việt Nam xuất hiện chính thức vào ngày 19/11/1997, và cho đến thời điểm
hiện nay thì có các nhà cung cấp sau( tính đến 11/2012):
- Công ty cổ phần viễn thông Hà Nội ( HTC) chiếm 0.27% thị phần.
- EVN là mạng cáp quang của tập đoàn điện lực mới đưa vào kinh doanh mới đây,
do quá mới mẻ và lĩnh vực kinh doanh không chuyên nên chất lượng mạng của nhà
cung cấp này không tốt, hay chập chờn. có nhiều lấn cùng nhóm khảo sát của lớp
tui nghe khách hàng phản ảnh” mạng điện lực sao mà nó cúp như cúp điện vậy”.
Tuy nhiên cước phí của nha cung cấp này cũng nằm ở tóp thấp.
- Còn nhà cung cấp còn lại đó là Netnam thuộc viện công nghệ thông tin quốc gia.
Thị trường của nhà cung cấp này chủ yếu tập trung ở miền bắc. mới phát triển vào
TP.HCM khoảng 3 năm nay.Theo thu thập thông tin, việc chăm sóc khách hàng
cũng nhanh chóng, giá cước lại rẻ. Điều này cũng hợp lý vì nếu mới tham gia thị
trường thì phải chấp nhận như vậy thôi. Nếu không thì làm sao bán được sản phẩm.
Các loại ISP dùng riêng được quyền cung cấp đầy đủ các dịch vụ Internet. Điều
khác nhau duy nhất giữa ISP và ISP riêng là không cung cấp dịch vụ Internet với
mục đích kinh doanh. Người dùng chỉ cần thoả thuận với một ISP hay ISP riêng
nào đó về các dịch vụ được sử dụng và thủ tục thanh toán được gọi là thuê bao
Internet.
Thương mại điện tử phát triển ứng dụng một số công nghệ của các nhà cung cấp
dịch vụ như :
- chuyển tiền điện tử,
- quản lý chuỗi dây chuyền cung ứng
- tiếp thị Internet, quá trình giao dịch trực tuyến
- trao đổi dữ liệu điện tử (EDI)
- hệ thống quản lý hàng tồn kho
- các hệ thống tự động thu thập dữ liệu. Thương mại điện tử hiện đại
thường sử dụng mạng World Wide Web là một điểm ít nhất phải
có trong chu trình giao dịch, mặc dù nó có thể bao gồm một phạm
vi lớn hơn về mặt công nghệ như email, các thiết bị di động cũng
như điện thoại.
Thương mại điện tử thông thường được xem ở các khía cạnh của kinh doanh điện
Để đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng trong thời gian tới cũng như theo kịp
được với công nghệ thế giới trong thời gian tới, yêu cầu các nhà cung cấp
dịch vụ phải tiếp tục nâng cấp, tối ưu hóa mạng lưới viễn thông, Internet dựa
trên kỹ thuật công nghệ hiện đại; tiếp tục triển khai các dịch vụ mới băng
rộng trên nền Internet; hướng tới khách hàng, đặc biệt trên các lĩnh vực phục
vụ giáo dục, y tế, nền hành chính điện tử Việt Nam 3. Công nghệ Wifi, Wimax Wi-Fi (Wireless Fidelity) hay mạng 802.11 là hệ thống mạng không dây sử
dụng sóng vô tuyến, giống như điện thoại di động, truyền hình và radio.
Cho phép truy cập internet tại những khu vực có sóng của hệ thống mà
không cần cáp nối: sân bay, quán café, thư viện, văn phòng, nhà riêng…
3 chuẩn thông dụng của WiFi hiện nay là 802.11a/b/g
Dòng chuẩn 802.11
802.11 được phát triển từ năm 1997 bởi nhóm IEEE (Mỹ)
IEEE 802.11 gồm có 4 chuẩn trong họ 802.11 và 1 chuẩn đang thử nghiệm:
802.11 - là chuẩn IEEE gốc của mạng không dây (hoạt động ở tầng số
2.4GHz, tốc độ 1 Mbps – 2Mbps).
802.11b - (phát triển vào năm 1999, hoạt động ở tầng số 2.4-2.48GHz,
tốc độ từ 1Mpbs - 11Mbps).
802.11a - (phát triển vào năm 1999, hoạt động ở tầng số 5GHz –
6GHz, tốc độ 54Mbps)
Dòng chuẩn 802.11
802.11g - (một chuẩn tương tự như chuẫn b nhưng có tốc độ cao hơn
từ 20Mbps - 54Mbps, hiện đang phổ biến nhất).
802.11
b
802.11
g
802.11n
Tốc độ
tối đa
54Mbp
s
11Mbp
s
54Mbps
300Mbps
hay cao hơn
Dải tần
số trung
tần (RF)
5GHz
2,4GH
Z
2,4GHZ
2,4GHz hay
5GHz
Độ rộng
băng
thông
20MH
z
20MHz 20MHz
20 MHz hay
z
20MHz 20MHz
20 MHz hay
40 MHz Bảo mật bằng WEP
Sử dụng stream cipher RC4 cùng với một mã 40 bit và một số ngẫu
nhiên 24 bit (initialization vector - IV) để mã hóa thông tin.
Thông tin mã hóa được tạo ra bằng cách thực hiện operation XOR
giữa keystream và plain text.
Thông tin mã hóa và IV sẽ được gửi đến người nhận.
Người nhận sẽ giải mã thông tin dựa vào IV và khóa WEP đã biết
trước.
Bảo mật bằng WPA: cải tiến hơn WEP
Sử dụng một khóa động mà được thay đổi một cách tự động nhờ vào
giao thức TKIP
Cho phép kiểm tra xem thông tin có bị thay đổi trên đường truyền hay
không nhờ vào MIC message.
Cho phép multual authentication bằng cách sử dụng giao thức 802.1x.
Tăng cường bảo mật với chuẩn 802.11i (WPA 2)
Sử dụng thuật toán mã hóa AES (Advanced Encryption Standard)
Lợi ích của wifi
- Chi phí giảm.
- Vận động. Có dây buộc bạn cố định một địa điểm. Với không dây bạn có
thể tự do thay đổi vị trí của bạn mà không bị mất kết nối của bạn.
- Tính linh hoạt. Mở rộng truy cập, giảm chi phí, và tính di động tạo cơ hội
cho các ứng dụng mới cũng như khả năng của giải pháp sáng tạo mới cho
Chất lượng dịch vụ QoS.
Triển khai nhanh.
Dịch vụ đa mức.
Tính tương thích.
Di động.
Lợi nhuận.
Phủ sóng rộng hơn.
Dung lượng cao
Các chuẩn WiMAX
1. Chuẩn 802.16
Hệ thống truy cập không dây cố định
Hoạt động trên dải tần được cấp phép 10-66GHz.
Chỉ sử dụng cho các kết nối (tầm nhìn thẳng) line of sight (LOS)
Tốc độ bit: 32 – 134 Mbps với kênh 28 MHz.
Các dải thông kênh 20 MHz, 25 MHz, 28 MHz.
Bán kính cell: 2 – 5 km.
Kết nối có định hướng, MAC TDM/TDMA, QoS
2. Chuẩn IEEE 802.16a.
• Bổ sung 802.16, các hiệu chỉnh MAC và các đặc điểm PHY thêm vào cho
dải 2 – 11 GHz (NLOS).
• Tốc độ bit : tới 75Mbps với kênh 20 MHz.
• Dải thông kênh có thể thay đổi giữa 1,25MHz và 20MHz.
• Bán kính cell: 6 – 9 km.
3. WiMAX 802.16e
Tối ưu hoá cho các kênh vô tuyến di động,
Hỗ trợ chuyển vị (handoff) và chuyển vùng (roaming).
Sử dụng Truy nhập ghép kênh phân chia theo tần số trực giao có thể mở
rộng thang độ (SOFDMA – Scalable Orthogonal Frequency Division
Multiplexing Access), một kỹ thuật điều chế đa sóng mang có sử dụng tạo kênh
phụ (sub-channelization).
Lớp con bảo mật có mục đích chính là bảo vệ các nhà cung cấp dịch
vụ ngăn chặn việc ăn cắp dịch vụ.
Không phải là bảo vệ những người sử dụng (NSD) dịch vụ.
Ăn cắp ID.
Vấn đề nhận thực lẫn nhau
Các chứng nhận cho các nhà sản xuất.
Các chứng nhận SS.
Không có chứng nhận cho BS.
Một số vấn đề khác
Các định nghĩa không rõ ràng.
Dữ liệu riêng
Quản lý khóa.
Các điểm yếu khác
Biện pháp tăng cường bảo mật cho WiMAX
Nhận thực lẫn nhau
Các lỗi bảo vệ dữ liệu
DES-CBC cho mã hóa dữ liệu.
Cải thiện bảo mật tích hợp trong 802.16e
PKMv2 sẽ được sử dụng thay thế cho PKM.
EAP (Extensible Authentication Protocol).
Ưu điểm và ứng dụng
Cấu trúc mềm dẻo.
Chất lượng dịch vụ QoS.
Triển khai nhanh.
Dịch vụ đa mức.
Tính tương thích.
Di động.
Lợi nhuận.
Phủ sóng rộng hơn.
Cho đến tháng/ 12/2010 cả nước đã có khoảng gần 10.000
website .vn và trong số đó có 4651 web có tên miền .vn hoạt
động và được xếp hạng trong kết quả của Google (Có nội dung
hoạt động hiệu quả) và chỉ chiếm khoảng 10% tổng số các
website tiếng Việt tính theo tất cả các loại tên miền khác nhau.
Tải đầy đủ danh sách các website Việt nam (Dùng tên miền VN)
đang hoạt động tại đây >>
DANH SÁCH WEBSITE VIỆT NAM
Tất cả nước đã có 120.000 tên miền Quốc tế được đăng ký và
khoảng 30% trong số đó là hoạt động (có nội dung web) chiếm
80% tổng số website có nội dung tiếng Việt trên mạng.
Trong số đó đã có 533 website chính phủ (GOV.vn) hoạt động hiệu quả .
Tải đầy đủ govlist
trong danh sách cũng đã có 1 trang được xếp hạng Page Rank 9(Unesco
Việt nam) và khoảng 10 trang được xếp hạng Page Rank 8 trong đó có
website của Đảng cộng sản hay Bộ giao dục và 30 trang xếp hạng Page
Rank 7 của google
Theo ( />quyen-kiem-soat-ten-mien-531877.htm )
khi truy cập vào VozForums.com và Diadiem.com, 2 trong số những
website lớn hiện nay tại Việt Nam, đều nhận được những thông báo lạ,
mà theo chủ nhân của 2 website này thì họ đã mất quyền kiểm soát tên
miền.
Điểm chung của 2 tên miền vừa bị đánh cắp này là đều đăng ký tại nhà
cung cấp dịch vụ tên miền và máy chủ lớn nhất của Mỹ Godaddy. Hiện
chưa rõ có phải thủ phạm đã lợi dụng một lỗi nào đó về phía nhà cung
cấp dịch vụ để lợi dụng và chiếm quyền điều khiển hay không và cũng
chưa rõ 2 vụ tấn công lấy cắp tên miền đồng thời nay có liên quan gì đến
nhau hay không.