TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
KHOA TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
TIỀN TỆ NGÂN HÀNG
ĐỀ TÀI 04 CƠ CHẾ GIÁM SÁT HỆ THỐNG NGÂN HÀNG
CÁC QUY ĐỊNH TRỌNG YẾU VỀ BASEL II – BASEL III
GVHD
ThS. Nguyễn Thị Hai Hằng
Sinh viên thực hiện:
Trần Hữu Tài K094040594 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, 2012
GVHD: NGUYỄN THỊ HAI HẰNG BASEL
SVTH: TRẦN HỮU TÀI
Page 2 of 20
MỤC LỤC
GVHD: NGUYỄN THỊ HAI HẰNG BASEL
SVTH: TRẦN HỮU TÀI
Page 3 of 20
I Nguồn gốc của Hiệp ước Basel:
I.1 Tổng quan:
Nền tảng: Vốn an toàn theo quy định là một biện pháp dự phòng bắt
buộc nhằm đảm bảo rằng các ngân hàng có khả năng khắc phục tổn thất
mà không ảnh hưởng đến lợi ích của người gửi tiền.
Việc tính toán lượng vốn pháp định được dựa trên hướng dẫn của Ủy ban
giám sát ngân hàng Basel (Basel 1)
Hướng dẫn này được Ủy ban Basel giới thiệu đầu tiên vào năm 1988 và
sửa đổi năm 1996 bổ sung thêm rủi ro thị trường.
Được thực hiện ở EU thông qua một quy định gián tiếp của EU; và thực
hiện ở Anh thông qua các quy định của Cơ quan giám sát tài chính FSA.
Vốn an toàn theo quy định có thể bao gồm vốn dự trữ, vốn cổ phần, nợ
thứ cấp, các khoản dự phòng nợ xấu.
Có các quy định điều chỉnh mức độ của các công cụ trên tham gia vào
vốn an toàn theo quy định như thế nào.
I.2 Các cơ sở:
Thiết lập "các quy tắc đơn giản" trong việc tính toán tỷ lệ an toàn vốn tối
thiểu bằng việc sử dụng khung đánh giá trọng số rủi ro.
Mọi tài sản có đều được FSA chỉ định một trọng số phản ảnh mức độ rủi
I.5.2 Một số những khái niệm có liên quan :
Rủi ro :Như bất kỳ một công ty hay tổ chức nào khác, một ngân hàng thực
hiện mục tiêu kiếm tiền bằng việc chấp nhận rủi ro, do đó ngân hàng sẽ có thể
đối mặt với thua lỗ. Trong trường hợp tệ nhất, ngân hàng có thể phá sản. Những
rủi ro trọng yếu nhất là:
Rủi ro tín dụng: Rủi ro do tính không chắc chắn về khả năng hay sự sẵn
sàng của đối tác trong việc đáp ứng các nghĩa vụ được quy định trong hợp đồng.
Rủi ro vận hành: Rủi ro do hệ thống máy tính kế toán hay các lĩnh vực
vận hành khác của đơn vị gặp sai hỏng, dẫn tới thua lỗ.
Rủi ro thị trường: Rủi ro do thay đổi giá trị tài sản và các khoản nợ do sự
thay đổi lãi suất và tỉ giá hối đoái.
Rủi ro thanh khoản : Rủi ro do ngân hàng bị hết tiền mặt để thanh toán
cho các nghĩa vụ tức thời, mặc dù giá trị tài sản hiện tại vẫn lớn hơn các
nghĩa vụ đó.
GVHD: NGUYỄN THỊ HAI HẰNG BASEL
SVTH: TRẦN HỮU TÀI
Page 5 of 20
Rủi ro pháp lý: Rủi ro bị kiện do sự cẩu thả hay sự phân biệt đối xử, hay
rủi ro một đối tác không đủ khả năng pháp lý để tham gia một hợp đồng.
Rủi ro khác. I.5.3 Chức năng của nguồn vốn :
Để bảo vệ ngân hàng và các khách hàng khỏi những rủi ro nói trên và để giảm
thiểu khả năng phá sản, một ngân hàng cần (và được yêu cầu) phải nắm giữ một
lượng vốn nhằm:
Cung cấp một vùng đệm khỏi sự thâm nhập của lỗ.
Bảo vệ người gửi tiền khỏi lỗ.
Bảo vệ quỹ bảo hiểm và người chịu thuế.
I.5.5 Tỉ lệ vốn dựa trên rủi ro – “Tỉ lệ Cook”
- Tỉ lệ này được phát triển bởi BCBS(Basel Committee on Banking
supervision) với mục đích củng cố hệ thống ngân hàng quốc tế, đối tượng ban
đầu là những ngân hàng hoạt động quốc tế, nhưng sau này đã được thực thi trên
hơn 100 quốc gia.
- Ngân hàng phải giữ lại lượng vốn bằng ít nhất 8% của rổ tài sản, được tính
toán theo nhiều phương pháp khác nhau và phụ thuộc vào độ rủi ro của chúng.
Vốn bắt buộc >= 8% x Tài sản tính theo độ rủi ro gia quyền
Tỉ lệ thoả đáng về vốn (CAR) = Vốn bắt buộc / Tài sản tính theo độ rủi ro
gia quyền
Cấp 1 - Vốn nòng cốt
Vốn chủ sở hữu vĩnh viễn
Dự trữ công bố (Lợi nhuận giữ lại)
Lợi ích thiểu số (minority interest) tại các công ty con, có hợp nhất báo
cáo tài chính
Lợi thế kinh doanh (goodwill)
Cấp 2 – Vốn bổ sung
Lợi nhuận giữ lại không công bố
Dự phòng đánh giá lại tài sản
Dự phòng chung/dự phòng thất thu nợ chung
Công cụ vốn hỗn hợp
Vay với thời hạn ưu đãi
Đầu tư vào các công ty con tài chính và các tổ chức tài chính khác
GVHD: NGUYỄN THỊ HAI HẰNG BASEL
SVTH: TRẦN HỮU TÀI
Page 7 of 20
Cấp 3 (Dành cho rủi ro thị trường) = Vay ngắn hạn
Vốn cấp 1 >= Vốn cấp 2 + Vốn cấp 3
sẽ có thể đánh giá được tính đầy đủ của những biện pháp đánh giá này (Cột trụ
2). Với cột trụ này, Basel II nhấn mạnh 4 nguyên tắc của công tác rà soát giám
sát:
+ Các ngân hàng cần phải có một quy trình đánh giá được mức độ đầy đủ vốn
của họ theo danh mục rủi ro và phải có được một chiến lược đúng đắn nhằm
duy trì mức vốn đó.
+ Các giám sát viên nên rà soát và đánh giá lại quy trình đánh giá về mức vốn
nội bộ cũng như về các chiến lược của ngân hàng. Họ cũng phải có khả năng
giám sát và đảm bảo tuân thủ tỷ lệ vốn tối thiểu. Theo đó, giám sát viên nên
thực hiện một số hành động giám sát phù hợp nếu họ không hài lòng với kết quả
của quy trình này.
+ Giám sát viên khuyến nghị các ngân hàng duy trì mức vốn cao hơn mức tối
thiểu theo quy định.
+ Giám sát viên nên can thiệp ở giai đoạn đầu để đảm bảo mức vốn của ngân
hàng không giảm dưới mức tối thiểu theo quy định và có thể yêu cầu sửa đổi
ngay lập tức nếu mức vốn không được duy trì trên mức tối thiểu.
Nguyên tắc thứ ba: Các ngân hàng cần phải công khai thông tin một cách thích
đáng theo nguyên tắc thị trường (Cột trụ 3). Với cột trụ này, Basel II đưa ra một
danh sách các yêu cầu buộc các ngân hàng phải công khai thông tin, từ những
thông tin về cơ cấu vốn, mức độ đầy đủ vốn đến những thông tin liên quan đến
mức độ nhạy cảm của ngân hàng với rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro tác
nghiệp và quy trình đánh giá của ngân hàng đối với từng loại rủi ro này. GVHD: NGUYỄN THỊ HAI HẰNG BASEL
SVTH: TRẦN HỮU TÀI
Page 9 of 20
II.2 Trọng số rủi ro theo loại tài sản
Trái phiếu Chính
phủ
0% 8% 1.000 USD
0 USD 0 USD
Trái phiếu đô thị 20% 8% 1.000 USD
200 USD
16 USD
Thế chấp nhà ở 50% 8% 1.000 USD
500 USD
40 USD
Vay không bảo
đảm
100% 8% 1.000 USD
1.000 USD
80 USD
Như vậy, với quá trình phát triển của Basel và những Hiệp ước mà tổ chức này
đưa ra, các ngân hàng thương mại càng ngày càng được yêu cầu hoạt động một
cách minh bạch hơn, đảm bảo vốn phòng ngừa cho nhiều loại rủi ro hơn.
III Basel III và việc thực thi ở các NHTM Việt Nam:
III.1 Sự thay đồi của Basel III:
Với nỗ lực ngăn chặn sự tái diễn của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, ngày
12/9/2010, Hiệp định Basel III với những quy định nghiêm ngặt hơn dành cho
toán quốc tế. Bên cạnh đó, vốn cấp 2 của các ngân hàng Việt Nam hiện còn hạn
chế; vốn vay mượn dài hạn để tính vào vốn tự có là hạn chế. Mặt khác, việc
đánh giá lại tài sản cố định của các ngân hàng Việt Nam hàng năm để tính lại
vốn tự có là chưa được thực hiện.
Tóm lại: Vấn đề là sắp tới sẽ là gì? Các nhà quản lý cần quan sát, theo dõi đâu
là tập quán tốt để áp dụng trên thị trường trong nước. "Việt Nam sẽ còn đi xa
hơn, chứ không phải là câu hỏi: liệu năm 2015, Việt Nam thực hiện Basel III
không? Quan trọng là ngân hàng tốt nhất, chứ không phải là ngân hàng tuân thủ
tốt nhất" GVHD: NGUYỄN THỊ HAI HẰNG BASEL
SVTH: TRẦN HỮU TÀI
Page 11 of 20 III.3 Điểm khác biệt Basel II so với Basel III?
Năm 2004, bản Hiệp ước quốc tế về vốn của Basel (Basel II) đã chính thức
được ban hành. Với cách tiếp cận mới dựa trên 3 cột trụ chính, Basel II đã buộc
các ngân hàng quốc tế phải tuân thủ theo 3 nguyên tắc cơ bản:
Nguyên tắc thứ nhất: Các ngân hàng cần phải duy trì một lượng vốn đủ lớn để
trang trải cho các hoạt động chịu rủi ro của mình, bao gồm rủi ro tín dụng, rủi ro
thị trường và rủi ro tác nghiệp (Cột trụ 1). Theo đó, cách tính chi phí vốn đối
với rủi ro tín dụng có sự sửa đổi lớn, thay đổi nhỏ với rủi ro thị trường nhưng
hoàn toàn là phiên bản mới đối với rủi ro tác nghiệp.
Nguyên tắc thứ hai: Các ngân hàng cần phải đánh giá một cách đúng đắn về
những loại rủi ro mà họ đang phải đối mặt và đảm bảo rằng những giám sát viên
sẽ có thể đánh giá được tính đầy đủ của những biện pháp đánh giá này (Cột trụ
2). Với cột trụ này, Basel II nhấn mạnh 4 nguyên tắc của công tác rà soát giám
sát:
trưởng kinh tế"
Uỷ ban gói cải cách sẽ làm tăng yêu cầu vốn tối thiểu chung từ 2% đến
4,5%. Ngoài ra, các ngân hàng sẽ được yêu cầu tổ chức một bộ đệm bảo tồn vốn
là 2,5% để chịu được sự căng thẳng trong tương lai mang lại các yêu cầu tổng
vốn chủ sở hữu lên 7%.
III.3.1 Tăng vốn yêu cầu
Theo thỏa thuận đạt được, yêu cầu tối thiểu cho vốn chủ sở hữu, hình
thức cao nhất của mất khả năng hấp thụ vốn, sẽ được tăng từ mức 2% hiện
hành, trước khi áp dụng các điều chỉnh quy định, đến 4,5% sau khi áp dụng các
điều chỉnh chặt chẽ hơn. Điều này sẽ được thực hiện từng bước đến ngày 1
tháng 1 năm 2015. Các vốn cấp 1 yêu cầu, bao gồm vốn chủ sở hữu chung và
các công cụ tài chính khác dựa trên các tiêu chí khắt khe, sẽ tăng từ 4% đến 6%
so với cùng kỳ.
Nhóm Thống đốc và Thủ trưởng các giám sát cũng đồng ý rằng vốn bảo tồn
vùng đệm trên mức yêu cầu tối thiểu quy định được hiệu chỉnh vào 2,5% và
được đáp ứng với vốn chủ sở hữu chung, sau khi áp dụng các khoản phải trừ.
Các mục đích của bộ đệm bảo tồn là để đảm bảo rằng các ngân hàng duy trì một
bộ đệm của vốn có thể được sử dụng để hấp thụ các thiệt hại trong giai đoạn
kinh tế tài chính căng thẳng. Một bộ đệm chu kì ngược( countercyclical) trong
một phạm vi từ 0% - 2,5% vốn chủ sở hữu hoàn toàn mất khả năng hấp thụ vốn
sẽ được thực hiện theo trường hợp từng quốc gia. Mục đích của bộ đệm
countercyclical là để đạt được các mục tiêu rộng lớn hơn macroprudential bảo
vệ khu vực ngân hàng từ thời kỳ dư thừa tổng tín dụng tăng trưởng. Đối với bất
kỳ quốc gia, bộ đệm này sẽ chỉ có hiệu lực khi có tăng trưởng tín dụng nóng, là
kết quả trong một hệ thống rộng xây dựng các rủi ro.Những yêu cầu này vốn
GVHD: NGUYỄN THỊ HAI HẰNG BASEL
SVTH: TRẦN HỮU TÀI
Page 13 of 20
được bổ sung bởi một tỷ lệ đòn bẩy không dựa trên rủi ro mà sẽ là một backstop
Tỉ số vốn chủ sở hữu tối thiểu: 4.5%( thay vì 2%)
Vùng đệm dự trữ vốn: 2.5%
Cộng thêm vốn tối thiểu bảo tồn vùng đệm: 7%
Vốn cấp 1 tối thiểu: 6%( thay vì 4% trước đây)
Tổng nguồn v ốn tối thiểu: 8%
Tổng nguồn vốn cộng vào vùng đệm: 10.5%
III.4 Thực trạng mức đủ vốn của các NHTM Việt Nam trên cơ sở đối chiếu
với chuẩn quốc tế Basel II & III
Căn cứ theo các số liệu được công bố chính thức, hệ số an toàn vốn của toàn hệ
thống NHTM đạt ở mức trên 8% (theo Quyết định 457/2005/NHNN) và trên
9% (theo Thông tư 13/2010/TT-NHNN). Tuy nhiên, nếu căn cứ đúng những
quy định của Ủy ban Basel về an toàn vốn tối thiểu thì sự an toàn của hệ thống
NHTM về vốn cần có những đánh giá lại.
-Thứ nhất, đối với khối NHTMCP, giai đoạn từ năm 2008 đến nay, đã chứng
kiến sự mở rộng mạnh mẽ về quy mô tổng tài sản của hệ thống NHTM Việt
Nam, đặc biệt là ở nhóm NHTMCP với tốc độ tăng trưởng tổng tài sản trung
bình vào khoảng 45%/năm. Tuy nhiên, tốc độ tăng vốn tự có của nhóm
NHTMCP lại không theo kịp tốc độ mở rộng tổng tài sản. Ðiều đó dẫn đến hiện
tượng hệ số an toàn vốn của nhóm ngân hàng này có xu thế giảm, đặc biệt trong
năm 2010 và 2011. Hơn thế, như khuyến nghị của Basel III, trong tình huống hệ
số an toàn vốn ổn định nhưng tỷ lệ đòn bẩy tăng cao cũng có thể báo hiệu
những rủi ro tiềm ẩn trong hệ thống NHTM. Ðối với khối NHTMCP, xu hướng
hệ số đòn bẩy tài chính cao có thể nhận thấy khá rõ. Trên đà tăng như hiện nay,
khả năng chống đỡ của NHTMCP trước rủi ro là rất đáng lo ngại.
Bên cạnh đó, danh mục tài sản có của các NHTMCP trong giai đoạn 2010-2011
đang có sự thay đổi đáng chú ý: tỷ trọng tiền gửi tại các NHTM và chứng khoán
đầu tư tăng lên đáng kể trong khi tỷ trọng tín dụng giảm xuống. Bên cạnh tác
động khách quan từ nền kinh tế và hạn mức tăng trưởng tín dụng 20%, việc
NHNN yêu cầu các NHTM giảm tín dụng phi sản xuất xuống còn 16% vào cuối
một lượng vốn là 17.638,756 tỷ VND cho khối NHTMNN. Hơn thế, tỷ lệ đòn
bẩy của khối này lại ở mức cao hơn so với khối NHTMCP trong suốt giai đoạn
từ 2008 đến nay. Ðặc biệt, như trên đã phân tích, khối NHTMNN cho vay lại
các NHTMCP với một lượng vốn khá lớn. Do đó, một khi một trong những
NHTMCP có vấn đề, hiệu ứng lan truyền rủi ro sẽ cao.
-Thứ ba, xét trên khía cạnh toàn hệ thống, chỉ tiêu an toàn vốn của toàn bộ
NHTM Việt Nam đạt trên mức 9%. Tuy nhiên, điều này chưa thể hiện được
mức đủ vốn của hệ thống NHTM. Bởi thứ nhất, phần mẫu số theo quy định của
Thông tư 13/2010/TT-NHNN mới chỉ xác định rủi ro tín dụng chứ chưa tính
đến rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động (rủi ro tác nghiệp). Hơn thế, theo
khuyến nghị của Basel III, cần nâng mức an toàn vốn tới 13% để bao gồm cả rủi
ro do biến động kinh tế vĩ mô (rủi ro có tính chu kỳ) và rủi ro chéo trong trường
hợp ngân hàng hoạt động theo mô hình tập đoàn tài chính. Nếu xét tình huống
Việt Nam trong năm 2011 thì cả hai vấn đề rủi ro có tính chu kỳ và rủi ro chéo
GVHD: NGUYỄN THỊ HAI HẰNG BASEL
SVTH: TRẦN HỮU TÀI
Page 16 of 20
cần được tính tới. Hơn thế, khi đánh giá trong mối quan hệ với các NHTM trong
khu vực, mức độ an toàn vốn của các NHTM Việt Nam ở mức khá thấp
Bảng 3: Hệ số an toàn vốn hệ thống các TCTD tại Việt Nam và một số
quốc gia trên thế giới
Quốc gia CAR
Việt Nam 11.85%
TCTN Việt Nam
TCTD nước ngoài
11,13%
28,58%
Trung Quốc 11,8%
Ấn Độ 13,6%
- Cần chuẩn bị tiềm lực tài chính để sẵn sàng áp dụng các quy định về an toàn
vốn mới theo quy chuẩn Basel III. Cụ thể, NHTM cần có chiến lược thực hiện
các nội dung: (i) đảm bảo phát triển đủ vốn tự có thực theo quy chuẩn Basel III;
(ii) từng bước hình thành tấm đệm vốn chống rủi ro chu kỳ kinh tế và tấm đệm
vốn chống rủi ro hệ thống từ sự liên thông của các thị trường.
- Bên cạnh phát hành cổ phiếu, kế hoạch tăng vốn cũng nên quan tâm đến vấn
đề phát hành trái phiếu chuyển đổi thành cổ phiếu theo từng lộ trình, vừa tạo
cho ngân hàng có nguồn vốn ổn định lâu dài để mở rộng quy mô kinh doanh
vừa làm giảm áp lực chi trả cổ tức cho cổ đông.
- Ngân hàng cần có tầm nhìn chiến lược trong cân đối quyền lợi giữa cổ đông
lớn thường là HÐQT và cổ đông nhỏ để tạo uy tín và lòng tin của nhà đầu tư.
- Nghiên cứu phương án sáp nhập, mua lại ngân hàng để có thể chủ động khi
đóng vai trò là ngân hàng mua lại hoặc ngân hàng được mua lại để có sự chuẩn
bị hiệu quả.
- Các NHTM cũng nên chú ý vấn đề quản lý đòn bẩy tài chính trong điều kiện
kinh tế vĩ mô bất ổn như khuyến nghị của Basel III. Theo đó, các NHTM không
chỉ xây dựng việc đủ vốn dựa trên hệ số an toàn vốn tối thiểu mà còn tính đến
việc tăng vốn phù hợp tốc độ gia tăng tài sản của ngân hàng trong giai đoạn
kinh tế ở chu kỳ thịnh vượng. 2.2. Giải pháp cho các cơ quan quản lý Nhà nước
trong định hướng áp dụng Basel II & III trong quản lý an toàn vốn tại các
NHTM
Ðể đảm bảo quản lý mức độ đủ vốn thực sự hiệu quả xét trên toàn bộ hệ thống
ngân hàng thông qua hệ số CAR, NHNN cần có các giải pháp toàn diện đối với
vấn đề này. Cụ thể, các giải pháp có thể thực hiện trong thời gian tới gồm:
- NHNN Việt Nam cần có lộ trình cụ thể về thời gian trong việc áp dụng Basel
II và Basel III trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của các nước đã triển khai.
- NHNN cũng cần xây dựng kế hoạch cụ thể liên quan đến áp dụng Basel II và
III theo đó nhấn mạnh đến việc phân loại ngân hàng trong triển khai Basel II &
III. Cụ thể, nên áp dụng kinh nghiệm của Mỹ và Trung Quốc trong việc phân
loại thành 3 nhóm NHTM:
đặc biệt là cổ đông nhỏ để đề nghị bổ sung, chỉnh sửa vào các phương án, kế
hoạch tăng vốn, phân phối… để đảm bảo tính khả thi và bảo vệ quyền lợi cổ
đông.
III.5.2 Một số kiến nghị nhằm đảm bảo tính khả thi trong việc áp dụng
các chuẩn mực Basel liên quan đến đảm bảo an toàn vốn tại cácNHTM
Hoàn thiện Thông tư 13/2010/TT-NHNN
GVHD: NGUYỄN THỊ HAI HẰNG BASEL
SVTH: TRẦN HỮU TÀI
Page 19 of 20
-Căn cứ theo những đánh giá trong chương II, Thông tư 13/2010/TT-NHNN cần
có những thay đổi để góp phần hướng các NHTM tiếp cận việc quản lý rủi ro
theo Basel II và xa hơn là Basel III. Cụ thể như sau:
Thứ nhất là thay đổi cách tính CAR (hệ số an toàn vốn). Theo đó, Thông
tư 13 nên đảm bảo phần tính mẫu số của công thức tính CAR với việc cộng cả
rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động (rủi ro tác nghiệp).
Thứ hai, Basel II đã đưa ra các cách tiếp cận khác nhau cho các ngân
hàng có quy mô, đặc điểm khác nhau và các ngân hàng có thể tự lựa chọn cách
tiếp cận riêng cho mình; Thông tư 13/2010/TT-NHNN cũng cần xây dựng việc
tính mức độ đủ vốn căn cứ theo quy mô và phạm vi hoạt động của các NHTM.
Thứ ba, Thông tư 13/2010/TT-NHNN nên khắc phục những bất cập
trong quy định về hệ số rủi ro của các tài sản Có trong công thức tính tỷ lệ an
toàn vốn tối thiểu tại Ðiều 5. - NHNN nên xem xét bổ sung vào khoản 5.1 về
các tài sản có rủi ro bằng 0, đối với các khoản cho vay bằng vốn tài trợ, ủy thác
đầu tư theo các hợp đồng,trong đó NHTM chỉ hưởng phí ủy thác mà không chịu
rủi ro.
- Thông tư 13/2010/TT-NHNN cần phân loại tài sản chi tiết và tính đến sự khác
biệt giữa các mức độ rủi ro riêng biệt. Ðối với các khoản phải đòi, hệ số rủi ro
được xác định dựa trên loại hình tài sản bảo đảm (giấy tờ có giá, bất động
sản,…) và đối tượng (Chính quyền trung ương, chính quyền địa phương, công
2014 trở đi. Bên cạnh đó, NHNN ngay trong năm 2013 phải đảm bảo hoàn
thành xong Thông tư hướng dẫn việc thực toàn diện Basel II để từ đó có thể áp
dụng được từ năm 2014. Song song với quá trình này là giai đoạn 5 năm để
hoàn thiện mô hình giám sát ngân hàng theo định hướng mô hình giám sát hợp
nhất và 3 năm hoàn thiện các quy định liên quan đến minh bạch thông tin đảm
bảo kỷ luật thị trường theo tinh thần của Basel II. Ðối với phát triển mô hình
quản trị rủi ro hệ thống, NHNN cần làm đầu mối để triển khai “Hệ thống cảnh
báo sớm” hoặc các phương pháp tương đương để có thể phòng ngừa và hạn chế
tối đa rủi ro hệ thống. Công việc này cần thực hiện gấp trong 2 năm từ 2012 đến
2013, đảm bảo Việt Nam có hệ thống phòng ngừa và hạn chế rủi ro hệ thống
trước khi chính thức áp dụng Basel II & III.
Như vậy, trên cơ sở đánh giá toàn diện mức độ an toàn vốn của các NHTM Việt
Nam trong giai đoạn từ 2001-2012, bài viết đã đưa ra một số giải pháp liên quan
đến việc định hướng cho các NHTM Việt Nam áp dụng tiêu chuẩn vốn Basel
(cụ thể là Basel II & III), để từ đó có thể chủ động trong quản lý mức đủ vốn
của các NHTM. Nghiên cứu này đã nhấn mạnh được hai hệ thống giải pháp về
đảm bảo an toàn vốn (hay mức đủ vốn) trên cả hai giác độ: từ góc độ quản trị
của chính các NHTM và từ góc độ của NHNN Việt Nam. Hiệp ước Basel II và
Basel III đều đã nhấn mạnh “hệ thống ngân hàng một
quốc gia sẽ an toàn khi hệ thống các NHTM hoạt động lành mạnh với đủ vốn
đồng thời với sự quản lý hiệu quả của các cơ quan quản lý nhà nước về ngân
hàng”.