Ôn thi môn chủ nghĩa xã hội khoa học có đáp án - Pdf 13

C âu 1
1
: Phân tích khái niệm GCCN, Sứ mệnh lịch sử của GCCN:
1. Giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của nó.
Khái niệm:
Giai cấp công nhân là giai cấp của những người lao động, được hình thành và phát
triển cùng với nền sản xuất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hóa cao;là giai
cấp đại biểu lực lượng sản xuất và phương thức sản xuất tiên tiến trong thời đại ngày
nay,có sứ mệnh lịch sử là lãnh đạo và tổ chức nhân dân lao động các nước tiến hành
cách mạng XHCN, xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa, Cộng sản chủ nghĩa.
Giai cấp công nhân trong XHCN
Là những người đã cùng nhân dân lao động làm chủ tư liệu sản xuất chủ yếu của
xã hội, làm chủ quá trình sản xuất và phân phối, không còn bóc lột
Trong thời kỳ quá độ lên CNXH, khi nền kinh tế còn tồn tại nhiều thành phần thì
còn một bộ phận công nhân làm thuê trong các doanh nghiệp tư nhân bị bóc lột giá trị
thặng dư.
Giai cấp công nhân trong xã hội Tư bản
+ Là những người trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính
chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hoá cao.
+ Là những người không có TLSX, phải đi làm thuê, bán sức lao động cho nhà tư
bản và bị tư bản bóc lột giá trị thặng dư.
Quan niệm hiện nay về giai cấp công nhân
Giai cấp công nhân Việt Nam là một lực lượng xã hội to lớn, đang phát triển, bao
gồm những người lao động chân tay và trí óc, làm công hưởng lương trong các loại
hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản xuất kinh doanh và dịch
vụ có tính chất công nghiệp.
Nội dung và đặc điểm sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
Lênin: “điểm chủ yếu trong học thuyết của Mác là ở chỗ nó làm sáng tỏ vai trò
lịch sử thế giới của giai cấp vô sản, là người xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa”
Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân thể hiện trên hai nội dung cụ thể sau:

hình thành và phát triển của nền SX công nghiệp hiện đại, với nhịp độ phát triển củaLLSX có tính chất XHH ngày càngcao; là LLSX cơ bản và tiên tiến, trực tiếp hoặc
LLSX có tính chất XHH ngày càngcao; là LLSX cơ bản và tiên tiến, trực tiếp hoặcgián tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, tái sản xuất ra của cải vật chất và cải tạo
gián tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, tái sản xuất ra của cải vật chất và cải tạocác quan hệ xã hội; là lực lượng chủ yếu của tiến trình lịch sử quá độ từ CNTB lên
các quan hệ xã hội; là lực lượng chủ yếu của tiến trình lịch sử quá độ từ CNTB lênCNXH.
CNXH.

Ở các nước tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân là những người không có hoặc về
cơ bản không có tư liệu sản xuất phải làm thuê cho giai cấp tư sản và bị giai cấp tư
sản bóc lột giái trị thặng dư; ở các nước xã hội chủ nghĩa, họ là người đã cùng nhân
dân lao động làm chủ những tư liệu sản xuất và cùng nhau hợp tác lao đông vì lợi ích
chung của toàn xã hội trong đó có lợi ích chính đáng của bản thân họ".
Giai cấp công nhân hay giai cấp vô sản, theo Mac là giai cấp của những người phải
bán sức lao động để đổi lấy tiền lương và họ không phải là chủ sở hữu của phương
tiện sản xuất. Cũng theo Mac, giai cấp công nhân là giai cấp tạo ra các giá trị thặng
dư và sự giàu có cho xã hội. Ngày nay, đây là giai cấp lao động sản xuất ra của cải
vật chất trong lĩnh vực công nghiệp với trình độ kỹ thuật và công nghệ ngày càng
hiện đại. Sản phẩm thặng dư do họ làm ra là nguồn gốc chủ yếu cho sự giàu có và
phát triển xã hội. Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân

quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới còn đang
có nhiều biến động, tiêu cực thì vấn đề làm sáng tỏ sứ mệnh lịch sử của giai cấp
công nhân được đặt ra trở nên bưc thiết hơn bao giờ hết, cả trên hai phương diện lý
luận và thực tiễn.
Lịch sử phát triển của thế giới chính là lịch sử phát triển của các hình thái kinh tế xã
hội từ thấp đến cao. Trong xã hội có giai cấp luôn có mâu thuẫn giữa Lực lượng sản
xuất phát triển đến trình độ xã hội hóa cao với Quan hệ sản xuất cũ, lạc hậu; mâu
thuẫn giữa giai cấp thống trị và giai cấp lao động.
Mác và .Ănghen đã khẳng định vai trò của quần chúng nhân dân lao động: là người
sáng tạo chân chính ra lịch sử; là người có vai trò quyết định sáng tạo công cụ sản
xuất, giá trị thặng dư, chính trị xã hội. Khi trong xã hội còn tồn tại giai cấp bóc lột
trong một phương thức sản xuất với điều kiện phương thức sản xuất đó còn giữ vị trí
tiên tiến, do đó phải đảm bảo quy luật lịch sử.
Trong sự chuyển biến của hình thái kinh tế trong xã hội, luôn tồn tại một giai cấp
trung tâm, có nhiệm vụ phải thoả mãn các điều kiện như: là giai cấp đại diện cho một
phương thức sản xuất tiên tiến; là giai cấp có hệ tư tưởng độc lập; giai cấp này phải
tiến hành thuyết phục tập hợp và tổ chức quần chúng làm cách mạng. Và hai nhiệm
vụ quan trọng là: tiến hành xoá bỏ chế độ XH cũ; xây dựng hình thái kinh tế XH mới
tiến bộ hơn.
SMLS của GCCN VN được thể hiện thông qua việc thực hiện 2 giai đoạn CM:
SMLS của GCCN VN được thể hiện thông qua việc thực hiện 2 giai đoạn CM:
-Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
-Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
- Cách mạng XHCN./.
- Cách mạng XHCN./.
Câu 2: Phân tích khái niệm CM XHCN, Thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH:
CNXH bao gồm các tư tưởng chính trị ủng hộ một hệ thống kinh tế-xã hội mà trong
đó các sở hữu và các tài sản là thuộc quyền điều khiển của toàn thể cộng đồng nhằm
mục đích tiến đến sự công bằng trong xã hội và trong kinh tế cũng như tiến đến một
sự hợp tác tốt hơn. Quyền điều khiển có thể là trực tiếp qua một tập thể như hình thức

giai cấp công nhân là người lãnh đạo và cùng với quần chúng nhân dân lao động khác
xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Theo nghĩa hẹp: cách mạng xã hội chủ nghĩa được hiểu là một cuộc cách mạng
chính trị được kết thúc bằng việc giai cấp công nhân cùng với nhân dân lao động
giành được chính quyền, thiết lập nên nhà nước chuyên chính vô sản- nhà nước của
GCCN và quần chúng nhân dân lao động.
Theo nghĩa rộng: cách mạng xã hội chủ nghĩa là quá trình cải biến một cách toàn
diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội từ kinh tế, chính trị, văn hóa, tư
tưởng, v.v. để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng
sản. Như vậy, theo nghĩa rộng, cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa bao gồm cả việc
giành chính quyền về tay giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả quá trình giai
cấp công nhân cùng với quần
chúng nhân dân lao động tiến hành cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới trên tất
cả các lĩnh vực đời sống xã hội, tới khi xây dựng thành công CNXH thì cuộc cách
mạng này mới kết thúc.
Nguyên nhân của cách mạng xã hội chủ nghĩa
Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, nguyên nhân sâu xa của những cuộc cách mạng
xã hội là do sự phát triển của lực lượng sản xuất. Theo quy luật chung của sự phát
triển xã hội, khi lực lượng sản xuất không ngừng phát triển mâu thuẫn với quan hệ
sản xuất đã lỗi thời, kìm hãm nó, tất yếu phải thay thế quan hệ sản xuất lỗi thời bằng
một quan hệ sản xuất mới tiên tiến hơn. C. Mác và ăngghen đã chỉ rõ: "Từ chỗ là
những hình thức phát triển của các lực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành
những xiềng xích của các lực lượng sản xuất. Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc cách
mạng xã hội ".
Dưới chủ nghĩa tư bản, nhất là từ khi máy hơi nước ra đời, lực lượng sản xuất ngày
càng phát triển, ngày càng mang tính chất xã hội hoá cao, mâu thuẫn với quan hệ sản
xuất mang tính chất tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất. C. Mác đã viết: "Sự
tập trung tư liệu sản xuất và xã hội hoá lao động đạt đến cái điểm mà chúng không
còn thích hợp với cái vỏ tư bản chủ nghĩa của chúng nữa nền sản xuất tư bản chủ
nghĩa lại đẻ ra sự phủ định bản thân nó, với tính tất yếu của một quá trình tự nhiên".

Mâu thuẫn này không những không dịu đi mà ngày càng phát triển gay gắt và sâu
sắc. Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và xã hội hóa lao động làm cho
các tiền đề vật chất, kinh tế, xã hội ngày càng chín muồi cho sự phủ định chủ nghĩa tư
bản và sự ra đời của xã hội mới - chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa tư bản không phải là
tương lai của loài người. Theo quy luật tiến hoá của lịch sử, loài người nhất định sẽ
tiến tới chủ nghĩa xã hội.
- phát triển theo con đường chủ nghĩa xã hội không chỉ phù hợp với xu thế của thời
đại, mà còn phù hợp với đặc điểm của cách mạng Việt Nam: cách mạng dân tộc, dân
chủ gắn liền với cách mạng xã hội chủ nghĩa. Cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ trước
hết là giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do, dân chủ đồng thời nó là tiền đề để “
làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc
làm, được ấm no, và sống một đời hạnh phúc”, nhằm thực hiện mục tiêu “dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Vì vậy, cuộc cách mạng xã hội
chủ nghĩa là sự tiếp tục hợp lôgíc cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ, làm cho cách
mạng dân tộc, dân chủ được thực hiện triệt để.
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là tất yếu đối với mọi quốc gia đi lên chủ nghĩa
xã hội, nhưng nó lại có đặc điểm riêng đối với mỗi quốc gia ; do điều kiện xuất phát
riêng của mỗi quốc gia quy định. Trước đây, miền Bắc nước ta bước vào thời kỳ quá
độ với “đặc điểm lớn nhất là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ
nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”. Khi cả nước
thống nhất cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội, đặc điểm trên vẫn còn tồn tại. Phân tích rõ
hơn thực trạng kinh tế, chính trị của đất nước, trong cương lĩnh xây dựng đất nước
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng cộng sản Việt Nam khẳng định:
“nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản, từ một xã hội vốn là thuộc
địa, nửa phong kiến, lực lượng sản xuất rất thấp. Đất nước trải qua hàng chục năm
chiến tranh, hậu quả để lại còn nặng nề. Những tàn dư thực dân phong kiến còn
nhiều. Các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại chế độ xã hội và nền độc
lập của nhân dân ta”
Như vậy, đặc điểm đặc trưng bao trùm nhất của thời kỳ quá độ ở nước ta là bỏ qua
chế độ tư bản chủ nghĩa.

Qúa độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là con đường rút ngắn
để xây dựng đất nước văn minh, hiện đại./.
Câu 2
3
: Phân tích khái niệm thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH:
Nhưng khả năng tiền đề để thực hiện con đường đó như thế nào? Phân tích tình
hình đất nước và thời đại cho thấy mặc dù kinh tế còn lạc hậu, nước ta vẫn có khả
năng và tiền đề để quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa.
Về khả năng khách quan
Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại đang phát triển như vũ bão và toàn
cầu hoá kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ, mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế trở thành tất
yếu; nó mở ra khả năng thuận lợi để khắc phục những hạn chế của nước kém phát
triển như thiếu vốn, công nghệ lạc hậu, khả năng và kinh nghiệm quản lí yếu kém…,
nhờ đó ta có thể thực hiện “con đường rút ngắn”.
Thời đại ngày nay, quá độ lên chủ nghĩa xã hội là xu hướng khách quan của loài
người. Đi trong dòng chảy đó của lịch sử, chúng ta đã, đang và sẽ nhận được sự đồng
tình, ủng hộ ngày càng mạnh mẽ của loài người, của các quốc gia độc lập đang đấu
tranh để lựa chọn con đường phát triển tiến bộ của mình.
Về những tiền đề chủ quan
Nước ta có nguồn lao động dồi dào với truyền thống lao động cần cù và thông
minh, trong đó đội ngũ làm khoa học, công nghệ, công nhân lành nghề có hàng chục
ngàn người là tiền đề rất quan trọng để tiếp thu, sử dụng các thành tựu khoa học và
công nghệ tiên tiến của thế giới. Nước ta có nguồn tài nguyên đa dạng, vị trí địa lí
thuận lợi và những cơ sở vật chất - kĩ thuật đã được xây dựng là những yếu tố hết sức
quan trọng để tăng trưởng kinh tế. Những tiền đề vật chất trên tạo điều kiện thuận lợi
để mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế, thu hút vốn đầu tư, chuyển giao công nghệ, tiếp
thu kinh nghiệm quản lí tiên tiến của các nước phát triển.
Qúa độ lên chủ nghĩa xã hội không những phù hợp với quy luật phát triển lịch sử
mà còn phù hợp với nguyện vọng của tuyệt đại đa số nhân dân Việt Nam đã chiến
đấu, hi sinh không chỉ vì độc lập dân tộc mà còn vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc, xây

lượng sản xuất cơ bản của đất nước, yếu tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế, tạo đội
ngũ lao động có khả năng sáng tạo, tiếp thu, sử dụng, quản lí có hiệu quả các thành
tựu khoa học, công nghệ hiện đại. Vì vậy, phải phát huy nguồn lực trí tuệ và sức
mạnh tinh thần của con người Việt Nam, coi phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học
và công nghệ là nền tảng và động lực của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là “ quốc
sách hàng đầu” trong chiến lược phát triển đất nước.
Xây dựng từng bước quan hệ sản xuất mới theo đinh hướng xã hội chủ nghiã:
Xây dựng chủ nghĩa xã hội là xây dựng một chế độ xã hội mới có nền kinh tế phát
triển dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về những tư liệu sản
xuất chủ yếu. Chế độ công hữu tư liệu sản xuất chủ yếu là đặc trưng của quan hệ sản
xuất xã hội chủ nghiã; nó là sản phẩm của nền kinh tế phát triển với trình độ xã hội
hoá cao, các lực lượng sản xuất hiện đại, nó sẽ chiếm ưu thế tuyệt đối khi chủ nghĩa
xã hội được xây dựng xong về cơ bản. Vì vậy, không thể nôn nóng, vội vàng, duy ý
chí trong việc xây dựng quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa. Nó chỉ được hình
thành trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội lâu dài, qua nhiều bước, nhiều hình
thức từ thấp đến cao.
Như vậy, xây dựng quan hệ sản xuất mới định hướng chủ nghĩa xã hội ở nước ta
phải đảm bảo các yêu cầu sau đây :
- Quan hệ sản xuất mới được xây dựng phải dựa trên kết quả của sự phát triển lực
lượng sản xuất, “ bất cứ một sự cải biến nào về mặt quan hệ sở hữu cũng đều là kết
quả tất yếu của việc tạo nên những lực lượng sản xuất mới”.
- Quan hệ sản xuất biểu hiện trên ba mặt: sở hữu tư liệu sản xuất, tổ chức quản lí và
phân phối sản phẩm, do đó, quan hệ sản xuất mới phải được xây dựng một cách đồng
bộ cả ba mặt đó.
- Tiêu chuẩn căn bản để đánh giá tính đúng đắn của quan hệ sản xuất mới theo định
hướng xã hội chủ nghĩa là ở hiệu quả của nó: thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất,
cải thiện đời sống nhân dân, thực hiện công bằng xã hội.
Trong thời kì quá độ ở nước ta, tất yếu còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu, hình
thành nhiều thành phần kinh tế với những hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa
dạng, đan xen, hỗn hợp. Do đó, xây dựng quan hệ sản xuất định hướng xã hội chủ

VH.
Qua quá trình tìm hiểu về VH, có thể định vị một số dạng tiêu biểu của các khái
niệm về vh và quy các dạng khái niệm về VH như sau:
- Khái niệm VH theo nghĩa rộng: là tất cả sự sáng tạo của con người là toàn bộ những
giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra bằng lao động và hoạt động thực
tiễn trong quá trình lịch sử của mình. Các giá trị ấy nói lên trình độ phát triển của lịch
sử loài người” VH là biểu hiện của trình độ phát triển xã hội trong từng thời kỳ lịch
sử nhất định. Đây là một khái niệm VH theo nghĩa rộng, mang tính triết học, có phần
nghiêng về hoạt động sáng tạo trong lịch sử xã hội loài người, thiên về tính giá trị,
được hình thành trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lê nin.
“VH là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo
và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với
môi trường tự nhiên và xã hội ”.
VH là tất cả những sản phẩm vật chất (văn hoá vật thể) và tinh thần (VH phi vật
thể) do con người sáng tạo ra trong quá khứ, hiện tại. cả hai khái niệm nêu trên đều
gắn với chữ “giá trị”. Có nghĩa rằng, không phải tất cả những sản phẩm con người
sáng tạo ra đều là VH mà chỉ những sản phẩm có chứa đựng giá trị (cái có ích cho
con người) có nghĩa là, những sản phẩm do con người làm ra (sáng tạo ra) nhưng
không mang tính giá trị thì không phải là VH
Ví dụ: Những danh lam thắng cảnh như vịnh Hạ Long, động Phong Nha v.v… tuy
không phải do con người làm ra nhưng con người tìm ra và thưởng thức vẻ đẹp của
nó (thưởng thức là một sáng tạo) cũng là VH, VH bao gồm tất cả những dân tộc, tín
ngưỡng, phong tục tập quán. . .
Trong cuộc sống xã hội loài người như: ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật,
khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, . . . những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày
về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó
tức là VH. VH là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của
nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi
của sự sinh tồn. Trong đó VH vật thể (những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn,
mặc, ở…), VH phi vật thể (ngôn ngữ, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học

chất của VH. Lao động sáng tạo của con người thể hiện ở cả hai lĩnh vực sản xuất cơ
bản của xã hội (sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần).
Vì vậy, khái niệm VH: gồm cả VH vật chất và VH tinh thần. Trong đó, VH vật chất
là năng lực sáng tạo của con người được thể hiện và kết tinh trong sản phẩm vật chất;
VH tinh thần là tổng thể các tư tưởng, lý luận và giá trị được sáng tạo ra trong đời
sống tinh thần và hoạt động tinh thần của con người.
Từ sự phân tích trên, khi tìm hiểu khái niệm VH cần lưu ý:
- VH là sáng tạo của con người, thuộc về con người, những gì không do con người
làm nên không thuộc về khái niệm VH. Do vậy, VH là đặc trưng căn bản phân biệt
con người với động vật, đồng thời cũng là tiêu chí căn bản phân biệt sản phẩm nhân
tạo với sản phẩm tự nhiên.
- VH xuất hiện là do sự thích nghi một cách chủ động và có ý thức của con người
với tự nhiên, là sự thích nghi có sáng tạo, phù hợp với chân thiện, mỹ, nên VH cũng
là kết quả của sự thích nghi ấy.
- VH bao gồm cả những sản phẩm vật chất và tinh thần, chứ không chỉ riêng có tinh
thần mà thôi.
- Với tư cách là hoạt động tinh thần, thuộc về ý thức con người, nên sự phát triển
của VH bao giờ cũng chịu sự quy định của cơ sở kinh tế, chính trị của một xã hội
nhất định.
Chính vì vậy, VH trong xã hội có giai cấp bao giờ cũng mang tính giai cấp.
Nền VH là biểu hiện cho toàn bộ nội dung, tính chất của VH, được hình thành và
phát triển trên cơ sở KT-CT của mỗi thời kỳ lịch sử, trong đó ý thức hệ của giai cấp
thống trị chi phối phương hướng phát triển và quyết định hệ thống các chính sách,
pháp luật để quản lý các hoạt động VH./.
Câu 5: Phân tích khái niệm dân tộc:
Dân tộc là cộng đồng những người cùng chung một lịch sử, nói chung một ngôn
ngữ, sống chung trên một vùng lãnh thổ và có chung một nền văn hoá.
Dân tộc là tên chỉ cộng đồng người hình thành và phát triển trong lịch sử, sau khi xã
hội đã có sự phân chia giai cấp và xuất hiện nhà nước. Trong xã hội nguyên thuỷ đã
có thị tộc, rồi bộ lạc. Những thành viên trong thị tộc gắn bó với nhau bằng quan hệ

tộc đô hộ hơn một nghìn năm, cho nên dân tộc Việt Nam đã có ý thức về bản sắc của
dân tộc mình và nổi dậy chống lại sự đô hộ ấy. Ý thức về quốc gia - dân tộc đã thể
hiện rõ trong hành động lịch sử, Việt Nam vẫn chưa đạt đến trình độ một nước tư bản
chủ nghĩa.
Rõ ràng là, người Việt Nam đã hình thành nên dân tộc của mình ngay từ thời cổ đại,
chứ không phải đợi đến khi lập ra nhà nước phong kiến độc lập bền vững.
Có dân tộc hình thành rồi, sau đó mới có ý thức dân tộc. Con người được sinh ra
trong cộng đồng, từ cộng đồng. Chỉ có thông qua cộng đồng, ở đây là cộng đồng dân
tộc, cá nhân con người mới được xã hội hoá, mới trở thành người. Đứa trẻ sơ sinh chỉ
mới là “con người dự bị”; nó phải tập ăn, tập nói như người, cảm xúc, ứng xử và suy
nghĩ như người. Nắm được ngôn ngữ dân tộc - vừa là phương tiện giao tiếp, vừa là
phương tiện nhận thức - đứa trẻ càng nhanh chóng đi vào những khuôn nếp của xã
hội, những tục lệ, tín ngưỡng, đạo lý, pháp luật sẵn có của một trình độ văn hoá nhất
định.
Đến tuổi thành niên, nó mới được xã hội công nhận là một thành viên đủ tư cách.
Một cách rất tự nhiên, mỗi cá nhân con người đều cảm thấy rất rõ, trong cả thể xác và
tâm hồn mình, là người của một dân tộc nhất định. Đó chính là ý thức dân tộc, tinh
thần dân tộc hay là chủ nghĩa dân tộc.
Như vậy, ý thức dân tộc trước hết là ý thức về cội nguồn dân tộc của mỗi con
người. Sau đó là ý thức về quyền dân tộc: quyền làm chủ lãnh thổ (đất nước), làm chủ
đời sống vật chất và tinh thần của dân tộc mình. Đó là tinh thần độc lập, tự chủ của
mỗi dân tộc. Đó là quyền tự nhiên, mỗi thành viên của dân tộc đều thấy có nghĩa vụ
thiêng liêng phải giữ gìn và bảo vệ.
Chủ nghĩa dân tộc còn là ý thức về phẩm giá dân tộc. Dân tộc tồn tại và phát triển là
thành quả của sức lao động và đấu tranh sáng tạo của nhiều thế hệ. Họ đã tạo ra tất cả
những giá trị vật chất và tinh thần hợp thành nền văn hoá dân tộc, vừa có bản sắc
riêng, vừa là bộ phận hợp thành nền văn hoá chung của nhân loại./.
Câu 5
1
: Phân tích khái niệm tôn giáo:

mình trước sức mạnh của thế giới bên ngoài, do đó con người chưa có nhu cầu sáng
tạo ra tôn giáo để bù đắp cho sự bất lực ấy.
Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo gắn liền với đặc điểm của của quá trình nhận thức.
Đó là một quá trình phức tạp và mâu thuẫn, nó là sự thống nhất một cách biện chứng
giữa nội dung khách quan và hình thức chủ quan. Những hình thức phản ánh thế giới
hiện thực càng đa dạng, phong phú bao nhiêu thì con người càng có khả năng nhận
thức thế giới xung quanh sâu sắc và đầy đủ bấy nhiêu. Nhưng mỗi một hình thức mới
của sự phản ánh không những tạo ra những khả năng mới để nhận thức thế giới sâu
sắc hơn mà còn tạo ra khả năng “xa rời” hiện thực, phản ánh sai lầm nó. Thực chất
nguồn gốc nhận thức của tôn giáo cũng như của mọi ý thức sai lầm chính là sự tuyệt
đối hoá, sự cường điệu mặt chủ thể của nhận thức con người, biến nó thành cái không
còn nội dung khách quan, không còn cơ sở “thế gian”, nghĩa là cái siêu nhiên thần
thánh.
Tôn giáo xuất hiện từ ngay trong thời kỳ nguyên thủy, từ những quan niệm hết sức
dốt nát, tối tăm, nguyên thủy của con người về bản thân mình và thiên nhiên bao
quanh họ, họ thể hiện niềm tin bản năng của con người và lúc bấy giờ họ chưa gắn
với các lợi ích về kinh tế - xã hội. Khi xã hội phân chia giai cấp, xuất hiện các nhà
nước, quốc gia với các vùng lãnh thổ riêng biệt, tôn giáo lúc này không chỉ còn là
một nhu cầu tinh thần của quần chúng mà còn là một phương tiện để giai cấp thống
trị duy trì, sự thống trị áp bức giai cấp và bóc lột và còn thực hiện sự bành trướng,
xâm lược của nhà thống trị, vì vậy tôn giáo gắn liền với chính trị và bị dân tộc hóa.
Từ đó đã dẫn đến sự xuất hiện các tôn giáo dân tộc và tôn giáo thế giới./.
Câu 5
2
: Phân tích khái niệm gia đình:
Gia đình là một hình thức cộng đồng xã hội đặc biệt của con người, là một thiết chế
văn hóa xh đặc thù, được hình thành và tồn tại, phát triển dựa trên các mối quan hệ
như quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và giáo dục giữa
các thành viên
Đối với sự tồn tại và phát triển loài người:gia đình có vai trò, vị trí hết sức quan trọng

Muốn vậy, mỗi thành viên trong gia đình cần phải có việc làm để có nguồn thu nhập
ổn định nhưng ngoài ra cần phải biết làm thêm kinh tế phụ gia đình như sản xuất kinh
doanh, làm thêm giờ để tăng thêm thu nhập chính đáng, gắn liền với việc phát triển
kinh tế là việc tổ chức tốt đời sống gia đình, xh phải có trách nhiệm chăm lo cho mọi
gia đình bằng cách phát triển kinh tế, văn hóa ,còn việc tổ chức đời sống gia đình cụ
thể như thế nào, lại là chức năng của mỗi gia đình. Muốn vậy mỗi gia đình cần phải
giải quyết một cách hài hòa giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần.
- chức năng giáo dục của gia đình: đây là chức năng xh hết sức quan trọng của gia
đình nhằm tạo ra người con hiếu thảo, người công dân có ích cho gia đình bởi gia
đình là trường học đầu tiên, cha mẹ là những người thầy cô giáo đầu tiên trong cuộc
đời của con gnười. Do đó nội dung của giáo dục gia đình cũng phải chú ý giáo dục
toàn diện bao gồm cả tri thức, kinh nghiệm, đạo đức, lối sống , ý thức cộng đồng,
cách cư xử,v.v Để đạt được nội dung đó thì phương pháp giáo dục của gia đình cũng
phải đa dạng, phong phú nhưng trong đó, biện pháp nêu gương vẫn là biện pháp có
tác dụng giáo dục lớn nhất đó lá tấm gương ông bà, cha mẹ đối với con cháu hoặc
tấm gương của vợ đối với chông, chồng đối với vợ hoạc tấm gương anh đối với em
Mặt khác, việc thực hiện chức năng giáo dục này cần phải kết hợp một cách đồng bộ
giữa giáo dục gia đình , giáo dục nhà trường và giáo dục xh nhưng trong đó giáo dục
gia đình vẫn là cái gốc.
- Chức năng thỏa mãn tâm sinh lý ,tình cảm của con người: đây là chức năng có vị trí
đặc biệt quan trọng, có tính văn hóa sinh hoạt của gia đình, đảm bảo cho gia đình
được hạnh phúc vì rằng trong cuộc đời của con ngừoi có nhiều vấn đề phức tạp liên
quan đến giới tính, đến tâm sinh lý lứa tuổi , đến những thuận lợi, khó khăn đều
được bộc lộ và giải quyết trong phạm vi gia đình./.
Câu 6: Phân tích khái niệm nhân tố con người, phát huy nhân tố con người:
Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật với mặt xã hội.
Triết học Mác đã kế thừa quan niệm về con người trong lịch sử triết học, đồng thời
khẳng định con người hiện thực là sự thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã
hội.
Tiền đề vật chất đầu tiên quy sự tồn tại của con người là sản phẩm của thế giới tự

gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất của mình”. Thông qua hoạt động sản
xuất vật chất, con người đã làm thay đổi, cải biến toàn bộ giới tự nhiên : “Con vật chỉ
tái sản xuất ra bản thân nó, còn con người thì tái sản suất ra toàn bộ giới tự nhiên”.
Tính xã hội của con người biểu hiện trong hoạt động sản xuất vật chất. Thông qua
hoạt động lao động sản xuất, con người sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần, phục
vụ đời sống của mình; hình thành và phát triển ngôn ngữ tư duy; xác lập quan hệ xã
hội. Bởi vậy, lao động là yếu tố quyết định hình thành bản chất xã hội của con người,
đồng thời hình thành nhân cách cá nhân trong cộng đồng xã hội. Là sản phẩm của tự
nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và phát triển của con người luôn bị quy định
bởi ba hệ thống quy luật khác nhau nhưng thống nhất với nhau. Hệ thống các quy luật
tự nhiên như quy luật về sự phù hợp cơ thể với môi trường, quy luật về sự trao đổi
chất, về di truyền, biến dị, tiến hoá quy định phương diện sinh học của con người.
Hệ thống các quy luật tâm lý - ý thức hình thành và vận động trên nền tảng sinh học
của con người như hình thành tình cảm, khát vọng, niềm tin, ý chí. Hệ thống các quy
luật xã hội quy định quan hệ xã hội giữa người với người.
Ba hệ thống quy luật trên cùng tác động, tạo nên thể thống nhất hoàn chỉnh trong
đời sống con người bao gồm cả mặt sinh học và mặt xã hội. Mối quan hệ sinh học và
xã hội là cơ sở để hình thành hệ thống các nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội trong
đời sống con người như nhu cầu ăn, mặc, ở; nhu cầu tái sản suất xã hội; nhu cầu tình
cảm; nhu cầu thẩm mỹ và hưởng thụ các giá trị tinh thần.
Với phương pháp luận duy vật biện chứng, chúng ta thấy rằng quan hệ giữa mặt
Với phương pháp luận duy vật biện chứng, chúng ta thấy rằng quan hệ giữa mặtsinh học và mặt xã hội, cũng như nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội trong mỗi con
sinh học và mặt xã hội, cũng như nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội trong mỗi conngười là thống nhất. Mặt sinh học là cơ sở tất yếu tự nhiên của con người, còn mặt xã
người là thống nhất. Mặt sinh học là cơ sở tất yếu tự nhiên của con người, còn mặt xã

phát triển cả thể lực và tư duy trí tuệ. Chỉ trong toàn bộ các mối quan hệ xã hội đó
(như quan hệ giai cấp, dân tộc, thời đại; quan hệ chính trị, kinh tế; quan hệ cá nhân,
gia đình, xã hội ) con người mới bộc lộ toàn bộ bản chất xã hội của mình. Bản chất
xã hội không có nghĩa là phủ nhận mặt tự nhiên trong đời sống con người; trái lại,
điều đó muốn nhấn mạnh sự phân biệt giữa con người và thế giới động vật trước hết
là ở bản chất xã hội và đấy cũng là để khắc phục sự thiếu sót của các nhà triết học
trước Mác không thấy được bản chất xã hội của con người. Mặt khác, cái bản chất
với ý nghĩa là cái phổ biến, cái mang tính quy luật chứ không thể là cái duy nhất. Do
đó cần phải thấy được các biểu hiện riêng biệt, phong phú và đa dạng của mỗi cá
nhân về cả phong cách, nhu cầu và lợi ích trong cộng đồng xã hội.
Vì vậy, để phát huy tốt bản chất con người theo hướng tích cực, cần phải làm cho
hoàn cảnh ngày càng mang tính người nhiều hơn. Hoàn cảnh đó chính là toàn bộ môi
trường tự nhiên và xã hội tác động đến con người theo khuynh hướng phát triển nhằm
đạt tới các giá trị có tính mục đích, tự giác, có ý nghĩa định hướng giáo dục. Thông
qua đó, con người tiếp nhận hoàn cảnh một cách tích cực và tác động trở lại hoàn
cảnh trên nhiều phương diện khác nhau: hoạt động thực tiễn, quan hệ ứng xử, hành vi
con người, sự phát triển của phẩm chất trí tuệ và năng lực tư duy, các quy luật nhận
thức hướng con người tới hoạt động vật chất. Đó là biện chứng của mối quan hệ giữa
con người và hoàn cảnh trong bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử xã hội loài người./.
Câu 7: Phân tích Cương lĩnh dân tộc của CN Mac Lênin
Cương lĩnh dân tộc của CN MLN là 1 bộ phận không thể tách rời trong cương lĩnh
CM của giai cấp công nhân.Bao gồm 3 nội dung cơ bản
- Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng:
Đây là quyền thiêng liêng của các dân tộc trong mối quan hệ giữa các dân tộc. Các
dân tộc hoàn toàn bình đẳng có nghĩa là: các dân tộc lớn hay nhỏ (kể cả bộ tộc và
chủng tộc) không phân biệt trình độ phát triển cao hay thấp đều có nghĩa vụ và quyền
lợi ngang nhau; không một dân tộc nào được giữ đặc quyền đặc lợi và có quyền đi áp
bức bóc lột dân tộc khác, thể hiện trong luật pháp của mỗi nước và luật pháp quốc tế.

Trong một quốc gia có nhiều dân tộc, quyền bình đẳng giữa các dân tộc phải được

bảo đảm cho phong trào dân tộc có đủ sức mạnh để giành thắng lợi.
Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc quy định mục tiêu hướng tới; quy định
đường lối, phương pháp xem xét cách giải quyết quyền dân tộc tự quyết, quyền bình
đẳng dân tộc. Đồng thời, nó là yếu tố sức mạnh đảm bảo cho giai cấp công nhân và
các dân tộc bị áp bức chiến thắng kẻ thù của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng
định: "Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con
đường cách mạng vô sản".
Đoàn kết, liên hiệp công nhân các dân tộc là cơ sở vững chắc để đoàn kết các tầng
lớp nhân dân lao động rộng rãi thuộc các dân tộc trong cuộc đấu tranh chống chủ
nghĩa đế quốc vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội. Vì vậy, nội dung liên hiệp công
nhân các dân tộc đóng vai trò liên kết cả ba nội dung của cương lĩnh thành một chỉnh
thể. Đoàn kết giai cấp công nhân các dân tộc là sự thể hiện thực tế tinh thần yêu nước
mà thời đại ngày nay đã trở thành sức mạnh cực kỳ to lớn. Nội dung đó phù hợp với
tinh thần quốc tế chân chính đang lên tiếng kêu gọi các dân tộc, quốc gia xích lại gần
nhau.
Cương lĩnh dân tộc của đảng cộng sản là một bộ phận trong cương lĩnh cách mạng
của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng
dân tộc, giải phóng giai cấp; là cơ sở lý luận của đường lối, chính sách dân tộc của
các đảng cộng sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa./.
Câu 7
1
: Sự vận dụng CN MLN của Đảng vào c hính sách DT
Trong điều kiện nước ta biện pháp cơ bản, quyết định lâu dài trong xây dựng
CNXH là đem của dân, tài dân, sức dân làm lợi cho dân dưới sự lãnh đạo của đảng
Việt Nam.
Vận dụng tư tưởng HCM về XHCN và con đường lên XHCN ở VN trong công
cuộc đổi mới hiện nay
- Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc:
Phát huy quyền làm chủ của nhân dân,khơi dậy mạnh mẽ tất cả các nguồn lực,trước
hết là nội lực để đẩy mạnh công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển

Đại hội X khẳng định: Đảng ta Kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí
Minh Vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí
Minh trong hoạt động của Đảng, với tư cách là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho
hành động cách mạng của Đảng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại
hóa:
Kiên trì đường lối đổi mới:
Đổi mới toàn diện, có nguyên tắc và sáng tạo; trong quá trình đổi mới, phải luôn
luôn giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-
nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội,
không đa nguyên, đa đảng.Đây chính là bản lĩnh chính trị của Đảng trung thành với
quan điểm của Hồ Chí Minh về Đảng lãnh đạo cách mạng thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội.
- Phát huy quyền làm chủ của nhân dân,khơi dậy mạnh mẽ tất cả các nguồn
lực,trước hết là nội lực để đẩy mạnh công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước gắn với
phát triển kinh tế tri thức.
+ Trước hết,HCM khẳng định: “nước ta là nước dân chủ, đơn vị cao nhất là dân, vì
dân chủ”.nhân dân theo quan điểm của HCM là mọi người Việt Nam không phân biệt
già trẻ, gái trai, giàu nghèo, trong đó công nhân và nông dân chiếm đại đa số. Nhân
dân có quyền làm chủ về chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh, quốc phòng, làm
chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội, làm chủ bản thân. HCM nêu rõ: “bao nhiêu quyền
hạn đều của dân, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Nhân dân có quyền làm
chủ thì phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân và công việc đổi mới, xây dựng
là trách nhiệm của dân.
+ Xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân là 1 điều kiện rất quan trọng để quyền
làm chủ của dân được thực hiện 1 cách hiệu quả. Chính quyền là do dân cử ra. Nhiệm
vụ chính quyền dân chủ là phục vụ nhân dân, là phát triển quyền dân chủ và sinh hoạt
chính trị của toàn dân. Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải
quyết. Về trách nhiệm của dân đối với chính quyền. HCM nêu rõ: “nhân dân có
quyền đôn đốc và phê bình chính phủ”
Trong thời đại ngày nay, thời đại mà khoa học đã thực sự trở thành lực lượng sản

quả hợp tác quốc tế, phải có cơ chế chính sách để thu hút đầu tư, kinh nghiệm quản lý
và công nghệ hiện đại, thực hiện kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
theo tư tưởng HCM.
- Chăm lo xây dựng đảng vững mạnh, làm trong sạch bộ máy nhà nước, đẩy mạnh
đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng lãng phí, thực hiện cần, kiệm,liêm, chính, trí
công,vô tư để xây dựng CNXH
Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, cơ bản kinh tế - xã hội đất nước trong những
năm qua được ổn định, giữ vững và phát triển. Tuy nhiên do tác động tiêu cực trong
quá trình mở cửa, hội nhập đổi mới đất nước, nên thực tiễn xã hội nước ta vẫn đang
tồn tại một số hạn chế khuyết điểm.
Nếu soi trong góc độ đạo đức xã hội thì chúng ta có một bộ phận cán bộ, đảng viên
suy thoái về tư tưởng, đạo đức - Đây là cơ hội cho kẻ thù khoét sâu để chống phá
hòng làm giảm uy tín của Đảng, Nhà nước ta với nhân dân. . Bởi vậy, việc nâng cao
giáo dục đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư cho đội ngũ cán
bộ, đảng viên trong tình hình hiện nay là vấn đề quan trọng và cấp thiết.
Tóm lại, tư tưởng HCM về chủ nghĩa xã hội và con đường quá độ lên CNXH ở VN
bao quát những vấn đề cốt lõi cơ bản nhất, trên cơ sở vận dụng sáng tạo và phát triển
chủ nghĩa Mac_Lenin. Tư tưởng đó trở thành tài sản vô giá, cơ sở lý luận và kim chỉ
nam cho việc kiên trì giữ vững định hướng XHCN của Đảng ta, đồng thời xác định
hình thức, biện pháp và bước đi lên CNXH phù hợp với đặc điểm dân tộc và xu thế
vận động của thời đại ngày nay./.
Câu 7
2
: Giải pháp nâng cao hiệu quả sính sách DT liên hệ địa phương:
Kết quả thực hiện các chính sách, dự án giảm nghèo ở địa phương:
Kết quả giảm nghèo cả nước đã giảm từ trên 20% năm 2005 xuống ước là 9,45%
vào 2010 đã chứng tỏ sự nỗ lực của các cấp, các ngành, các địa phương và sự tham
gia hưởng ứng của chính bản thân hộ nghèo.
Chương trình giảm nghèo đã được triển khai đồng bộ ở các địa phương với nhiều
giải pháp hiệu quả, nhất là về các cơ chế, chính sách liên quan trực tiếp đến đầu tư cơ

phát huy hiệu quả, từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, nhất là
đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc. Để giúp những địa phương mà đất nông
nghiệp đang bị thu hẹp nhường chỗ cho các khu công nghiệp và giúp người nghèo
nâng cao tay nghề, có việc làm và tăng thu nhập, những dự án dạy nghề và tạo việc
làm cho người nghèo đã được triển khai. Với các hình thức đào tạo nghề ngắn hạn
phù hợp thông qua các cơ sở đào tạo nghề, các doanh nghiệp để học nghề trực tiếp,
truyền nghề hoặc học nghề tại chỗ mà không phải đóng học phí và được hỗ trợ các
khoản khác đã giúp người nghèo có việc làm, tăng thu nhập, xoá nghèo bền vững ổn
định.
Chương trình giảm nghèo cũng có những chính sách, dự án ưu tiên tập trung hỗ trợ
các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc thù khó khăn. Như dự án mô hình giảm nghèo qua
thời gian triển khai đã phát huy hiệu quả và được tiếp tục nhân rộng, bao gồm các mô
hình của địa phương. Các mô hình nhất là mô hình gắn an ninh quốc phòng với xóa
đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc, địa phương thực hiện đã thực sự phát huy hiệu
quả, tác động trực tiếp đến đời sống sản xuất và sinh hoạt cho bà con các dân tộc nơi
đây, góp phần tạo bộ mặt mới ở các khu dân cư, các phum sóc dân tộc.
Không chỉ chăm lo đến phát triển sản xuất, chương trình giảm nghèo còn tập trung
vào các chính sách an sinh xã hội cho người nghèo, đã có 327 hộ nghèo được cất nhà
tình thương, (Cấp đất, vốn chuyễn đổi ngành nghề . . .) và 562 lượt người nghèo,
người dân tộc được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí, trong đó trên 90% người nghèo
được cấp thẻ bảo hiểm y tế, để khám chữa bệnh. Chính sách miễn giảm học phí cho
người nghèo được đặc biệt quan tâm, có 827 lượt học sinh nghèo được miễn học phí
và 286 lượt học sinh nghèo dân tộc được hỗ trợ sách giáo khoa, giúp các em có điều
kiện học tập tốt nhất. Các chính sách, dự án trên đã được các địa phương thực hiện
mang lại hiệu quả rõ rệt cho người nghèo, đặc biệt là người dân tộc nghèo./.
Câu 7: Phân tích Cương lĩnh dân tộc của CN Mac Lênin
- Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng ( quyền bình đẳng )


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status