Nghiên cứu giá trị của interleukin 6 và protein phản ứng c trong đánh giá mức độ nặng nhẹ của viêm tuỵ cấp - Pdf 13


Bộ giáo dục và đào tạo bộ y tế Trờng đại học y h nội
Nguyễn trọng hiếu
Nghiên cứu giá trị của interleukin- 6 v
protein phản ứng c trong đánh gía mức độ
nặng nhẹ của viêm tụy cấp Chuyên ngành: bệnh học nội khoa
M số: 3.01.31 Tóm tắt luận án tiến sĩ y học
Hà nội - 2009
- Th viện Thông tin Y học Trung ơng Các công trình nghiên cứu đ công bố
có liên quan đến đề ti luận án 1. Nguyễn Trọng Hiếu, Nguyễn Khánh Trạch (2006), Nồng độ
Interleukin-6 (IL-6) huyết thanh theo mức độ nặng nhẹ của viêm tụy
cấp, Tạp chí Khoa học Tiêu hóa Việt Nam, tập I, số 3, trang 75- 81.
Bài đã đợc báo cáo tại Hội nghị Tiêu hóa các nớc Đông Nam á
lần thứ VI và Hội nghị khoa học Tiêu hóa toàn quốc lần thứ XII (Hà
Nội, 10/2006).
2. Nguyễn Trọng Hiếu, Nguyễn Khánh Trạch (2006), Nghiên cứu
giá trị của Interleukin-6 và Protein phản ứng C trong đánh giá mức
độ của bệnh nhân viêm tụy cấp, Tạp chí Y học thực hành, số 11
(558), trang 2-5.
3. Nguyễn Trọng Hiếu, Nguyễn Khánh Trạch (2007), Giá trị của
Protein phản ứng C (CRP) và bảng điểm Imrie trong tiên lợng viêm
tụy cấp, Tạp chí Khoa học Tiêu hóa Việt Nam, tập II, số 7, trang
437-441.
Bài đã đợc báo cáo tại Hội nghị khoa học Tiêu hóa toàn quốc lần
thứ XIII (TP Hồ Chí Minh, 11/2007). 1
đặt vấn đề
Viêm tụy cấp (VTC) là một bệnh cấp tính thờng gặp trên
lâm sàng và có xu hớng ngày càng tăng. Trong thực hành lâm sàng,
sau khi chẩn đoán VTC đợc khẳng định, việc đánh giá về mức độ

- Phát hiện mối liên quan giữa nồng độ của IL-6 và CRP
trong huyết thanh với MĐ nặng nhẹ của bệnh VTC.
- Chứng minh đợc lợi ích và giá trị tin cậy của XN IL-6 và
CRP trong việc dự báo (tiên lợng) MĐ của bệnh VTC. Có so sánh
với một số phơng pháp đang đợc sử dụng rộng rãi trên thế giới là
bảng TL Imrie và chụp cắt lớp vi tính (bảng điểm CTSI).
- Góp phần đa ra những khuyến cáo về áp dụng XN IL-6 và
CRP trong việc TL MĐ nặng nhẹ của các BN VTC trong điều kiện
thực tế Việt Nam.
Cấu trúc luận án: Luận án đợc trình bày trên 117 trang
giấy khổ A4 không kể tài liệu tham khảo và các phụ lục.
- Đặt vấn đề: 2 trang.
- Chơng 1: Tổng quan tài liệu, 28 trang.
- Chơng 2: Đối tợng và phơng pháp nghiên cứu, 14 trang.
- Chơng 3: Kết quả nghiên cứu, 33 trang.
- Chơng 4: Bàn luận, 38 trang.
- Kết luận: 1 trang.
- Kiến nghị: 1 trang.
Luận án gồm 4 hình, 48 bảng và 16 biểu đồ. Phần đầu có lời
cảm ơn, mục lục và danh mục chữ viết tắt. Phần tài liệu tham khảo gồm
175 tên tài liệu tham khảo tiếng Việt và tiếng Anh. Phần phụ lục gồm
có danh sách các bệnh nhân nghiên cứu, một số hình ảnh minh họa và
mẫu bệnh án nghiên cứu.

Chơng 1: tổng quan ti liệu
1.1. Đánh giá MĐ và tiên lợng của viêm tụy cấp
Có rất nhiều phơng pháp đợc đa ra và áp dụng để đánh
giá MĐ nặng nhẹ và TL của VTC, nhng cho đến nay cha có
phơng pháp nào tỏ ra tối u và đây là vấn đề còn nhiều tranh cãi. Có
thể chia các phơng pháp TL VTC thành 6 loại sau:

Protein phản ứng C (CRP) là một protein thuộc loại pentraxin
chỉ đợc sản xuất bởi tế bào gan dới sự kiểm soát chủ yếu bởi IL-6
1.2.2.2. Vai trò của CRP trong VTC
ở BN VTC, mức sản xuất CRP tơng quan chặt chẽ với MĐ
bệnh. ở ngày thứ 2-3 của bệnh, xét nghiệm CRP có khả năng xác

4
định các trờng hợp VTC nặng với độ nhạy 83-90% và độ đặc hiệu
74-84%. Hiện nay, CRP đã đợc khuyến cáo sử dụng thờng quy
trong đánh giá MĐ của VTC trong lâm sàng. Với mức CRP > 150
mg/L đợc coi là dấu hiệu của VTC nặng.

Chơng 2: Đối tợng v phơng pháp nghiên cứu

2.1. Đối tợng nghiên cứu
Các BN đợc chẩn đoán và điều trị VTC tại các khoa Tiêu
hóa, khoa Điều trị tích cực, khoa Ngoại- BV Bạch Mai và khoa Phẫu
thuật Gan mật- BV Việt- Đức (Hà Nội), từ 03/2004- 11/2005.
2.1.1. Chẩn đoán xác định VTC
Chẩn đoán xác định VTC theo khuyến cáo của Hội nghị Tiêu
hóa Thế giới 2002.
* Triệu chứng lâm sàng: Đau thợng vị đột ngột, đau dữ dội
* Xét nghiệm: Amylase máu tăng > 3 lần so với bình thờng.
* Có hình ảnh VTC trên siêu âm hoặc CCLVT.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
* Không đa vào nghiên cứu các trờng hợp VTC nhng có
kèm theo những bệnh khác mà có thể gây ảnh hởng đến sự sản xuất
IL- 6 và CRP nh: Nhồi máu cơ tim cấp, viêm khớp, Lupus ban đỏ,
có nhiễm khuẩn ở các cơ quan khác, lao tiến triển, xơ gan
2.2. Phơng pháp nghiên cứu

2.2.5.2. VTC nhẹ: Là các trờng hợp VTC chỉ có rối loạn
chức năng tạng ở mức tối thiểu và hồi phục nhanh chóng.
2.2.6. Đánh giá MĐ nặng nhẹ và TL của viêm tụy cấp
2.2.6.1. Đánh giá dựa vào bảng yếu tố TL Glasgow (Imrie)
Tất cả các BN đều đợc đánh giá MĐ theo bảng điểm này.
Việc đánh giá hoàn thành sau khi BN vào viện 48 giờ theo 8 tiêu
chuẩn sau:
Tuổi
>
55
Số lợng bạch cầu
>
15.000/mL
Đờng máu lúc đói
>
10 mmol/L
Ure máu
>
16 mmol/L
LDH
>
600 U/L
Albumin máu
<
32 g/L
Canxi máu
<
2 mmol/L
PaO
2

- Các XN định lợng NĐ IL-6 và CRP huyết thanh đợc thực
hiện tại Labo Y sinh học- Trờng Đại học Y Hà Nội.
- Định lợng CRP huyết thanh với kit CRP- hs của hãng Human
(CHLB Đức). Định lợng IL-6 huyết thanh với kit Interleukin- 6 [(h)IL- 6]
Human, Biotrak ELISA System của hãng Amersham Bioscienes (Anh).
- Kết quả IL- 6 và CRP đợc làm mù với MĐ VTC trên lâm sàng.
2.3. Phơng pháp xử lý số liệu
- Các giá trị về NĐ của IL- 6 và CRP đợc trình bày dới
dạng giá trị trung bình sai số chuẩn. Test t- Student và test số hạng
Mann- Whitney U đợc dùng để so sánh sự khác biệt về NĐ của IL-6
và CRP ở các nhóm VTC.
- Đờng cong nhận dạng (ROC Curve) và diện tích dới đờng
cong nhận dạng (AUC) tơng ứng đợc tính để đánh giá khả năng của
các phơng pháp trong việc phân biệt VTC nặng với VTC nhẹ
* Số liệu đợc tính toán thống kê với phần mềm Medcalc phiên bản
8.1.0.0 (Medcalc, Mariakerke- Bỉ) và phần mềm SPSS phiên bản 13.0.

7
Chơng 3: kết quả nghiên cứu
3.1. Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu
* Nghiên cứu của tôi đợc tiến hành ở 100 BN VTC; nam
chiếm 67%, nữ chiếm 33%. Nguyên nhân thờng gặp nhất là do rợu
(26%), sỏi mật (15%), giun (10%).
* Theo tiêu chuẩn phân loại Atlanta 1992: Có 57% BN đợc
xác định là VTC nhẹ, 43% BN là VTC nặng.
3.2. Sự thay đổi NĐ IL- 6 và CRP ở BN VTC phân loại
theo Atlanta 1992

Ngày 7
VTC nặng (n=27)
20,91 7,02
< 0,001
VTC nhẹ (n=4)
1,34 1,17
Tuần thứ 2
VTC nặng (n=12)
10,56 5,20
0,078
Nhận xét: Bất kể là VTC nhẹ hay nặng, NĐ IL- 6 huyết thanh
đều tăng cao nhất ngay trong ngày đầu của bệnh sau đó giảm dần, NĐTB
IL- 6 ở nhóm VTC nặng tăng rất cao so với ở nhóm VTC nhẹ, sự khác biệt
rất có ý nghĩa thống kê đợc nhận thấy trong suốt tuần đầu của bệnh. 8
Biểu đồ 3.3: Sự thay đổi NĐ IL- 6 huyết thanh theo MĐ VTC

L
)
theo mức độ vtc
9.06
6.69
4.88
185.83
105.57
1.34
3.6
10.56
20.91
40.55
0
25
50
75
100
125
150
175
200
Ngy 1 Ngy 3 Ngy 5 Ngy 7 Tun 2
VTC nh
VTC nng

9

Không (n=48)
26,80 16,60
IL- 6
Có (n=26)
87,45 27,45
0,0001
Không (n=48)
95,50 11,41
Tràn dịch
màng
phổi
CRP
Có (n=26)
223,22 21,12
0,0001
Không (n=47)
30,94 17,22
IL- 6
Có (n=27)
78,01 26,53
0,0001
Không (n=47)
113,13 14,73
Cổ
trớng
CRP
Có (n=27)
187,79 20,47
0,003
Không (n=63)

250
Ngy 1 Ngy 3 Ngy 5 Ngy 7 Tun 2
VTC nh
VTC nng

10
Không (n=66)
22,06 5,12
IL- 6
Có (n=8)
263,05 107,47
0,0001
Không (n=66)
131,49 13,15
Suy hô
hấp
CRP
Có (n=8)
213,62 34,98
0,032
Không (n=66)
32,92 11,31
IL- 6
Có (n=8)
173,47 92,97
0,0001
Không (n=66)
132,56 13,68
Suy thận
CRP

Nồng độ IL- 6 (

XSEM)
p
0 - 2
10,33 2,49
Ngày 1
3
200,60 82,22
< 0,0001
0 - 2
11,03 3,98
Ngày 3
3
109,03 35,89
< 0,0001
0 - 2
5,12 1,07
Ngày 5
3
46,27 20,48
< 0,0001
0 - 2
5,37 1,61
Ngày 7
3
22,48 8,76
0,005
0 - 2
2,15 1,25

3
156,73 15,99
< 0,0001
0 - 2
35,68 9,56
Ngày 7
3
101,34 16,52
0,005
0 - 2
13,92 5,42
Tuần thứ 2
3
54,72 21,45
0,008
Nhận xét: ở nhóm VTC có điểm Imrie 3 cũng nh nhóm có
điểm Imrie 0- 2, NĐ CRP đều tăng cao nhất ở ngày 3 rồi giảm dần. NĐ
CRP ở nhóm có Imrie 3 cao hơn có ý nghĩa so với nhóm có Imrie 0- 2.
3.5. Sự thay đổi NĐ IL- 6 và CRP ở các nhóm VTC nhẹ và
VTC nặng đợc xác định bằng chụp cắt lớp vi tính (Điểm CTSI)
Bảng 3.24: NĐ IL- 6 (pg/mL) ở các nhóm VTC theo điểm CTSI
Ngày bệnh Điểm CTSI
Nồng độ IL- 6 (

XSEM
)
p
0 - 3
6,32 3,04
Ngày 1

có điểm CTSI 4 và ở ngày 3 đối với nhóm có điểm CTSI 0- 3, sau
đó đều giảm dần. Sự khác biệt chỉ thực sự có ý nghĩa ở ngày 5.
Bảng 3.25: NĐ CRP (mg/L) ở nhóm VTC nặng và VTC nhẹ
đợc xác định bằng CTSI
Ngày bệnh Điểm CTSI
Nồng độ CRP (

XSEM
)
p
0 - 3
67,72 33,31
Ngày 1
4
93,12 25,99
0,878
0 - 3
137,60 34,65
Ngày 3
4
191,03 19,14
0,224
0 - 3
80,50 19,69
Ngày 5
4
145,77 17,12
0,021
0 - 3
34,18 17,01

Ngày 5 7,01 85,2 82,9 76,7 89,5 83,8
Nhận xét: XN IL- 6 đạt giá trị tốt nhất ngay trong ngày đầu
của bệnh với độ nhạy 81,8%, độ đặc hiệu 95,5% và GTDB (+) đạt tới
90%. ở các ngày sau, XN có độ nhạy và độ đặc hiệu trên 80%.

13
Bảng 3.28: Giá trị của CRP trong dự báo VTC nặng (Tỷ lệ %).
Ngày
bệnh
Cut- off
(mg/L)
Độ nhạy Độ đặc
hiệu
Giá trị
dự báo (+)
Giá trị
dự báo (-)
Tỷ lệ
chính xác
Ngày 1 20,5 100,0 50,0 50,0 100,0 66,7
Ngày 3 124,7 80,6 76,7 71,4 84,6 78,4
Ngày 5 33,1 96,3 61 61,9 96,2 75,0
Nhận xét: XN CRP đạt giá trị tốt nhất ở ngày thứ 3 của bệnh
với độ nhạy 80,6%, độ đặc hiệu 76,7% và GTDB (+) 71,4%. ở ngày
đầu và ngày thứ 5, XN CRP có độ nhạy rất cao nhng có độ đặc hiệu
và GTDB (+) thấp, chỉ khoảng 50- 60%.
Bảng 3.29: Giá trị vùng dới đờng cong nhận dạng (ROC
Curve) của IL- 6 và CRP trong dự báo MĐ của VTC
Ngày 1 Ngày 3 Ngày 5
IL- 6 0,959 0,914 0,873

100-Specificity
100
80
60
40
20
0
Sensitivity

IL6n5
CRPn5
0 20 40 60 80 100
100-Specificity
100
80
60
40
20
0
Sensitivity14
3.7. So sánh giá trị của IL- 6 và CRP với bảng tiên lợng
Imrie và bảng CTSI trong TL MĐ của BN VTC
Bảng 3.38: So sánh AUC của IL- 6 với bảng Imrie và bảng
CTSI trong dự báo MĐ VTC.
IL- 6 ngày 1 Imrie CTSI
AUC 0,975 0,981 0,870
p p


15
4.2. Về sự thay đổi NĐ IL- 6 và CRP của BN VTC
4.2.3. Về sự thay đổi NĐ IL- 6 và CRP huyết thanh của
nhóm các BN VTC nặng và VTC nhẹ theo phân loại Atlanta 1992
ở các BN VTC nặng cũng nh nhẹ, NĐ IL- 6 đều đạt mức
cao nhất trong ngày đầu tiên của bệnh, tuy nhiên MĐ tăng IL- 6 lại
hoàn toàn khác nhau giữa 2 nhóm. Hầu hết các BN VTC nặng có NĐ
IL- 6 tăng cao trong khi phần lớn các BN VTC nhẹ có NĐ IL- 6 ở
mức bình thờng. Sự khác biệt rất có ý nghĩa thống kê về NĐ IL- 6
giữa 2 nhóm BN này đợc nhận thấy trong suốt tuần đầu của bệnh.
Rất nhiều nghiên cứu của các tác giả nớc ngoài cũng nhận
thấy NĐ IL- 6 huyết thanh tăng cao nhất ngay từ ngày đầu, và tăng
cao hơn ở các BN VTC nặng so với các BN thể nhẹ ở tất cả các thời
điểm nghiên cứu. Nghiên cứu ở các BN VTC sau ERCP, tác giả
Messmann nhận thấy, ở BN VTC hoại tử, đỉnh NĐ IL- 6 đạt đợc sau
24 giờ, còn ở các BN nhẹ thì đỉnh IL- 6 xuất hiện sau 48 giờ. Vì thế,
MĐ nặng của bệnh không chỉ đợc phản ánh bởi NĐ IL- 6 cao hơn
mà còn ở chỗ xuất hiện đỉnh NĐ sớm hơn. Nghiên cứu của tôi cũng
nh các nghiên cứu khác, đều không phát hiện đợc hiện tợng này
có lẽ vì điều kiện lâm sàng không cho phép tôi lúc nào cũng có thể
lấy máu BN đúng theo giờ dự kiến đợc.
NĐ CRP huyết thanh của các BN VTC nặng cũng nh nhẹ
đều tăng cao ngay từ ngày đầu của bệnh và đều tăng cao nhất (NĐ
đỉnh) ở ngày thứ 3 sau đó giảm dần. Tôi cũng thấy NĐ CRP của các
BN VTC nặng cao hơn có ý nghĩa so với các BN thể nhẹ ở các ngày
1-3- 5- 7. Nhận xét tơng tự cũng đợc nhận thấy trong các nghiên
cứu ở nớc ngoài cũng nh tại Việt Nam.
Trong nhiều năm qua, trên thế giới có rất nhiều các nghiên
cứu đợc tiến hành nhằm tìm hiểu về giá trị của IL- 6 và CRP ở các

thời điểm nghiên cứu. Nồng độ CRP tăng cao nhất ở ngày thứ 3 sau
đó đều giảm dần, có sự khác biệt có ý nghĩa về NĐ CRP của nhóm có
điểm Imrie 3 so với nhóm có Imrie 0- 2 điểm ở tất cả các thời điểm

17
nghiên cứu. Tôi cũng nhận thấy có mối tơng quan rất chặt chẽ giữa
NĐ IL- 6 với điểm Imrie (r = 0,702 với p = 0,0001) và liên quan chặt
chẽ giữa NĐ CRP với điểm Imrie (r = 0,582 với p < 0,0001).
Tơng tự nh kết quả nghiên cứu của tôi, nghiên cứu mới đây
của Stimac và các cộng sự cũng thấy, ngay từ ngày vào viện, NĐ IL-
6 cùng với IL- 8 và IL- 10 tăng cao hơn có ý nghĩa ở nhóm BN có
điểm Imrie 3 so với nhóm có Imrie < 3. Nghiên cứu của Đỗ Quang
út về CRP trong VTC cũng thu đợc các kết quả tơng tự nghiên cứu
của tôi.
Tăng NĐ IL- 6 và CRP trong huyết thanh BN VTC cùng với
MĐ nặng đợc TL bằng các bảng điểm đa thông số nh Ranson,
Imrie và APACHE II (là các phơng pháp TL VTC đã đợc sử dụng
rộng rãi) càng cho thấy việc sử dụng IL- 6 và CRP trong đánh giá TL
của các BN VTC là có cơ sở.
4.3.2. Về sự thay đổi của NĐ IL- 6 và CRP theo MĐ VTC
đợc xác định với bảng CTSI- Balthazar
Nồng độ trung bình IL- 6 và CRP của các BN có điểm CTSI
4 so với nhóm có CTSI = 0- 3 điểm. Tuy nhiên, sự khác biệt có ý nghĩa
chỉ đợc nhận thấy ở ngày 5 với IL- 6 và ở ngày 5- 7 đối với CRP. Tôi
nhận thấy có một mối tơng quan rất chặt chẽ giữa đỉnh NĐ của IL- 6
với điểm CTSI (r= 0,792 với p= 0,0011) nhng không thấy có tơng
quan giữa đỉnh NĐ CRP với điểm CTSI (r= 0,112 với p= 0,423).
Trong khi đó, nghiên cứu của Gurleyik phát hiện có một mối
tơng quan chặt chẽ giữa NĐ CRP với CTSI, có 91% (10/11) BN có
CTSI 3 có NĐ vợt quá 150 mg/L. Trong nghiên cứu của Đỗ Quang

khi BN đến viện trong những giờ đầu của bệnh.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, XN IL- 6 (với cut- off ở ngày 1
là 31,19 pg/mL) và CRP (với cut- off ở ngày 3 là 124,7 mg/L) đều rất

19
tin cậy trong dự báo sớm các trờng hợp VTC nặng và IL- 6 tỏ ra tốt
hơn có ý nghĩa so với CRP, đặc biệt trong những ngày đầu của bệnh.
Nói chung, XN CRP có độ nhạy cao hơn so với IL- 6; tuy nhiên XN
IL- 6 lại có độ đặc hiệu, giá trị dự báo (GTDB) dơng tính và tỷ lệ
chính xác tốt hơn nhiều so với CRP.
Kết quả nghiên cứu của tôi đợc so sánh với kết quả của các
tác giả khác trong bảng dới đây.
Bảng 4.1: Giá trị của IL- 6 và CRP trong dự báo MĐ của
VTC qua các nghiên cứu ở nớc ngoài và Việt Nam
Tác giả
Xét
nghiệm
AUC Độ nhạy Độ đặc
hiệu
GTDB
(+)
GTDB
(-)
Tỷ lệ
chính xác
IL- 6
0,901 100 86 91
Pezzilli- 1995
CRP
0,909 100 64 78

CRP
0,845 83,3 73,7 80
Stimac- 2006
IL- 6
68,7 69,9 50 83,6
Sathyanarayan-
2007
IL- 6
81,8 77,7
T.P Chí- 2006
CRP
96,9 83,3
Đ.Q út- 2006
CRP
100 90
IL- 6
0,959 81,8 95,5 90 91,3 90,9
N.T Hiếu- 2007
CRP
0,808 80,6 76,7 71,4 84,6 78,4
Rõ ràng, kết quả các nghiên cứu ở trong và ngoài nớc đều cho
thấy, cả 2 xét nghiệm IL- 6 và CRP đều rất có giá trị trong dự báo sớm
các trờng hợp VTC nặng. Khi so sánh 2 phơng pháp này với nhau, tất

20
cả các nghiên cứu đều nhận thấy IL- 6 tốt hơn có ý nghĩa so với CRP
trong dự báo sớm MĐ của các BN VTC. Xét nghiệm IL- 6 còn có lợi
thế về thời gian là sớm hơn 24- 48 giờ so với CRP. Các nghiên cứu ở
nớc ngoài cho thấy, ở ngày đầu, XN CRP thờng có độ nhạy rất thấp
(8- 56%) trong dự báo MĐ của VTC.

vào viện cũng nh theo dõi diễn biến của bệnh trong những ngày sau,
còn bảng Imrie chỉ có giá trị ở thời điểm 48 giờ sau khi BN vào viện.
Nghiên cứu của Chen cũng nh của Gurleyik đều nhận thấy,
mặc dù bảng APACHE II ở ngày 1 và 2 tỏ ra tốt hơn bảng Ranson
(tơng tự bảng Imrie) nhng vẫn kém hơn có ý nghĩa khi so với IL- 6
trong TL MĐ của VTC. Các tác giả này đều có chung một kết luận là
NĐ IL- 6 huyết thanh là tốt nhất trong đánh giá sớm MĐ của VTC và
khuyến cáo nên định lợng IL- 6 huyết thanh ngay trong ngày vào viện
ở tất cả các BN VTC, khi mà XN IL- 6 có thể đợc làm thờng quy.
Nghiên cứu mới đây của Stimac cho thấy, XN IL- 6 tốt hơn có
ý nghĩa so với tất cả các bảng TL đa thông số APACHE II, Ranson và
Imrie do các bảng TL này có độ nhạy quá thấp trong TL các trờng
hợp VTC nặng.
Theo kết quả nghiên cứu của tôi, CRP ở ngày thứ 3, ngày mà
CRP đạt giá trị tốt nhất, cũng không tốt bằng bảng TL Imrie trong đánh
giá MĐ của các BN VTC. Các nghiên cứu của Johnson và
Neoptolemos cũng thu đợc kết quả tơng tự nh nghiên cứu của tôi.
Trong khi đó, một số tác giả khác lại cho rằng CRP có khả năng tơng
đơng với các bảng TL đa thông số nh Ranson, Imrie và APACHE II.
Do là XN đơn giản, rẻ tiền lại cho kết quả nhanh nên hiện nay,
XN CRP đang đợc sử dụng ngày càng rộng rãi hơn trong đánh giá
MĐ của VTC. Mặc dù ngỡng NĐ để phân định VTC nặng với nhẹ có
khác nhau trong các nghiên cứu, nhng nói chung ngỡng 150 mg/L
đợc coi là chuẩn để phân biệt VTC nhẹ với VTC nặng. CRP có vẻ

22
đợc a dùng hơn các bảng TL đa thông số vì tính phức tạp và giới hạn
về thời gian.
Mặc dù CCLVT đợc coi là phơng pháp rất tốt với việc đánh
giá tụy và tổ chức quanh tụy trong VTC, nhng kết quả nghiên cứu của

mức độ nặng nhẹ của viêm tụy cấp đợc phân loại theo tiêu
chuẩn ATLANTA- 1992
- ở các bệnh nhân viêm tụy cấp nặng cũng nh nhẹ, nồng độ
IL-6 huyết thanh tăng cao nhất ngay trong ngày đầu, nồng độ CRP
huyết thanh tăng cao nhất ở ngày thứ 3 của bệnh rồi đều giảm dần ở
những ngày sau. Nồng độ IL- 6 và CRP huyết thanh của nhóm viêm
tụy cấp nặng tăng cao có ý nghĩa thống kê so với ở nhóm viêm tụy
cấp nhẹ trong suốt tuần đầu của bệnh.
2. Về giá trị của xét nghiệm IL-6 và CRP huyết thanh
trong dự báo sớm mức độ của bệnh nhân viêm tụy cấp
- Trong dự báo mức độ của viêm tụy cấp, xét nghiệm IL-6
huyết thanh đạt giá trị tốt nhất trong ngày đầu, CRP tốt nhất ở ngày 3
của bệnh. ở ngày 1 - 3, xét nghiệm IL-6 tốt hơn có ý nghĩa so với CRP.
- Ngay ngày đầu của bệnh, xét nghiệm IL-6 huyết thanh đã
tiên lợng các trờng hợp viêm tụy cấp nặng với độ nhạy 81,8%; độ
đặc hiệu 95,5%; giá trị dự báo dơng tính 90%; giá trị dự báo âm tính
91,3% và tỷ lệ chính xác là 90,9%; với diện tích vùng dới đờng
cong nhận dạng (AUC) là 0,959. Các giá trị tơng ứng của CRP huyết
thanh ngày 3 là 80,6%; 76,7%; 71,4%; 84,6%; 78,4%; và 0,803.
- So sánh giá trị AUC của xét nghiệm IL-6 huyết thanh ngày
1 với bảng tiên lợng Imrie và bảng CTSI trong tiên lợng mức độ
viêm tụy cấp cho thấy không có sự khác biệt. So sánh AUC của CRP
huyết thanh ngày 3 với bảng điểm Imrie và CTSI cho thấy giá trị
AUC của bảng điểm Imrie lớn hơn có ý nghĩa so với CRP huyết

24
thanh; không có sự khác biệt về AUC của CRP huyết thanh so với
bảng điểm CTSI trong đánh giá tiên lợng viêm tụy cấp.

kiến nghị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status