Lời nói đầu
Việt Nam đang đi trên con đờng đổi mới và hội nhập với nền kinh tế
thế giới. Những qui luật kinh tế khách quan và tất yếu đang từng giờ, từng
phút điều chỉnh nền kinh tế toàn cầu, nền kinh tế của từng khu vực, từng
quốc gia và bản thân mỗi chúng ta. Chúng ta cần phải hiểu các qui luật đó và
tự điều chỉnh bản thân cho phù hợp với diễn biến của qui luật. Quá trình mở
cửa, hội nhập kinh tế trong khu vực tiến đến toàn cầu hóa nền kinh tế đang
dần chứng tỏ là một qui luật của loài ngời tiến bộ. Để bắt kịp với quá trình
này thì mỗi quốc gia phải liên tục có những cải cách nhằm làm phù hợp và
thích nghi với môi trờng bên ngoài. Trong công cuộc cải cách đó, cải cách về
thuế luôn đợc các quốc gia đặc biệt chú trọng bởi tầm quan trọng của nó đối
với sự phát triển và ổn định lâu dài về mọi mặt của mỗi quốc gia. Khái niệm
cạnh tranh về thuế giữa các quốc gia lớn trên thế giới đã xuất hiện trong một
hai thập kỉ gần đây đã khiến cho các quốc gia còn lại cũng phải liên tục tiến
hành cải cách thuế nhằm tăng cờng sức cạnh tranh trên các lĩnh vực thơng
mại mậu dịch, lực lợng lao động...
Đối với Việt Nam trong thời gian tới, khi Hiệp định về thuế quan
AFTA, Hiệp định thơng mại Việt-Mỹ và tiếp tục sau khi Việt Nam đợc gia
nhập WTO phát huy hiệu lực thì những biến đổi về cơ cấu thuế và nguồn thu
ngân sách sẽ là một điều không thể tránh khỏi. Nhận thức đợc điều đó, nớc ta
đã và đang tiến hành cuộc cải cách nhằm hoàn thiện hệ thống thuế còn nhiều
thiếu sót để có thể theo kịp và bắt nhịp với tốc độ phát triển kinh tế của các n-
ớc trong khu vực và thế giới, đồng thời cũng có thể đạt đợc các mục tiêu về
kinh tế-xã hội-chính trị mà Nhà nớc đã đề ra.
Trong mời năm gần đây, hệ thống thuế nớc ta đã có rất nhiều thay đổi;
nhiều sắc thuế mới đã ra đời, các sắc thuế có từ trớc cũng đợc sửa đổi nhằm
thích nghi với điều kiện mới. Pháp lệnh thuế thu nhập cá nhân ra đời năm
1991, cho đến nay qua năm lần sửa đổi, bổ sung và hiện nay Chính phủ đang
1
nghiên cứu nhằm xây dựng thành Luật thuế thu nhập cá nhân là một trong
những minh chứng cho công cuộc cải cách thuế của Việt Nam.
Thật là nhục nhã và xấu hổ đối với cơ quan thuế và hình ảnh của một quốc
gia khi bắt một quí ông hay một quí cô phải nói với ai đó về thu nhập của
họ. Nhng chỉ một năm sau thì chính ông đã phải thay đổi quan điểm, và
thuế thu nhập cá nhân đã ra đời. ở Mỹ, thuế thu nhập cá nhân đã xuất hiện
trong thời kì chiến tranh 1812, và nó cũng dựa vào điều luật thuế của nớc
Anh năm 1798. Sau 1815, nó lại bị xoá bỏ ở Mỹ do Nhà nớc không có nhu
cầu tăng thu ngân sách. Nhng cho đến năm 1862, thuế thu nhập cá nhân lại
quay trở lại nớc Mỹ sau khi Bộ luật thuế 1862 đợc tổng thống Licoln phê
chuẩn, nó nhằm mục đích cung cấp nguồn tài chính cho cuộc nội chiến của
nớc Mỹ
1
. ở một số nớc khác thuế thu nhập cá nhân cũng xuất hiện từ khá
sớm, nớc Nhật năm 1887,Trung Quốc năm 1936 còn Hàn Quốc thì loại thuế
này ra đời muộn hơn vào năm 1974
2
. Vậy thuế thu nhập cá nhân là gì, nó có
những đặc điểm và vai trò gì mà khiến các quốc gia đặc biệt quan tâm và đa
nó thành một sắc thuế trong hệ thống thuế?
1
Nguồn: History of Taxation- www.tax.org
2
Nguồn: Giáo trình quản lý thuế-ĐHKTQD, trang 105
3
1.1.2 Các loại hệ thống thu thuế thu nhập cá nhân
Hệ thống thuế thu nhập cá nhân thờng đợc tổ chức theo hai mô
hình: hệ thống tổng thể ( global system ) và hệ thống riêng biệt ( schedular
system ).
Hệ thống tổng thể: sử dụng một thuế suất để tính nghĩa vụ thuế cho thu
nhập từ các nguồn khác nhau. Tạo điều kiện cho công bằng dọc.
Hệ thống riêng biệt: sử dụng các thuế suất khác nhau cho thu nhập từ
ở quốc gia đó. Thu nhập chịu thuế bao gồm tất cả các khoản thu nhập theo
qui định của Nhà nớc sau đó đợc khấu trừ đi các khoản chi phí khác đợc phép
khấu trừ theo qui định của Nhà nớc. Nhà nớc sẽ có một danh mục các khoản
thu nhập mà phải tính vào thu nhập chịu thuế, đồng thời sẽ có một danh mục
khác liệt kê các chi phí đợc phép khấu trừ khỏi thu nhập chịu thuế trớc khi
tính thuế. Ví dụ ở Pháp thì ngời ta chia ra làm tám loại thu nhập. Ta có thể kể
tóm tắt ở đây: thu nhập từ cho thuê bất động sản; thu nhập từ tiền lơng...; thu
nhập từ hoạt động sản xuất công nghiệp và thơng mại; thu nhập từ hoạt động
sản xuất nông nghiệp; thu nhập của một số lãnh đạo doanh nghiệp; thu nhập
từ hoạt động phi thơng mại; thu nhập từ bán tài sản; thu nhập từ đầu t động
sản. Còn ở Việt Nam, ngời ta chia thu nhập chịu thuế ra làm hai loại là thu
nhập thờng xuyên và thu nhập không thờng xuyên; trong đó thu nhập thờng
xuyên có năm loại thu nhập chịu thuế và thu nhập không thòng xuyên có sáu
loại thu nhập chịu thuế. Ta sẽ trình bày chi tiết hơn về nội dung thuế của Việt
Nam ở chơng sau. Ngoài ra, có những trờng hợp các cá nhân có thu nhập
phát sinh ở nớc ngoài mà đã nộp thuế một phần ở nớc ngoài, thì khi đó việc
khấu trừ thuế nộp ở trong nớc sẽ phụ thuộc vào hiệp định kí kết giữa quốc gia
đó và bên nớc ngoài về việc tránh đánh thuế trùng. Các đối tợng không c trú
tại quốc gia đó thì sẽ chỉ có nghĩa vụ nộp thuế TNCN đối với phần thu nhập
phát sinh tại quốc gia đó.
Do đối tợng nộp thuế đồng thời cũng chính là đối tợng chịu thuế nên
thuế thu nhập cá nhân đợc xếp vào loại thuế trực thu. Phạm vi điều chỉnh
5
của luật thuế thu nhập cá nhân là rất rộng lớn và do đặc điểm đối tợng chịu
thuế trực tiếp phải nộp thuế nên sức ảnh hởng của nó đối với nền kinh tế và
thái độ của dân c là hết sức to lớn. Không giống nh các loại thuế gián thu, ví
dụ thuế tiêu dùng, khoản thuế đợc tính sẵn trong giá thanh toán nên nó không
ảnh hởng nhiều đến tâm lí của ngời mua về khoản thuế mình phải nộp, thuế
trực thu có thể hiểu bóng bẩy là Nhà nớc trực tiếp thò tay vào túi chúng ta và
lấy tiền của ta ra, điều đó chắc chắn sẽ có ảnh hởng mạnh về tâm lí của ngời
dựng căn cứ vào nguyên tắc đánh thuế dựa vào khả năng nộp thuế của các cá
nhân khác nhau. Những ngời có thu nhập cao thì có nhiều khả năng nộp thuế
cao hơn những ngời có thu nhập thấp và ngợc lại. T tởng đánh thuế dựa vào
khả năng nộp thuế của Nhà vua Writ
3
- vị vua nớc Anh vào thế kỉ thứ 17- đã
là cơ sở cho sự phát triển rất sớm của các biểu thuế luỹ tiến. Khoảng cách t-
ơng đối giữa các bậc thuế suất sẽ quyết định tính chất luỹ tiến mạnh hay yếu
của biểu thuế. Khoảng cách này mà càng lớn thì mức độ lũy tiến của biểu
thuế càng cao và ngợc lại.
Thuế thu nhập cá nhân là một loại thuế phức tạp và mang tính trung lập
đối với cơ cấu kinh tế. Do đặc điểm là điều tiết lên thu nhập của dân c, phạm
vi điều tiết rất rộng nên việc quản lý đối với loại thuế này là hết sức khó
khăn. Nó dễ gây phản ứng của ngời nộp thuế. Đồng thời do tính chất phân
tán và động của đối tợng chịu thuế và nguồn thuế nên công tác quản lí thu rất
khó khăn. Chính vì đặc điểm này mà chi phí hành thu của thuế thu nhập cá
nhân rất cao.Ngoài ra, nó điều tiết lên thu nhập chứ không phải là lên tiêu
dùng nên nó không có tác động trực tiếp đối với một ngành kinh tế cụ thể nào
cả. Tuy nhiên, nếu xem xét một cách sâu sắc thì thuế thu nhập cá nhân vẫn
có những tác động nhất định đối với cơ cấu nền kinh tế. Thuế thu nhập cá
nhân đợc sử dụng nh là một công cụ thuế đắc lực trong chính sách tài khóa
quốc gia, nó ảnh hởng đến tổng cầu nền kinh tế, do đó nó cũng có những ảnh
hởng nhất định đối với cơ cấu kinh tế.
3
Nguồn: www.taxworld.org: History of taxation
7
1.1.4 Vai trò của thuế thu nhập cá nhân
Nền kinh tế ngày càng phát triển, mức sống ngời dân càng cao thì thuế
thu nhập cá nhân ngày càng góp phần quan trọng trong nguồn thu ngân
sách Nhà nớc. Chúng ta biết rằng thuế thu nhập cá nhân thu đợc dựa vào
Nguồn: Tài chính tháng 5/2001
8
phát triển cao thì thuế TNCN chỉ chiếm 13,4% năm 1994 và 16,3% năm
1996 tổng số thu; trong khi đó nguồn thuế TNCN ở Mỹ đạt xấp xỉ 48% năm
1994 trên tổng số thu các loại thuế và phí; còn ở nớc ta thì con số này là
0,87% năm 1994
5
. Nhìn vào số liệu, ta có thể thấy rằng thuế TNCN thu đợc tỉ
lệ thuận với mức độ phát triển của nền kinh tế, với thu nhập trung bình của
dân c. Thuế TNCN do đó tất yếu sẽ dần trở thành một nguồn thu quan trọng
hàng đầu trong nguồn thu ngân sách nhà nớc.
Thuế thu nhập cá nhân góp phần tăng tỉ lệ tiết kiệm quốc gia, tạo điều
kiện tăng đầu t và thúc đẩy tăng trởng kinh tế. Ta biết rằng mỗi một đơn vị
thu nhập bao gồm hai phần: đơn vị tiêu dùng và phần còn lại là đơn vị tiết
kiệm. Khi bạn có thu nhập là một triệu đồng, bạn phải nộp thuế giả sử là
100.000, bạn còn lại 900.000 trong đó bạn tiêu dùng hết 800.000 còn
100.000 bạn dành tiết kiệm. Nếu nh không có thuế thu nhập cá nhân, bạn có
quyền tiêu dùng 850.000 và tiết kiệm 150.000; Nếu nh khoản thuế nộp không
sử dụng trong chi tiêu chính phủ thì có nghĩa là tiết kiệm quốc gia trong tr-
ờng hợp trớc là 200.000 (100.000+100.000); còn ở trờng hợp sau thì tiết kiệm
quốc gia chỉ là 150.000 bằng chính với tiết kiệm khu vực t nhân. Khi tiết
kiệm tăng thì sẽ có nhiều nguồn vốn hơn dành cho đầu t vào trang thiết bị
máy móc. Theo phân tích mô hình của nhà kinh tế học Solow thì tỉ lệ tiết
kiệm quốc gia có ảnh hởng vô cùng quan trọng trong tăng trởng và ổn định
kinh tế lâu dài. Nó cung cấp nguồn vốn để đầu t vào máy móc, thiết bị, nhà
xởng, hay nghiên cứu khoa học để có thể tăng sản lợng trong tơng lai. Nhật
Bản là minh chứng rõ nét nhất cho thấy ảnh hởng của tiết kiệm đối với sự
phát triển kinh tế. Việc sử dụng thuế TNCN là một công cụ điều tiết giữa tiêu
dùng và tiết kiệm, tránh những tiêu dùng xa hoa mà thay vào đó là đầu t vào
t bản và con ngời, sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế lâu dài. Tuy
thì sẽ nộp nhiều thuế hơn và ngợc lại. Nó khác so với quan điểm công bằng
theo chiều ngang là tất cả mọi ngời sẽ nộp thuế cùng với một tỉ lệ nh nhau.
Các khoản thuế thu đợc sau đó có thể đợc chính phủ sử dụng để trợ giúp lại
những ngời có mức thu nhập thấp. Trên lí thuyết đây là một loại thuế rất u
việt trong việc điều hòa thu nhập giữa ngời giàu và ngời nghèo. Tuy nhiên
10
trên thực tế nó vẫn còn gây rất nhiều tranh cãi giữa các nhà kinh tế. Khoảng
cách giàu nghèo trong xã hội ngày càng mở rộng hơn. Ngời ta đặt ra câu hỏi
là liệu chính sách thuế TNCN có thực sự đem lại sự phân phối công bằng hơn
cho xã hội hay là nó không có tác dụng gì cả hay nếu có thì là không đáng
kể. Và một vấn đề nữa cũng đợc đem ra tranh cãi giữa các nhà kinh tế về tính
công bằng của chính sách thuế. Ngời ta đặt câu hỏi là liệu hiệu quả công
bằng mà chính sách thuế đem lại có xung đột với hiệu quả kinh tế hay không.
Chúng ta đã biết rằng bất cứ một hoạt động nào cũng chứa đựng trong nó hai
tác dụng; tác dụng hiệu quả kinh tế và tác dụng về hiệu quả công bằng. Hiệu
quả kinh tế là việc sử dụng tối u nhất các nguồn lực của xã hội mà từ đó có
thể tạo ra tổng lợi ích cho xã hội là lớn nhất, còn hiệu quả công bằng quan
tâm đến việc phân phối tổng lợi ích xã hội đã thu đợc cho các thành viên
trong xã hội. Giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả công bằng thờng xảy ra
những mâu thuẫn đối nghịch, đợc cái này thì phải hi sinh cái còn lại. Chính vì
vậy, đối với các nớc đang phát triển, bài toán đợc đặt ra là nên đa vấn đề nào
lên u tiên, hiệu quả kinh tế hay công bằng. Các nớc chấp nhận một cái bánh
to và chia không đều hay một cái bánh nhỏ và chia đều? Để đánh giá hiệu
quả kinh tế thì ngời ta có nhiều công cụ để tính toán, nhng để đánh giá hiệu
quả công bằng thì là một vấn đề hết sức khó khăn vì bản thân nó đã là một
khái niệm trừu tợng. Thế nào là công bằng? Rất khó có thể đa ra một định
nghĩa hoàn chỉnh để tất cả mọi ngời thống nhất. Bạn trồng trong vờn của
mình một vờn hoa rất đẹp và rất thơm, rất nhiều ngời trầm trồ khen ngợi vờn
hoa của bạn và mỗi buổi chiều thờng sang vờn hoa nhà bạn để thởng thức.
Nhng có một ngời hàng xóm của bạn bị bệnh về đờng hô hấp sang phàn nàn
nhiên là nó cũng cần phải đảm bảo các mục tiêu khác của xã hội.
Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế đợc các Chính phủ ở các nớc phát
triển sử dụng rộng rãi trong việc điều hành chính sách tài khoá và các
chính sách kinh tế khác. Do thuế TNCN chiếm một phần lớn nguồn thu ngân
sách Nhà nớc, đồng thời nó ảnh hởng trực tiếp đến quyết định tiêu dùng và
tiết kiệm của dân c nên nó có vai trò hết sức quan trọng trong chính sách tài
khóa của chính phủ các nớc. Chính sách tài khóa của chính phủ là chính sách
12
sử dụng chi tiêu chính phủ và thuế là hai công cụ cơ bản để điều chỉnh tổng
cầu của nền kinh tế, khi nền kinh tế suy thoái thì chính phủ có thể tăng chi
tiêu hoặc giảm thuế để từ đó kích cầu và đa nền kinh tế tăng trởng trở lại; còn
khi nền kinh tế đang ở thời kì phát triển quá nóng so với mức bình thờng thì
chính phủ lại giảm chi tiêu của mình hoặc tăng thuế để làm giảm tổng cầu.
Chính phủ có thể điều chỉnh các loại thuế khác nhau căn cứ theo diễn biến
chu kì kinh doanh, nhng loại thuế đợc điều chỉnh chủ yếu vẫn là thuế thu
nhập, có thể là thuế thu nhập công ti hoặc thuế thu nhập cá nhân. Mức sản l-
ợng của nền kinh tế tơng ứng với tổng mức thu nhập của chính nó, do đó để
điều chỉnh mức sản lợng ngời ta có thể điều chỉnh mức thu nhập của dân c, từ
đó điều chỉnh tổng cầu và đa nền kinh tế đến mức sản lợng mong muốn. Khi
tăng thuế thu nhập thì thu nhập thực tế của dân c giảm đồng nghĩa với việc
giảm chi tiêu của dân c do đó tổng cầu giảm, sản lợng cân bằng của nền kinh
tế giảm; còn khi giảm thuế thì điều ngợc lại sẽ xảy ra. Mức độ ảnh hởng của
thuế thu nhập cá nhân sẽ phụ thuộc vào độ co giãn của thu nhập đối với sự
thay đổi của thuế suất. Nếu độ co giãn là nhạy cảm thì chỉ cần thay đổi thuế
suất một tỉ lệ nhỏ cũng có thể làm thay đổi tổng cầu một lợng đáng kể; ngợc
lại nếu là không nhạy cảm thì tổng cầu sẽ thay đổi không đáng kể. Thuế thu
nhập cá nhân cũng là loại thuế đợc sử dụng chủ yếu trong việc thanh toán nợ
của chính phủ. Nếu thế hệ chúng ta chi tiêu nhiều hơn so với mức thu thì
đồng nghĩa với việc thế hệ sau chúng ta sẽ phải gánh chịu thuế thu nhập cá
nhân cao hơn để thanh toán các khoản nợ nần đó. Bên cạnh chức năng là một
không có ngời thu tiền phí và lệ phí thì ngời đi qua những nơi mà phải nộp
phí và lệ phí vẫn tự giác bỏ đồng xu vào chỗ thu tiền rồi mới đi qua. Cũng
chính vì sự nhận thức về nghĩa vụ nộp thuế đối với Nhà nớc của ngời dân
những nớc đang phát triển thấp hơn ngời dân những nớc phát triển cho nên ý
thức về quyền con ngời của họ cũng thấp hơn. Những ngời càng có ý thức về
nghĩa vụ của mình đối với Nhà nớc càng cao thì họ càng có ý thức về quyền
của mình đối với Nhà nớc cao hơn, họ đòi hỏi Nhà nớc cũng phải thực hiện
lại những nghĩa vụ đối với họ. Chính vì vậy, ta có thể thấy rằng sự phát triển
của thuế thu nhập cá nhân cũng là một bớc đánh dấu sự phát triển về nhận
14
thức và văn hóa của con ngời. Đi kèm với sự phát triển về kinh tế bao giờ
cũng là sự phát triển về con ngời.
1.2 Quản lý thuế thu nhập cá nhân
1.2.1 Nội dung của quản lý thuế thu nhập cá nhân
Quản lý thuế thu nhập cá nhân hết sức phức tạp, nó khó khăn hơn rất
nhiều so với quản lý các sắc thuế khác. Do cơ sở thuế ở đây là thu nhập của
các cá nhân, các khoản thu nhập thì hết sức phong phú và đa dạng, đối tợng
nộp thuế thì phân tán... nên việc quản lý đợc các khoản thu nhập của dân c là
hết sức khó khăn. Chính vì khó khăn trong công tác quản lý thu nhập nên
công tác tính thuế thu nhập cá nhân càng trở nên khó khăn hơn.
Muốn quản lý tốt thuế thu nhập cá nhân thì trớc hết chúng ta cần phải
hoàn chỉnh nội dung Luật thuế thu nhập cá nhân. Sau khi có các văn bản qui
định về thuế thu nhập cá nhân thì đến công tác quản lý thuế thu nhập cá
nhân. Nhiệm vụ của công tác này là đảm bảo việc thực hiện tốt các qui định
về thuế thu nhập cá nhân trong văn bản pháp luật, đồng thời từ quá trình thực
hiện sẽ rút ra đợc những khúc mắc, những vấn đề cha hợp lý để đề xuất lên
cơ quan làm luật nhằm nghiên cứu điều chỉnh lại cho phù hợp. Chính vì sự
ràng buộc chặt chẽ giữa văn bản qui định về thuế thu nhập cá nhân và công
tác quản lý thuế thu nhập cá nhân, nên khi đề cập đến nội dung công tác quản
lý thuế thu nhập cá nhân, ta không thể không đề cập đến công tác xây dựng
quản lý thu thuế TNCN là điều cần thiết nếu nh chúng ta muốn
thực hiện thực hiện tốt công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân.
Đội ngũ này cần phải tổ chức lại một cách thống nhất, đồng bộ
và có khoa học. Nếu làm đợc điều này thì chúng ta sẽ vừa tiết
kiệm đợc chi phí cho công tác quản lý thu thuế đồng thời vẫn
đảm bảo thực hiện tốt công tác thu thuế.
(iii) Công tác quản lý thu thuế thu nhập cá nhân đặc biệt quan trọng
ở khâu quản lý thu nhập của các đối tợng nộp thuế. Nếu quản lý
tốt đợc thu nhập của ngời lao động thì công tác quản lý thuế thu
nhập cá nhân chắc chắn cũng sẽ đợc thực hiện tốt. Vậy thì cần
16
phải làm gì trong công tác quản lý thu nhập của đối tợng nộp
thuế? Rõ ràng chúng ta cha biết chính xác ai là những đối tợng
phải nộp thuế trớc khi kê khai thu nhập của họ. Chính vì vậy,
chúng ta cần phải giám sát thu nhập của tất cả các đối tợng lao
động. Để từ đó chúng ta có thể xác định đợc đối tợng nào phải
nộp thuế và nộp thuế là bao nhiêu. Muốn thực hiện tốt điều này
thì chúng ta cần phải có chế độ giám sát các khoản thu nhập
một cách chặt chẽ. Cần phải có chế độ sổ sách kế toán, chứng từ
đầy đủ chặt chẽ, tất cả các khoản chi trả thu nhập cần phải đợc
làm sáng tỏ trong sổ sách kế toán. Khi đó cơ quan thuế sẽ dễ
dàng hơn nhiều trong việc xác định cũng nh kiểm tra thu nhập
của ngời lao động. Đồng thời để tạo thuận lợi cho công tác giám
sát kiểm tra các đối tợng nộp thuế thì cơ quan thuế cần phải tiến
hành cấp mã số thuế cho các đối tợng nộp thuế và cơ quan chi
trả thu nhập. Sau khi cấp mã số thuế thì cơ quan thuế có thể
giám sát các đối tợng qua mã số thuế của họ, nhờ đó mà tránh
đợc tình trạng thiếu sót các đối tợng nộp thuế đồng thời cũng
đảm bảo sự nhanh gọn cho cơ quan thuế trong công tác quản lý
thu thuế.
yêu cầu thu đủ và kịp thời. Qua đó cơ quan thuế có thể kiến nghị
lên cấp trên xem xét để từ đó có thể hoàn thiện tốt hơn Luật thuế
TNCN và công tác tổ chức quản lý thuế thu nhập cá nhân.
1.2.2 Sự cần thiết phải tăng cờng quản lý thuế TNCN
Nh chúng ta đã đề cập trong phần vai trò của thuế TNCN, ta có thể
thấy rằng sắc thuế có một tầm quan trọng đặc biệt trong hệ thống thuế của
mọi quốc gia.Nó đợc đánh giá cao trong vai trò tạo nguồn thu trong ngân
sách và vai trò điều tiết thu nhập của dân c, đồng thời nó cũng đợc xem là
công cụ thuế đắc lực trong việc thực hiện chính sách tài khóa của chính phủ.
Chính vì tầm quan trọng của sắc thuế này nên chúng ta cần thiết phải tổ chức
tốt công tác quản lý thuế TNCN. Quản lý tốt là quản lý sao cho đạt đợc các
18
mục tiêu đã đề ra trong kế hoạch. Các mục tiêu đó thông thờng bao gồm các
mục tiêu về số thu thuế, số đối tợng nộp thuế phải đầy đủ, đảm bảo sự công
bằng trong quá trình thu nộp thuế đồng thời cũng phải tối thiểu chi phí cho
công tác tổ chức quản lý thu. Đồng thời việc quản lý tốt thuế TNCN cũng sẽ
góp phần giám sát tốt thu nhập của dân c, tránh đợc các khoản thu nhập
ngầm phi pháp. Việc quản lý tốt sẽ khuyến khích ngời dân hiểu và tự giác
thực hiện tốt việc kê khai và nộp thuế. Nó cũng sẽ góp phần đa sắc thuế này
thành một sắc thuế quan trọng trong hệ thống thuế.
1.2.3 Các nhân tố ảnh hởng đến công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân
1.2.3.1 Nội dung Luật thuế thu nhập cá nhân
Đây là yếu tố đầu tiên và cũng là quan trọng nhất. Muốn thực hiện tốt
thì trớc hết nội dung Luật phải thống nhất, chặt chẽ, rõ ràng và dễ hiểu. Đây
mới là những điều kiện bớc đầu để có một hệ thống Luật không có khe hở và
mâu thuẫn, tránh những trờng hợp do Luật có khe hở và các đối tợng lợi dụng
để trốn thuế. Còn muốn có một Luật thuế hoàn chỉnh, có thể phát huy tối đa
hiệu quả đối với toàn bộ xã hội và nền kinh tế thì chúng ta còn cần có những
nghiên cứu toàn diện về mặt kinh tế và xã hội để từ đó xây dựng biểu thuế
hợp lí, phát huy có hiệu quả nhất đối với sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế
1.2.3.4 Cơ quan luật pháp
Cơ quan luật pháp làm việc có hiệu quả, luật pháp thực hiện đợc nghiêm
minh thì sẽ đảm bảo việc vi phạm luật sẽ giảm đi. Các đối tợng nộp thuế
cũng nh cơ quan thu thuế cũng sẽ thực hiện nghiêm túc hơn, bởi họ biết rằng
khi vi phạm họ sẽ không tránh khỏi những hình phạt nếu bị phát hiện.
1.2.3.5 Tình hình kinh tế và mức sống ngời dân
Hiệu quả của công tác quản lý thu thuế thu nhập cá nhân phụ thuộc không
nhỏ vào mức độ phát triển kinh tế và đời sống của dân c. Cùng một đơn vị thu
thuế trên một khu vực, nếu số đối tợng nộp thuế thu nhập nhiều thì sẽ giảm
bớt chi phí trên một đồng thuế thu đợc, ngợc lại nếu có ít đối tợng nộp thuế
20
và số thuế thu đợc ít thì chi phí cho một đồng thuế thu đợc sẽ cao. Sự phát
triển kinh tế sẽ đồng hành với sự phát triển của cơ sở hạ tầng phục vụ cho
công tác quản lý nói chung và công tác quản lý thuế nói riêng, khi cơ sở hạ
tầng tốt thì khả năng quản lý thuế cũng sẽ đơn giản và hiệu quả hơn.
1.2.3.6 Trình độ dân trí
Trình độ dân trí tỉ lệ thuận với ý thức về trách nhiệm nộp thuế.
1.3 Quản lý thuế thu nhập cá nhân ở một số nớc trên thế giới
Trong phần này chúng ta sẽ đi xem xét và nghiên cứu luật thuế thu
nhập cá nhân và tính chất quản lý thu thuế ở một số nớc trên thế giới. Qua
việc nghiên cứu này, chúng ta sẽ rút ra đợc câu trả lời tại sao họ lại áp dụng
nh vậy, áp dụng đợc trong điều kiện hoàn cảnh nào. Từ đó, căn cứ vào tình
hình cụ thể ở Việt Nam, chúng ta có thể đề ra đợc những biện pháp nhằm xây
dựng tốt nhất Luật thuế thu nhập cá nhân.
1.3.1 Quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Anh
Nớc Anh chính thức đa thuế thu nhập cá nhân vào trong hệ thống Luật
thuế là vào năm 1799, dới thời thủ tớng William Pitt, nhằm tài trợ cho cuộc
chiến tranh với Napoleon. Đến nay, sau hai trăm năm lịch sử, thuế thu nhập
cá nhân ở nớc Anh đang ngày càng thể hiện vai trò quan trọng của mình.
(i) Về nội dung Luật thuế
(i) Về nội dung Luật thuế
Thu nhập tính thuế
Mỹ đánh thuế thu nhập cá nhân ngời trong nớc và ngời nớc ngoài trên
cơ sở thu nhập toàn thế giới. Đối với ngời nớc ngoài không là đối tợng c trú
thì chỉ nộp thuế trên phần thu nhập phát sinh có nguồn gốc từ Mỹ. Các khoản
thu nhập do làm việc trên đất Mỹ đều phải chịu thuế thu nhập; các khoản thu
nhập do chuyển nhợng tài sản và thu nhập đầu t; các khoản thu nhập từ tiền
lãi, cổ tức, tiền cho thuê và tiền bản quyền có nguồn gốc từ Mỹ... Đồng thời,
các khoản chi phí liên quan đến công việc tạo ra thu nhập cũng sẽ đợc khấu
trừ: công tác phí, chi phí cần thiết cho công việc, tuy nhiên tổng tất cả các
khoản khấu trừ này không đợc phép vợt quá 2% thu nhập gộp sau khi điều
22
chỉnh. Ngoài ra, trong luật còn qui định cụ thể một số loại chi phí khác đợc
khấu trừ.
Bảng 3- Biểu thuế suất thuế thu nhập cá nhân ở Mỹ
Đối với hai vợ chồng khai chung một tờ khai:
Thu nhập chịu thuế( $/năm) Thuế suất(%)
0-45200 15
45200-109250 27.5
109250-166500 30.5
166500-297350 35.5
297350- 39.1
Đối với hai vợ chồng nộp tờ khai riêng:
Thu nhập chịu thuế( $/năm) Thuế suất(%)
0-22600 15
22601-54625 27.5
54625-83250 30.5
83250-148675 35.5
148675- 39.1
Đối với ngời độc thân:
kinh doanh thực hiện trên đất Thái Lan, bất kể các khoản thu nhập này nhận
đợc bên trong hay bên ngoài lãnh thổ Thái Lan. Thu nhập chịu thuế ở Thái
Lan bao gồm các khoản thu nhập do cung cấp dịch vụ trên đất Thái Lan, tiền
lơng, tiền công, tiền hu bổng, tiền cho thuê nhà, tiền chi trả hộ;các khoản thu
nhập từ chuyển nhợng tài sản và thu nhập đầu t (có một số ngoại lệ nh thu
nhập do chuyển nhợng cổ phần của một công ty có niêm yết trên thị trờng
chứng khoán thì đợc miễn thuế, thu nhập do chuyển nhợng công phiếu, trái
phiếu, tín phiếu kho bạc thì ngời nộp thuế có thể lựa chọn hoặc nộp thuế
khấu lu theo thuế suất cố định là 15% và khỏi phải cộng thu nhập này vào thu
nhập cá nhân để nộp thuế thu nhập); thu nhập từ tiền lãi gửi ngân hàng, hay
cho công ti tài chính vay chịu thuế khấu lu theo thuế suất cố định 15% và đợc
khấu trừ vào số thuế thu nhập phải nộp. Các khoản chi phí liên quan đến
công việc không đợc khấu trừ. Khấu trừ đối với tiền đóng BHXH tối đa là Bht
300.000 ; tiền lãi vay để mua nhà hoặc xây nhà đợc trừ tối đa là Bht 10000.
Bảng 4- Biểu thuế suất thuế thu nhập cá nhân ở Thái Lan
Thu nhập chịu thuế( Bht/năm) Thuế suất(%)
0-100.000 5
100.000-500.000 10
500.000-1.000.000 20
1.000.000-4.000.000 30
24
4.000.000- 37
Nguồn: Đề tài nghiên cứu thuế thu nhập cá nhân của TPHCM
Thái Lan cũng xem xét tới miễn giảm gia cảnh. Cá nhân có thu nhập từ
tiền lơng đợc hởng khoản chớc giảm cá nhân bằng 40% tiền lơng, nhng
không quá Bht 60.000; mỗi cá nhân đợc hởng các khoản khấu trừ là Bht
30.000 cho bản thân mình và cho vợ ( chồng); Bht 15.000 cho mỗi đứa con
và Bht 12.000 cho mỗi đứa con đợc đi học ở trờng đợc Nhà nớc công nhận.
(ii) Về tổ chức quản lý thu thuế
Thái Lan sử dụng phơng pháp khấu trừ tại nguồn đối với các khoản thu