Mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và tỷ suất sinh lợi của các công ty cổ phần Việt Nam - Pdf 13

1

TÓM TẮT ĐỀ TÀI
o Lý do chọn đề tài
Quản trị vốn luân chuyển luôn là vấn đề đƣợc các giám đốc tài chính và các nhà khoa học
quan tâm vì có tác động lớn đến thành quả hoạt động của công ty, thể hiện ở tỷ suất sinh
lợi. Hiểu đƣợc tầm quan trọng của vấn đề này, mục tiêu của bài nghiên cứu là xem xét tác
động của các thành phần vốn luân chuyển lên tỷ suất sinh lợi của doanh nghiệp.
o Mục tiêu nghiên cứu
 Liệu có tồn tại mối quan hệ giữa các thành phần của vốn luân chuyển và tỷ suất
sinh lợi?
 Mối tƣơng quan này là âm hay dƣơng, có ý nghĩa hay không?
 Có thể dự đoán đƣợc tỷ suất sinh lợi dựa vào cấu trúc vốn luân chuyển trong
doanh nghiệp thông qua mô hình hồi quy?
o Phƣơng pháp nghiên cứu
Dữ liệu nghiên cứu của đề tài bao gồm 74 công ty đƣợc niêm yết trên sàn chứng khoán
Hồ Chí Minh (HOSE), Việt Nam. Những công ty này không bao gồm các công ty tài
chính và các công ty tiện ích cộng đồng theo phân loại ngành của VCSC (công ty cổ phần
chứng khoán Bản Việt). Những công ty đƣợc đƣa vào nghiên cứu phải có đầy đủ bộ dữ
liệu trong giai đoạn 2007-2012, liên tục hoạt động trong giai đoạn này và tiếp tục hoạt
động trong năm 2013.
Đề tài xem xét mối quan hệ giữa các biến đại diện cho các thành phần của vốn luân
chuyển và các biến đại diện cho tỷ suất sinh lợi là mối quan hệ tuyến tính.
Phƣơng pháp nghiên cứu đƣợc sử dụng là phân tích thống kê mô tả, tƣơng quan Pearson,
và hồi quy các mô hình random effect với dữ liệu bảng (panel data), với RCP,ICP, PDP,
CCC, CR, DR, LNS là biến độc lập và ROA, GOP là biến phụ thuộc.
2

Các biến đƣợc đƣa vào mô hình bao gồm: tỷ suất sinh lợi gộp, tỷ suất sinh lợi trên tổng
tài sản, khoản phải thu bình quân ngày, vòng quay hàng tồn kho theo ngày, chu kì khoản
phải trả, vòng quay tiền mặt, tỷ số nợ, tỷ số thanh toán hiện hành, quy mô công ty.

) + 
3
(

) + 
4
(

) +  (2)
 = 
0
+ 
1
(

) + 
2
(

) + 
3
(

) + 
4
(

) +  (3)
 = 
0



+ 
3




+ 
4




+ 
5
(

) +

6
(

) +  (5)
 = 
0
+ 
1




+ 
2




+ 
3




+ 
4




+  (7)
 = 
0
+ 
1





+ 




+ 
3




+ 
4




+  (9)
 = 
0
+ 
1


RCP


+ 
2




suất sinh lợi (đại diện bởi GOP và ROA) là tƣơng quan âm có ý nghĩa thống kê, khá phù
hợp với những nghiên cứu trƣớc. Điều này thể hiện rằng, doanh nghiệp có thể gia tăng tỷ
suất sinh lợi bằng cách giảm khoản phải thu bình quân ngày.
Ngoài ra, đề tài cũng chứng minh đƣợc mối quan hệ giữa tỷ số nợ, tỷ số thanh toán hiện
hành với tỷ suất sinh lợi là tƣơng quan âm có ý nghĩa thống kê. Điều này cho thấy rằng
3

đảm bảo tính thanh khoản và gia tăng tỷ suất sinh lợi luôn là hai mục tiêu đối nghịch
nhau. Do đó, doanh nghiệp phải có chiến lƣợc tài chính đúng đắn để có sự hòa hợp giữa
hai mục tiêu này, hƣớng tới lợi ích trong ngắn hạn và dài hạn, sao cho giá trị doanh
nghiệp là lớn nhất.
Trong khi đó, quy mô công ty lại có tác động cùng chiều lên tỷ suất sinh lợi. Quy mô
công ty lớn hơn, tỷ suất sinh lợi có thể cao hơn. Với các thành phần khác của vốn luân
chuyển nhƣ vòng quay hàng tồn kho theo ngày, chu kì khoản phải trả thì nghiên cứu này
chƣa tìm ra đƣợc chứng cứ thuyết phục về tác động của chúng lên tỷ suất sinh lợi với
những tƣơng quan trái chiều và không có ý nghĩa thống kê khi chạy hồi quy.
Ở phần mở rộng của đề tài, bài nghiên cứu đã chứng minh đƣợc mối quan hệ giữa vòng
quay tiền mặt và tỷ suất sinh lợi là phi tuyến tính, đƣợc thể hiện bởi một đồ thị hàm số
bậc hai hình chữ U. Tùy theo từng giá trị của vòng quay tiền mặt mà mối tƣơng quan
giữa vòng quay tiền mặt và tỷ suất sinh lợi là âm hay dƣơng.
o Đóng góp của đề tài
Những kết quả nghiên cứu của đề tài này rất hữu ích ở thị trƣờng Việt Nam và là cơ sở
tham chiếu cho các nhà quản trị để đƣa ra các quyết định tài chính hƣớng tới mục tiêu gia
tăng giá trị doanh nghiệp. Ngoài ra, các nhà đầu tƣ có thể dự đoán tỷ suất sinh lợi của
công ty và đƣa ra những chiến lƣợc đầu tƣ hợp lí trong các danh mục đầu tƣ nhằm gia
tăng tỷ suất sinh lợi mong đợi.
o Hƣớng phát triển của đề tài
Trong các nghiên cứu tiếp theo với điều kiện về thời gian và dữ liệu tốt hơn, hƣớng
nghiên cứu sẽ là phân chia thành hai giai đoạn trƣớc và sau khủng hoảng để thấy đƣợc
ảnh hƣởng của khủng hoảng đến chính sách và tình hình kinh doanh thực tế của các

lợi:………… 39
6. KẾT LUẬN CỦA BÀI NGHIÊN CỨU: 41
6.1. Kết luận: 41
6.2. Những hạn chế của đề tài: 42
5

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
PHỤ LỤC 4 1
1. GIỚI THIỆU
Vốn luân chuyển đóng vai trò quan trọng trong cấu trúc vốn của công ty, và đƣợc định
nghĩa là chênh lệch giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn, thể hiện mức vốn cần thiết để
tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Các yếu tố tác động lên
vốn luân chuyển là các khoản mục trong tài sản ngắn hạn nhƣ: hàng tồn kho, tiền mặt,
tiền gửi ngân hàng, khoản phải thu…và các khoản mục trong nợ ngắn hạn nhƣ: nợ ngân
hàng, phải trả ngƣời bán, thuế…
Vai trò của vốn luân chuyển là đảm bảo các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp đƣợc diễn ra liên tục, do đó có tác động rất lớn đến việc ra các quyết định tài
chính và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đƣợc thể hiện bằng tỷ suất sinh lợi. Tỷ
suất sinh lợi đƣợc xem xét có thể là tỷ suất sinh lợi trên tài sản hoặc tỷ suất sinh lợi gộp.
Các yếu tố tác động tới tỷ suất sinh lợi là doanh thu, chi phí, thuế, tổng tài sản…Tỷ suất
sinh lợi đƣợc đánh giá trong một năm nhƣng lại là thành quả kinh doanh trong dài hạn
của công ty.
Ở Việt Nam, tỷ trọng vốn luân chuyển nằm trong khoảng 0.6% đến 67.6% tổng tài sản, vì
vậy các thành phần của vốn luân chuyển có tác động rất lớn đến tỷ suất sinh lợi, đặc biệt

cứu về vấn đề này, tuy nhiên kết quả nghiên cứu ở mỗi quốc gia là khác nhau. Do đó, đề
tài này đƣợc thực hiện hƣớng tới mục tiêu xem xét mối quan hệ giữa quản trị vốn luân
chuyển và tỷ suất sinh lợi ở Việt Nam với các câu hỏi nghiên cứu sau:
 Liệu có tồn tại mối quan hệ giữa các thành phần của vốn luân chuyển và tỷ suất
sinh lợi?
3

 Mối tƣơng quan này là âm hay dƣơng, có ý nghĩa hay không?
 Có thể dự đoán đƣợc tỷ suất sinh lợi dựa vào cấu trúc vốn luân chuyển trong
doanh nghiệp thông qua mô hình hồi quy?
Với định hƣớng đó, đề tài xây dựng bộ dữ liệu gồm 74 công ty đƣợc niêm yết trên sàn
chứng khoán Hồ Chí Minh (HOSE) trong khoảng thời gian 2007-2012, dữ liệu tính toán
lấy từ báo cáo tài chính hàng năm. Kết quả nghiên cứu đã đƣa ra những bằng chứng thể
hiện rằng các doanh nghiệp Việt Nam có thể gia tăng tỷ suất sinh lợi bằng cách giảm kỳ
thu tiền bình quân, tỷ số nợ hay tỷ số thanh toán hiện hành.
Từ kết quả nghiên cứu của đề tài, các nhà đầu tƣ có thể dự đoán tỷ suất sinh lợi của công
ty và đƣa ra những chiến lƣợc đầu tƣ hợp lí trong các danh mục đầu tƣ, các nhà quản trị
trong doanh nghiệp có thể thay đổi cấu trúc vốn luân chuyển hƣớng tới gia tăng lợi nhuận
và giá trị doanh nghiệp.
Trong phần này, đề tài đã đƣa ra lý do vì sao cần nghiên cứu vấn đề này, mục tiêu của bài
nghiên cứu, từ đó đƣa ra các câu hỏi nghiên cứu để trả lời và giá trị của bài nghiên cứu
trong thực tiễn. Các phần tiếp theo đƣợc sắp xếp theo bố cục nhƣ sau:
Phần kế tiếp là tổng quan về các nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới trƣớc đề
tài này, ở nhiều quốc gia với những khoảng thời gian, loại hình công ty khác nhau.
Phần thứ 3 là phƣơng pháp và dữ liệu nghiên cứu, phần này giải thích mô hình hồi quy
đƣợc sử dụng và các biến trong mô hình, lý do chọn các biến này đồng thời sẽ giải thích
về thời kì lấy mẫu nghiên cứu và nguồn dữ liệu. Sau đó, sẽ đƣa ra phƣơng pháp chạy hồi
quy random effect trong dữ liệu bảng (panel data) và các kiểm định cần thực hiện.
Phần tiếp theo là kết quả thực nghiệm, trong phần này sẽ xem xét kết quả của quá trình
nghiên cứu, bao gồm các phân tích về thống kê mô tả, phân tích tƣơng quan và hồi quy

chu kì khoản phải trả. Kết quả này hàm ý rằng: nhà quản trị có thể gia tăng lợi nhuận
bằng cách giảm vòng quay tiền mặt. Deloof giải thích mối tƣơng quan âm giữa tỷ suất
sinh lợi và khoản phải trả nhƣ sau: tỷ suất sinh lợi thấp thì lợi nhuận thấp nên phải chờ
lâu hơn mới có tiền trả những hóa đơn.
Tiếp theo là nghiên cứu của Lazaridis và Tryfonidis (2006) về mối quan hệ giữa quản trị
vốn luân chuyển và tỷ suất sinh lợi ở Ai Cập. Hai tác giả sử dụng mẫu nghiên cứu gồm
131 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Athens trong giai đoạn 2001-2004 và tìm thấy
6

mối tƣơng quan âm giữa tỷ suất sinh lợi gộp và vốn luân chuyển đƣợc đo lƣờng bằng
vòng quay tiền mặt, khoản phải trả.
Trong năm đó, Padachi (2006) sử dụng lợi nhuận ròng trên tổng tài sản nhƣ một thƣớc đo
của tỷ suất sinh lợi cho một mẫu gồm 58 công ty sản xuất nhỏ ở Mauritius trong giai
đoạn 1998-2003và cũng chỉ ra rằng khoản đầu tƣ lớn ở hàng tồn kho và khoản phải thu
làm cho lợi nhuận thấp hơn.
Trong thời gian này, cũng có một số nghiên cứu khác nhƣ Raheman và Nasr (2007) đã
thực hiện một nghiên cứu ở Pakistan và cung cấp nhiều bằng chứng về mối tƣơng quan
âm giữa tỷ suất sinh lợi và vòng quay tiền mặt. Họ sử dụng phân tích hồi quy dựa trên dữ
liệu mẫu gồm 94 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Karachi trong giai đoạn 6 năm
từ 1999-2004. Ngoài ra, hai nhà khoa học đã tìm ra bằng chứng cho thấy tỷ suất sinh lợi
thì tƣơng quan âm với tính thanh khoản và tƣơng quan dƣơng với quy mô công ty.
Cùng kết luận nhƣ trên, Garcia-Teruel và Martinez-Solano (2007) đã nghiên cứu tác động
của vốn luân chuyển lên tỷ suất sinh lợi của những công ty vừa và nhỏ ở Tây Ban Nha.
Họ sử dụng phƣơng pháp hồi quy dữ liệu bảng bao gồm 8872 công ty trong giai đoạn
1996-2002. Kết quả thể hiện rằng nhà quản trị có thể gia tăng giá trị cổ phần bằng cách
làm giảm kỳ thu tiền bình quân, vòng quay hàng tồn kho theo ngày và vòng quay tiền
mặt.
Nghiên cứu của Falope và Ajilore (2009) cũng có kết quả khá phù hợp với kết quả của
những nghiên cứu đã đề cập trên. Mục tiêu cùa hai tác giả này là hƣớng tới xác định tác
động của vốn luân chuyển lên tỷ suất sinh lợi thông qua sử dụng dữ liệu bảng gồm 50

2002 đến 2008. Hai nhà khoa học đã phân tích dữ liệu bằng hồi quy đa nhân tố OLS và
tìm thấy mối tƣơng quan dƣơng giữa vốn luân chuyển và tỷ suất sinh lợi. Điều này có
nghĩa rằng khi các công ty Ấn Độ gia tăng vòng quay tiền mặt, tỷ suất sinh lợi có thể cao
hơn. Các tác giả suy luận rằng Ấn Độ là thị trƣờng đang phát triển, các công ty dƣờng
8

nhƣ sinh lợi nhiều hơn khi mở rộng chính sách bán chịu, do đó có nhiều khách hàng hơn,
nhiều doanh thu hơn, và dẫn tới nhiều lợi nhuận hơn.
Gần đây nhất, nghiên cứu của Mathias Bernard Baveld (2012) chỉ ra mối tƣơng quan
dƣơng giữa khoản phải thu và tỷ suất sinh lợi gộp. Vì vậy, các công ty lớn có thể gia tăng
lợi ích lâu dài thông qua gia tăng khoản phải thu, mở rộng chính sách bán chịu. Điều này
dựa trên thực tế rằng: chính sách bán chịu sẽ mở rộng số lƣợng khách hàng.
Đặc biệt, một nghiên cứu rất đáng đƣợc chú ý của Sonia B. và cộng sự (2011) đã chứng
minh rằng: Mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lợi và vốn luân chuyển là không tuyến tính, các
doanh nghiệp có thể có mức vốn luân chuyển tối ƣu, cân bằng lợi nhuận và chi phí, đồng
thời tỷ suất sinh lợi cũng là lớn nhất.
BẢNG 1: Tóm tắt các kết quả nghiên cứu trƣớc
Nhân tố
Tƣơng quan âm
với tỷ suất sinh lợi
Tƣơng quan dƣơng
với tỷ suất sinh lợi
Kỳ thu tiền bình quân
Deloof (2003)
Lazaridis và Tryfonidis
(2006)
Garcia-Teruel và Martinez-
Solano (2007)
Falope và Ajilore (2009)
Raheman và Nasr (2007)

Raheman và Nasr (2007)
Mathuva (2010)
10

3. PHƢƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU:
Dữ liệu nghiên cứu của đề tài bao gồm 74 công ty đƣợc niêm yết trên sàn chứng khoán
Hồ Chí Minh (HOSE), Việt Nam. Những công ty này không bao gồm các công ty tài
chính và các công ty tiện ích cộng đồng theo phân loại ngành của VCSC (công ty cổ phần
chứng khoán Bản Việt). Theo sự phân loại này, các công ty tài chính bao gồm tất cả các
công ty hoạt động trong lĩnh vực cung cấp các dịch vụ, sản phẩm tài chính và bất động
sản nhƣ ngân hàng, công ty bảo hiểm cung cấp các dịch vụ bảo hiểm nhân thọ. Ngành
tiện ích cộng đồng bao gồm các đơn vị sản xuất và cung ứng: điện sinh hoạt và công
nghiệp nƣớc, xăng dầu và khí đốt gas. Những công ty đƣợc đƣa vào nghiên cứu phải có
đầy đủ bộ dữ liệu trong giai đoạn 2007-2012, liên tục hoạt động trong giai đoạn này và
tiếp tục hoạt động trong năm 2013.
Kế thừa từ bài nghiên cứu của Iluta Arbidane và Svetlana Ignatjeva (2012), đề tài xem
xét mối quan hệ giữa các biến đại diện cho các thành phần của vốn luân chuyển và các
biến đại diện cho tỷ suất sinh lợi là mối quan hệ tuyến tính.
Các biến đƣợc đƣa vào mô hình bao gồm: tỷ suất sinh lợi gộp, tỷ suất sinh lợi trên tổng
tài sản, kỳ thu tiền bình quân, vòng quay hàng tồn kho theo ngày, chu kì khoản phải trả,
vòng quay tiền mặt, tỷ số nợ, tỷ số thanh toán hiện hành, quy mô công ty.
 Mô hình hồi quy đƣợc sử dụng :
 = 
0
+ 
1
(

) + 
2

 = 
0
+ 
1
(

) + 
2
(

) + 
3
(

) + 
4
(

) +  (3)
 = 
0
+ 
1
(

) + 
2
(

) + 



+ 
4




+ 
5
(

) +

6
(

) +  (5)
 = 
0
+ 
1





+ 
2



+ 
3




+ 
4




+  (7)
 = 
0
+ 
1





+ 
2




+ 




+ 
4




+  (9)
 = 
0
+ 
1


RCP


+ 
2




+ 
3




(Doanh thu - giá vốn)/( tổng tài sản - tài
sản tài chính)
Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản
ROA
Lợi nhuận ròng/ tổng tài sản
Biến giải thích
Kỳ thu tiền bình quân
RCP
(Khoản phải thu/ doanh thu)*365
Vòng quay hàng tồn kho theo ngày
ICP
(Hàng tồn kho/ giá vốn hàng bán)*365
Chu kì khoản phải trả
PDP
(Khoản phải trả/ giá vốn hàng bán)*365
Vòng quay tiền mặt
CCC
RCP+ICP - PDP
Quy mô công ty
LNS
Ln(doanh thu thuần)
12 Tỷ suất sinh lợi gộp và tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản là đại diện cho tỷ suất sinh lợi của
doanh nghiệp. Các nhà đầu tƣ sử dụng những con số này để xem xét việc đầu tƣ vào
doanh nghiệp, còn các nhà quản trị thì dựa vào đây để xem xét hiệu quả hoạt động, tính
hữu dụng của tài sản và việc quản lí chi phí của doanh nghiệp có tốt không. Biến GOP đã
đƣợc sử dụng ở các nghiên cứu của Deloof (2003); Lazaridis và Tryfonidis (2006); trong
khi ROA đƣợc sử dụng ở các nghiên cứu của Uyar (2009); Sharma và Kumar (2011) …

DR
CR
LNS
Mean
0.221381
0.090921
101.2421
156.9416
51.30724
206.8765
0.497593
2.017697
13.34878
Median
0.184108
0.067073
58.50101
94.49701
30.29889
135.6142
0.536559
1.434295
13.27264
Maximum
0.813922
0.662416
914.7692
12009.92
1474.221
10650.73

-0.128883
6.597044
-0.239928
Kurtosis
4.394244
13.47045
17.54829
376.1074
112.4666
308.6821
2.039989
61.45560
4.526977
Jarque-Bera
95.44344
2083.639
4853.955
2601296.
227535.4
1748317.
18.27919
66436.10
47.39552
Probability
0.000000
0.000000
0.000000
0.000000
0.000000
0.000000

giá trị lớn nhất là 66.24%, ROA có giá trị trung bình là 9.09%, trung vị là 6.7%. Ở mỗi
quốc gia, giá trị ROA có thể khác nhau: Falope và Ajilore (2009) tìm thấy ROA của các
doanh nghiệp ở Nigeria đạt giá trị trung bình là 16% và trung vị là 15%; nghiên cứu của
Iluta A. và cộng sự (2012) phát hiện ROA của Latvian có giá trị trung bình là 1.76% và
trung vị là 1.55%. Đặc biệt trong một nền kinh tế phát triển mạnh mẽ nhƣ Ấn Độ thì giá
trị trung bình của ROA lên tới 197% và trung vị là 171%, theo nghiên cứu của Sharma và
Kumar (2011).
Chia tách ROA:
Tỷ suất sinh lợi trên tài sản = tỷ suất sinh lợi trên doanh thu × hiệu suất sử dụng tài sản
Có hiện tƣợng một số doanh nghiệp ở Việt Nam có tỷ suất sinh lợi âm (cả GOP và ROA),
điều này có thể xuất phát từ tỷ suất sinh lợi trên doanh thu thấp hay hiệu suất sử dụng tài
sản thấp. Tỷ suất sinh lợi thấp nguyên nhân là do quản lí không tốt chi phí ở các công ty,
làm gia tăng giá vốn, chi phí quản lí doanh nghiệp, chi phí bán hàng, hoặc do lƣu trữ
hàng tồn kho quá lâu dẫn tới sản phẩm lỗi thời, không thể bán hoặc bán với giá thấp.
Hiệu suất sử dụng tài sản thấp có thể là do các máy móc đã cũ, năng suất thấp, sản xuất ra
các sản phẩm kém chất lƣợng. Đây chính là căn bệnh hay mắc phải ở các doanh nghiệp
Việt Nam nhất là các doanh nghiệp có sự góp vốn của nhà nƣớc hay theo cơ chế bao cấp-
xin cho chậm và không hiệu quả.
Các doanh nghiệp Việt Nam trung bình mất hơn 101 ngày để thu hồi tiền từ việc bán
hàng chậm, hơn một nửa số doanh nhiệp mất hơn 58 ngày để thu hồi số tiền này. Trong
đó có công ty mất hơn 914 ngày ( hơn 2 năm) để nhận đƣợc sự thanh toán từ khách hàng,
nhƣng cũng có doanh nghiệp nhằm đảm bảo tính thanh khoản cao cho công ty và giảm
thiểu rủi ro tín dụng, chỉ cho phép trung bình 1,43 ngày cho việc thu tiền. Điều này dẫn
15

đến sự chênh lệch rất lớn giữa giá trị lớn nhất và nhỏ nhất của RCP (kỳ thu tiền bình
quân). Trong những nghiên cứu trƣớc, giá trị RCP của từng quốc gia cũng rất khác nhau
nhƣ Deloof (2003) tìm ra giá trị trung bình và trung vị của RCP là 54.64 ngày và 51.44
ngày; nghiên cứu của Raheman và Nasr (2007), giá trị trung bình của RCP là 54.79 ngày.
Với nghiên cứu của Falope và Ajilore (2009), các giá trị này lần lƣợt là 61.21 ngày và

ngày.
Tỷ số nợ (DR) ở các doanh nghiệp Việt Nam là 49%, một nửa số công ty có tỷ trọng nợ
trong cơ cấu vốn lớn hơn 53%. Bên cạnh vốn chủ sở hữu, nợ là một nguồn vốn chủ lực
trong gia tăng tỷ suất sinh lợi cho công ty. Tỷ trọng nợ phụ thuộc vào chính sách của từng
công ty, có công ty chỉ có 3% nợ trong cơ cấu vốn, tuy nhiên cũng có công ty tận dụng
tối đa nguốn vốn vay, và con số này lên tới 94%.
Tỷ số thanh toán hiện hành (CR) có giá trị trung bình là 2.02, sự chênh lệch giữa công ty
có khả năng thanh toán tốt nhất và xấu nhất khá lớn. Trong khi có công ty chỉ giữ khả
năng thanh toán là 0.36, thì có công ty lại giữ tỷ lệ này lên tới 26.65. Giữ tỷ số thanh toán
hiện hành cao là một chính sách nhằm hạn chế rủi ro thanh khoản, đồng thời đem lại
niềm tin cho cổ đông và nhà cung cấp vào nguồn lực tài chính vững mạnh của công ty.
Sự chênh lệch về quy mô giữa các công ty ở Việt Nam rất lớn, đƣợc thể hiện bằng
khoảng cách giữa giá trị lớn nhất và nhỏ nhất của biến LNS. Công ty có quy mô lớn nhất
với doanh thu hàng năm vào khoảng 18 ngàn tỷ đồng và công ty có quy mô doanh thu
thấp nhất vào khoảng 545 triệu đồng. Sự chênh lệch khá lớn về quy mô công ty có thể
dẫn tới hiện tƣợng một số công ty lớn có ƣu thế hơn hẳn so với những công ty khác trong
việc ra các quyết định tài chính, mở rộng thị phần, thay đổi các chính sách bán hàng.
17

4.2. Phân tích tƣơng quan Pearson
BẢNG 3: Phân tích tƣơng quan Pearson các biến trong mô hình
Covariance Analysis: Ordinary Correlation
ROA
0.726118
1.000000 0.0000

ICP
-0.055481
-0.063223
0.148098
1.000000
0.2433
0.1836

0.0000
0.0000
CCC
-0.117757
-0.099183
0.331420
0.977320
0.771050
1.000000

0.0130
0.0367

0.1516
0.1830
0.0085
0.1847

CR
0.102252
0.239720
-0.055815
-0.060538
-0.109380
-0.059731
-0.552990
1.000000 0.0312
0.0000

0.0000
0.0324
0.0000
0.0018
0.0000
0.0000

sinh lợi sẽ cao hơn.
19

Mối tƣơng quan giữa tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) và kỳ thu tiền bình quân
(RCP), chu kì khoản trả (PDP) là tƣơng quan âm, khá thống nhất với kết quả của những
nghiên cứu trƣớc.Tuy nhiên, mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) và
vòng quay hàng tồn kho theo ngày (ICP) lại không có ý nghĩa thống kê, dƣờng nhƣ ROA
không thể hiện tốt vai trò đại diện cho tỷ suất sinh lợi nhƣ tỷ suất sinh lợi gộp (GOP), có
lẽ vì lí do này mà một số nghiên cứu không sử dụng biến ROA nhƣ Deloof (2003) nghiên
cứu ở Belgium.
Mối tƣơng quan giữa tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) và vòng quay tiền mặt
(CCC) là âm và có ý nghĩa thống kê với α =5%, r = -0.099. Điều này hàm ý rằng các nhà
quản trị có thể gia tăng tỷ suất sinh lợi bằng cách giảm vòng quay tiền mặt. Kết quả này
thì khá tƣơng đồng với những nghiên cứu của Wang (2002); Lazaridis và Tryfonidis
(2006); Deloof (2003). Kết quả này khác với nghiên cứu của Sharma và Kumar (2011).
Tƣơng tự nhƣ tỷ suất sinh lợi gộp, mối tƣơng quan giữa tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản
(ROA) và tỷ số nợ (DR) là âm (r = - 0.472) và mối tƣơng quan giữa ROA và tỷ số thanh
toán hiện hành (CR) là dƣơng (r = 0.2397). Tuy nhiên, khác với tỷ suất sinh lợi gộp,
dƣờng nhƣ ở Việt Nam, quy mô công ty (LNS) không có tác động tới ROA, tỷ suất sinh
lợi trên tổng tài sản không có đƣợc lợi thế từ quy mô.
Mối tƣơng quan giữa 4 biến kỳ thu tiền bình quân (RCP), vòng quay hàng tồn kho theo
ngày (ICP), chu kì khoản phải trả (PDP), vòng quay tiền mặt (CCC), là tƣơng quan
dƣơng, có nghĩa rằng, nếu RCP tăng, thì công ty mở rộng chính sách bán chịu, gia tăng
doanh thu, gia tăng khách hàng, đồng thời, công ty cũng phải sử dụng các nguồn vốn
chiếm dụng, điều này sẽ giúp cho công ty có đƣợc nguồn tài sản trong ngắn hạn mà
không mất đi lƣợng tiền mặt trong ngân quỹ khi chƣa thu hồi đƣợc tiền bán hàng. Gia
tăng bán chịu đồng nghĩa với việc công ty phải gia tăng mua chịu. Lúc này, số lƣợng
khách hàng sẽ gia tăng, nhu cầu về lƣợng hàng hóa trong kho cũng cần nhiều hơn để đảm
bảo có hàng khi khách hàng cần, do đó vòng quay hàng tồn kho theo ngày sẽ gia tăng,
20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status