Lâm nghiệp cộng đồng ở Việt Nam - Tiềm năng, cơ hội và thách thức
Hoàng Thái Sơn - Trường trung học Lâm nghiệp I Trung ương
Thành viên mạng lưới SURDM
(Sưu tầm)
Việt Nam với 2/3 diện tích là vùng đồi núi, đây là nơi sinh sống của hơn 24 triệu đồng bào thuộc
54 dân tộc, đặc biệt là cộng đồng các dân tộc ít người mà cuộc sống của họ luôn gắn bó mật thiết
với đất đai, rừng núi, đây cũng là nơi hoạt động chủ yếu của ngành lâm nghiệp, vì vậy, việc xã
hội hoá ngành lâm nghiệp không chỉ là một yêu cầu thực tế khách quan của Việt Nam mà nó còn
phù hợp với xu thế phát triển nghề rừng trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển.
Quá trình chuyển hướng mang tính chiến lược của ngành lâm nghiệp từ lâm nghiệp thuần tuý nhà
nước sang lâm nghiệp nhân dân - lâm nghiệp xã hội (xã hội hoá ngành lâm nghiệp) được thực
hiện từ hơn 15 năm trở lại đây, đã tạo ra nhiều nhân tố tích cực mới, đa dạng hoá các hình thức
quản lý và phương thức tiếp cận mới đối với quản lý tài nguyên rừng. Qua đó, ngoài lâm nghiệp
quốc doanh còn phát huy được vai trò của các thành phần kinh tế khác, đặc biệt là cộng đồng và
hộ gia đình tham gia quản lý bảo vệ và phát triển vốn rừng.
Tuy nhiên trong quá trình chuyển hướng này, lâm nghiệp cộng đồng (LNCĐ) mới chỉ dừng ở
bước thí điểm và chưa được pháp lý công nhận, cho đến ngày 3 tháng 12 năm 2004, Luật bảo vệ
và phát triển rừng được Quốc hội chính thức thông qua, mới công nhận cộng đồng là một chủ thể
được giao rừng với các quyền và nghĩa vụ được quy định cụ thể tại các điều 29 và 30. Đây là một
chủ trương đúng đắn, tăng cường xã hội hoá nghề rừng, tạo thêm sức mạnh cho việc quản lý và
phát triển vốn rừng, góp phần ổn định và nâng cao đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng
núi, bảo đảm an ninh chính trị và quốc phòng.
Để đạt được kết quả trên, thời gian qua, ngành và các dự án quốc tế đã tiến hành rất nhiều công
trình nghiên cứu, xây dựng nhiều mô hình thí điểm, tổ chức nhiều cuộc hội thảo, thông tin quảng
bá về lâm nghiệp cộng đồng. Tuy nhiên, nay luật đã ra đời, để lâm nghiệp cộng đồng phát triển
có hiệu quả, đóng góp nhiều cho sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng thì những nghiên cứu trước
đây, những thông tin của các hội thảo trước đây là chưa đủ. Nhiều vấn đề cần được đánh giá, xem
xét, thống nhất lại, từ khái niệm đến đánh giá hiện trạng, những ưu điểm, những tồn tại, cơ hội,
thách thức và điều đặc biệt từ đó đề xuất được những công việc cần tiến hành. Đây cũng chính là
mục đích của bài viết này, giúp các nhà quản lý xác định được những nội dung, phương hướng
cần tiến hành trong giai đoạn tiếp theo.
Đây là hình thức cộng đồng tham gia quản lý các khu rừng không thuộc quyền quản lý, sử dụng,
sở hữu chung của họ mà thuộc quyền quản lý, sử dụng sở hữu của các thành phần kinh tế khác
nhưng có quan hệ trực tiếp đến đời sống, đến việc làm, thu hoạch sản phẩm, thu nhập hay các lợi
ích khác của cộng đồng (thuỷ lợi nhỏ, nước sinh hoạt…). Hình thức này bao gồm hai đối tượng:
+ Rừng của hộ gia đình, cá nhân là thành viên trong cộng đồng. Cộng đồng tham gia quản lý với
tính chất hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau, chia xẻ lợi ích cùng nhau trên cơ sở tự nguyện (tạo thêm sức
mạnh để báo vệ rừng, hỗ trợ hoặc đổi công cho nhau trong các hoạt động lâm nghiệp…).
+ Rừng thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu của các tổ chức nhà nước (các ban quản lý rừng
phòng hộ, đặc dụng, các lâm trường, công ty lâm nghiệp nhà nước, các trạm trại…) và các tổ
chức tư nhân khác. Cộng đồng tham gia các hoạt động lâm nghiệp như bảo vệ, khoanh nuôI xúc
tiến tái sinh, phục hồi rừng, trồng rừng với tư cách là người làm thuê thông qua các hợp đồng
khoán và hưởng lợi theo các cam kết trong hợp đồng.
Từ sự phân tích trên đây cho thấy, LNCĐ, QLRCĐ là những khái niệm khác nhau. Thuật ngữ
QLRCĐ được sử dụng với ý nghĩa hẹp hơn để chỉ CĐ quản lý những khu rừng của một cộng
đồng dân cư, còn nói đến LNCĐ hay cộng đồng tham gia quản lý rừng chính là diễn tả hàng loạt
các hoạt động gắn người dân trong cộng đồng dân cư thôn bản với rừng, cây, các sản phẩm của
rừng và việc phân chia lợi ích từ rừng. Hay nói cách khác, LNCĐ là một hình thức quản lý, bảo
vệ, sử dụng và phát triển rừng do cộng đồng dân cư thôn bản thực hiện bao gồm cả rừng của cộng
đồng và rừng của các thành phần kinh tế khác.
Với cách hiểu như vậy, nên chấp nhận LNCĐ bao gồm cả quản lý rừng cộng đồng (cộng đồng
quản lý rừng của cộng đồng) và quản lý rừng dựa vào cộng đồng (cộng đồng quản lý rừng của
các chủ rừng khác). Khái niệm này vừa phù hợp với định nghĩa của FAO vừa phát huy được
nhiều hơn sự đóng góp của cộng đồng vào quản lý, bảo vệ, xây dựng và phát triển rừng.
Đặc trưng và tiêu chí LNCĐ.
Tiêu chí về LNCĐ được xây dựng dựa trên cơ cơ sở khái niệm về LNCĐ. Do có những quan
niệm khác nhau về LNCĐ nên có những ý kiến khác nhau về tiêu chí của LNCĐ, tuy nhiên có thể
khái quát một số tiêu chí chính sau đây:
a- Quyền sử dụng đất và quyền sử dụng rừng thuộc về cộng đồng.
Đây là một trong những tiêu chí quan trọng nhất xác lập rừng cộng đồng. Quyền sử dụng đất và
quyền sử dụng rừng thuộc về cộng đồng, điều đó có nghĩa "cộng đồng" là chủ rừng, được nhà
chức cứng nhắc, như tổ chức theo kiểu làm công, thuê khoán thì đó không phải là kiểu tổ chức
quản lý rừng cộng đồng.
Bảng 1. Khái quát các tiêu chí nhận biết về LNCĐ
Các tiêu chí Các chỉ số nhận biết
1 Quyền sử dụng đất và
quyền sử dụng rừng thuộc
về cộng đồng
- Được nhà nước giao đất, giao rừng sử dụng rừng ổn định, lâu dài vào
mục đích lâm nghiệp
- Được nhà nước công nhận quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng (hợp
pháp hoá diện tích rừng cộng đồng đã quản lý theo truyền thống từ nhiều
năm trước, rừng do HTX bàn giao lại cho cộng đồng quản lý)
2. Mục đích của rừng cộng
đồng
- Cung cấp gỗ gia dụng của cộng đồng dân cư làng bản (gỗ và lâm sản để
làm nhà mới, sửa chữa lớn nhà cửa, củi, măng, chăn thả gia súc )
- Cung cấp gỗ và lâm sản phục vụ chung cho cộng đồng thôn bản.
- Bảo vệ nguồn nước, chống xói mòn đất
Bảo vệ rừng gỗ quý, rừng thiêng, rừng ma
3. Sử dụng các nguồn lực để
quản lý rừng cộng đồng
- Chủ yếu sử dụng các nguồn lực sẵn có của cộng đồng,
- Có sự hỗ trợ của nhà nước và các tổ chức chính phủ và phi chính phủ
4. Quy ước/hương ước
quản lý rừng
- Quy ước/hương ước được xây dựng với sự tham gia của toàn thể cộng
đồng và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp nhận.
5. Hình thức tổ chức quản lý
rừng cộng đồng
- Hình thức tổ chức và quản lý rừng linh hoạt ( thành lập tổ chuyên trách
b- Về nguồn gốc hình thành.
Có thể phân thành 3 loại sau đây:
- Rừng và đất rừng do cộng đồng tự công nhận và quản lý theo truyền thống từ nhiều đời nay
+ Đây là các loại rừng quản lý theo truyền thống của các đồng bào dân tộc thiểu số. Về mặt pháp
lý, các quyền sở hữu, quyền sử dụng các khu rừng này chưa được xác lập, nhưng trên thực tế nó
đang được điều tiết một cách không chính thức bởi các luật tục truyền thống. Trong xã hội cổ
truyền của một số đồng bào dân tộc ít người, làng bản là đơn vị độc lập cao nhất. Mỗi làng đều có
ranh giới lãnh điạ nhất định bao gồm cả đất, rừng, nguồn nước, suối…Toàn bộ các hoạt động
quản lý tài nguyên của cộng đồng được thực hiện bởi già làng, trưởng bản thông qua các luật tục
hay hương ước được thực hiện một cách tự nguyện truyền từ đời này qua đời khác.
+ Tính đến tháng 6/2001, tổng diện tích rừng và đất rừng thuộc loại này là 214.006 ha, bao gồm:
86.701 ha đất có rừng; 127.304 ha đất trống đồi núi trọc. Đó là những khu rừng thiêng, rừng ma,
rừng đình, rừng thổ công, rừng mó nước, rừng phòng hộ xóm làng (chống sạt lở, đá lăn…),
những khu rừng cung cấp lâm sản truyền thống cho cộng đồng (săn bắn, thu hái thực phẩm, cây
thuốc ), bãi chăn thả. Ngoài ra, thuộc loại này, còn bao gồm rừng trồng của Hợp tác xã, rừng tự
nhiên đã giao cho Hợp tác xã trước đây, nay giao lại cho các xã hoặc thôn bản quản lý.
Hình thức này phổ biến ở cộng đồng người dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng xa, nơi tính
cộng đồng, hương ước làng bản còn được duy trì.
Xét về khía cạnh pháp lý: Tại Điều 9, Nghị định 17/HĐBT ngày 17/1/92 của Hội đồng Bộ trưởng
và tại điều 29 Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 đã thừa nhận cộng đồng thôn bản là chủ
rừng đối với diện tích rừng làng, rừng bản nói trên. Nhưng trên thực tế, chính quyền địa phương
chưa làm thủ tục giao quyền sử dụng lâu dài cho các cộng đồng.
- Rừng và đất rừng chính quyền địa phương giao cho cộng đồng quản lý, sử dụng ổn định lâu dài.
+ Tổng diện tích là 1.197.961 ha, bao gồm: đất có rừng 669.750 ha, đất trống đồi núi trọc
528.211 ha. Thời gian qua, mặc dù pháp luật chưa quy định cộng đồng là đối tượng giao quyền
sử dụng đất, nhưng đã có 18 tỉnh mạnh dạn làm thí điểm giao đất, giao rừng cho cộng đồng.
+ Rừng giao cho cộng đồng phần lớn là rừng nghèo, phục hồi sau nương rẫy hoặc sau khai thác
kiệt. Một số cộng đồng được giao đất trống đồi trọc để trồng rừng hoặc khoanh nuôi xúc tiến tái
sinh, hiếm có trường hợp cộng đồng được giao những diện tích rừng giàu để quản lý, bảo vệ và
sử dụng ổn định lâu dài.
Kinh tế (tài chính, sản xuất).
Xã hội (Truyền thống, tổ chức, quy ước nội bộ,
quan hệ )
Nguồn nhân lực (lao động, lãnh đạo).
- Chưa có ranh giới rõ ràng.
- Chưa có đủ tư cách pháp nhân
- Vai trò trưởng thôn mang tính hành
chính và chưa có trách nhiệm pháp lý.
- Trình độ quản lý thấp.
- Chưa có cơ chế tài chính, nguồn thu
Có khả năng quản lý tất cả các loại rừng. hạn chế
- Phụ thuộc vào các cấp chính quyền
cao hơn
Nhóm hộ/nhóm
sở thích
- Quy mô nhỏ, dễ dàng tổ chức, quản lý thống
nhất.
- Phù hợp với trình độ hiện nay của dân.
- Phù hợp với yêu cầu đầu tư của dân
- Có tiềm năng trở thành cấp thôn bản hoặc
HTX kiểu mới
- Chi phí phù hợp với quy mô nhỏ.
- Khó bảo vệ rừng ở các vùng sâu, vùng
xa.
Dòng tộc Thuận lợi tương tự như nhóm hộ - Khó được chấp nhận về mặt pháp lý.
- Có thể tạo nên mâu thuẫn cục bộ trong
cộng đồng thôn bản
d- Hiệu quả đạt được.
Cho đến nay chưa có đánh giá hiệu quả quản lý rừng cộng đồng ở quy mô toàn quốc, tuy nhiên,
căn cứ vào 3 kết quả Hội thảo quốc gia về quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam được tổ chức tại
+ Cộng đồng không đủ quyền và lực để chống lại lâm tặc vì thiếu sự trợ giúp của chính quyền,
của kiểm lâm và công an.
+ Thiếu vốn nên nhiều nơi nhận đất, nhận rừng nhưng không thể đầu tư vào sử dụng đất và phát
triển rừng.
+ Thiếu kiến thức về kỹ thuật lâm nghiệp để quản lý, xây dựng, phát triển và sử dụng rừng có
hiệu quả.
+ Nguồn thu từ rừng chưa chiếm tỷ trọng lớn trong thu nhập của cộng đồng, chưa thực sự đóng
góp vào cải thiện đời sống của người dân.
- Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tồn tại trên là:
+ Thời gian qua, khi Luật bảo và phát triển rừng chưa ra đời, LNCĐ mới chỉ được làm thí điểm
hoặc tự phát ở một số địa phương với sự trợ giúp của các dự án hoặc chính quyền địa phương. Do
chưa có đầy đủ cơ sở pháp lý nên CĐ chưa được hưởng các quyền như các thành phần kinh tế
khác (như các quyền được giao đất giao rừng, vay vốn tín dụng ưu đãi, chính sách hưởng lợi…)
để thực hiện việc quản lý xây dựng và phát triển rừng.
+ Cộng đồng sống ở vùng sâu, vùng xa, trình độ dân trí thấp, cơ sở hạ tầng yếu kém, thiếu vốn lại
thiếu sự trợ giúp của cơ quan, đoàn thể, chính quyền địa phương, đặc biệt là công tác khuyến lâm.
Nhiều nơi tiến hành giao đất giao rừng quá ồ ạt, trong khi những điều kiện để tạo hậu thuẫn cho
cộng đồng quản lý rừng chưa được chuẩn bị đầy đủ.
+ Rừng giao cho cộng đồng thường là rừng nghèo, rừng non nên thu nhập của người dân từ rừng
ở nhiều nơi rất thấp, thậm trí không có thu nhập.
+ Cộng đồng ở một số nơi chưa được tổ chức và có cơ chế hoạt động chặt chẽ.
Những Cơ hội :
a. Trong hơn 10 năm qua nhà nước đã chuyển hướng mạnh từ lâm nghiệp nhà nước sang lâm
nghiệp xã hội, LNCĐ là một đối tượng quan trọng trong quá trình chuyển hướng này và đựơc nhà
nước quan tâm tạo điều kiện phát triển. Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách có liên quan hoặc
có thể vận dụng cho phát triển LNCĐ.
b. Một chuyển biến lớn mang tính quyết định cho việc phát triển LNCĐ là Luật đất đai năm 2003
đã công nhận cộng đồng là đối tượng được giao đất và Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004
đã công nhận cộng đồng là một thành phần được giao rừng.
c. LNCĐ là tồn tại khách quan, nó vừa phù hợp với truyền thống lâu đời vừa là đòi hỏi thực tế
tư hướng dẫn, các quy chế, các chính sách, các quy trình, quy phạm còn thiếu hoặc chưa được
hoàn chỉnh, gây khó khăn cho việc thi hành luật cũng như phát triển LNCĐ.
c. LNCĐ phát triển ở vùng sâu, vùng xa, tỷ lệ đói nghèo cao, trình độ dân trí thấp, cơ sở hạ tầng
yếu kém, thiếu vốn, thiếu hiểu biết về kỹ thuật…Đây là trở ngại lớn đối với phát triển LNCĐ.
d. Nguồn thu từ rừng vốn dĩ đã thấp, trong khi rừng giao cho cộng đồng hầu hết là rừng nghèo
nên nguồn thu lại càng thấp hơn. Điều này dẫn đến một số hậu quả sau:
- Làm giảm sự quan tâm, sự hấp dẫn của người dân đối với rừng.
- Nguồn thu trước mắt từ rừng thấp, đóng góp vào cải thiện đời sống, xoá đói giảm nghèo hạn chế
- Không có khả năng lấy rừng nuôi rừng, tái đầu tư xây dựng và phát triển rừng.
Những vấn cần tiến hành để phát triển LNCĐ.
Như trên đã trình bầy, giao rừng cho cộng đồng đã được nhà nước công nhận, đây là một thuận
lợi lớn cho việc phát triển LNCĐ, song để có thể thực hiện tốt chủ trương này cần giải quyết các
vấn đề sau:
a. Xây dựng và ban hành các văn bản dưới luật, các chính sách.
- Nghị định và các thông tư hướng dẫn có liên quan đến LNCĐ, cụ thể hoá các vấn đề về giao
đất, giao rừng, về quyền và nghĩa vụ, tổ chức cộng đồng, vai trò trách nhiệm của các bên liên
quan
- Các chính sách khuyến khích, hỗ trợ cộng đồng, vay vốn (tuy cộng đồng không được dùng rừng
để thế chấp nhưng có thể vay vốn bằng các hình thức khác), chính sách hưởng lợi.
- Quy chế khai thác rừng cộng đồng
b. Xây dựng thể chế quản lý rừng cộng đồng.
Hội thảo quốc gia về thể chế quản lý rừng cộng đồng dân cư thôn bản được tổ chức tại Hà Nội
tháng 11/2004, về cơ bản, đã thống nhất cần có bản hướng dẫn tạm thời quy định vai trò, chức
năng, nhiệm vụ của các bên liên quan đến quản lý rừng cộng đồng dân cư thôn; cơ chế phối hợp
giữa cộng đồng với các cơ quan, đơn vị liên quan và các công cụ cần thiết để quản lý rừng cộng
đồng. Nội dung bản hướng dẫn này đề cập những vấn đề chủ yếu sau đây:
- Cơ cấu tổ chức lâm nghiệp trong cộng đồng.
Tổ chức như thế nào để có thể thực hiện được các chính sách của nhà nước (tiếp nhận sự hỗ trợ
của nhà nước về vốn, vay vốn bằng các hình thức khác không thông qua thế chấp rừng, đất rừng,
để có thể quản lý, bảo vệ, sử dụng có hiệu quả rừng, đất rừng. Ví dụ thành lập ban quản lý lâm
- Ưu tiên giao cho cộng đồng dân cư thôn, bản các loại rừng và đất rừng sau:
+ Các khu rừng thiêng gắn liền với tín ngưỡng của đồng bào dân tộc thiểu số, như rừng thờ thổ
thần, rừng thiêng, rừng ma.
+ Các khu rừng mó nước (cốc bó), rừng đầu ngọn suối cung cấp nước sinh, họat sản xuất cho
cộng đồng thôn bản, những khu rừng phòng hộ các khu dân cư, sản xuất;
+ Các khu rừng cung cấp lâm sản gia dụng đã được xác lập theo tập quán, những khu rừng già,
những chòm cây cổ thụ còn sót lại trong thôn, bản không thể giao đều cho các hộ thành viên một
cách công bằng
+ Các khu rừng ở xa khu dân cư, địa hình hiểm trở, hộ gia đình không có đủ điều kiện để bảo vệ
hoặc có nguy cơ cao khai thác lâm sản trái phép, phá rừng làm rãy (những khu rừng giáp ranh
giữa các thôn, xã, huyện). Thông thường các khu rừng và đất rừng này được thống kê là loại đất
chưa sử dụng, chưa giao cho chủ sử dụng, do UBND xã quản lý theo phân cấp về quản lý rừng
của Chính phủ.
- Tránh chạy theo số lượng, giao đúng đối tượng cho các cộng đồng có đủ điều kiện để quản lý,
bảo vệ và sử dụng rừng có hiệu quả. Khả năng hỗ trợ để cộng đồng ổn định quản lý rừng của các
cơ quan hữu quan ở địa phương đến đâu thì giao đến đó.
- Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sử dụng rừng chính thức cho cộng đồng.
- Do hầu hết các địa phương đã tiến hành giao đất giao rừng cho hộ gia đình vì vậy khi tiến hành
giao đất giao rừng cho cộng đồng cần bảo đảm hài hoà lơị ích giữa hộ gia đình và cộng đồng,
tránh gây mâu thuẫn, mất đoàn kết.
đ. Hỗ trợ cộng đồng sau giao đất giao rừng. Giao đất giao rừng mới chỉ là khởi đầu cho phát triển
LNCĐ. Theo kinh nghiệm ở nhiều nơi nếu không có hỗ trợ sau giao đất giao rừng thì cộng đồng
hầu như không có khả năng thực hiện các nhiệm vụ quản lý rừng. Cụ thể:
Hỗ trợ về vốn.
Hỗ trợ để hình thành tổ chức lâm nghiệp trong cộng đồng, xây dựng quy chế hoạt động, xây dựng
hương ước, chia xẻ lợi ích…(thực hiện bởi tổ chức lâm nghiệp trên địa bàn).
Hỗ trợ về kỹ thuật , về chế biến tiêu thụ sản phẩm (khuyến lâm)…
Tạo hậu thuẫn cho việc bảo vệ rừng (thực hiện bởi chính quyền địa phương, công an, kiểm lâm).
e. Xây dựng hướng dẫn về thiết lập và hoạt động QLRCĐ theo các bước sau:
Bước 1. Quy hoạch sử dụng đất và giao đất giao rừng có sự tham gia của người dân.
trung bị chia xẻ manh mún. Việc giao ồ ạt, không hợp lý, nhất là những vùng nhậy cảm về gỗ, có
thể gây nên những hậu quả không mong muốn, tình trạng phá rừng có thể mạnh hơn.
- Những kết quả về LNCĐ thời gian qua là rất đáng quý, song đây chỉ là bước đầu. Còn rất nhiều
vấn đề có liên quan cần phải nghiên cứu, còn rất nhiều kết quả nghiên cưu trước đây cần được
kiểm chứng trong thực tế vì vậy công tác nghiên cứu, xây dựng mô hình cần được coi trọng và
tiếp tục thực hiện.
- Công tác khuyến lâm đối với cộng đồng là hết sức quan trọng, cần có một chương trình khuyến
lâm cho cộng đồng về quản lý rừng tự nhiên (điều tra rừng cộng đồng, thiết kế khai thác, kỹ thuật
nuôi dưỡng rừng, khoanh nuôi phục hồi rừng ), về trồng rừng.
- Có nhiều chính sách ban hành trước đây phù hợp với cộng đồng, vì vậy trong khi chưa xây
dựng được chính sách hoàn chỉnh cho LNCĐ, trước mắt nhà nước cho phép vận dụng những
điiểm phù hợp của các chính sách đã có cho cộng đồng. Ngành cần nghiên cứu tập hợp những
chính sách phù hợp để trình chính phủ cho phép vận dụng.
Nguồn: />
Quan niệm mới về lâm nghiệp và quản lý rừng bền vững ở Việt Nam
Hoàng Thái Sơn - Trường trung học Lâm nghiệp I Trung ương
Thành viên mạng lưới SURDM
(Sưu tầm)
Kể từ Hội nghị thượng đỉnh Rio 1972, khái niệm "phát triển bền vững” đã trở thành một thuậtt
ngữ bị lạm dụng quá nhiều nhưng ít được hiểu một cách đúng đắn. Thật vậy, hiện tại ít có một
khái niệm nào lại có nhiều định nghĩa và được tranh luận rộng rãi như vậy. Khái niệm “quản lý
rừng bền vững” đã được tạo ra và trở thành một sự bắt buộc khi nói đến một nền "lâm nghiệp
tốt". Trong thực tế, rất ít quốc gia đạt được thành công trong việc thực hiện quản lý rừng bền
vững; thậm chí nhà lâm nghiệp được gán nhãn hiệu là những người tàn phá màu xanh, huỷ hoại
môi trường; điều đó buộc họ phải trở về với gốc rễ để nhận thức lại rằng: nhà lâm nghiệp trước
hết phải là những người bảo vệ môi trường. Đạo lý và các chuẩn mực của thực tiễn một nền lâm
nghiệp tốt đã bị thay chỗ trước các vấn đề cấp bách như sa mạc hoá, sự nóng lên của trái đất, suy
giảm đa dạng sinh học và thu hút được sự chú ý của các nhà khoa học, của công chúng và của
các nhà chính khách. Nói cách khác, nhà lâm nghiệp đã nhận thức được rằng suy giảm rừng là hệ
quả của một thực tiễn sai lầm và thất bại. Trách nhiệm nghề nghiệp của các nhà lâm nghiệp là
bị lỗi thời. ít nhất có thể nhấn mạnh ba khía cạnh của sự khủng hoảng trong quan niệm về ngành
lâm nghiệp hiện nay: thứ nhất, rừng ngày càng bị suy giảm kéo theo các hậu quả nghiêm trọng về
môi trường sinh thái, lũ lụt, hạn hán, sa mạc hoá gia tăng; đa dạng sinh học suy giảm; xói mòn
đất đai; thay đổi khí hậu theo chiều hướng không có lợi cho sự tồn tại của con người. Thứ hai, cơ
chế chính sách của nhà nước thiếu đồng bộ, không nhất quán, thậm chí không minh bạch tạo ra
sự lộn xộn trong quản lý đất đai giữa các cộng đồng dân bản địa, các nông, lâm trường và đất đai
cá nhân. Thứ ba, những thử nghiệm mới trong quản lý tài nguyên rừng như quản lý rừng dựa vào
cộng đồng, nhất thể hoá thực tiễn bảo tồn đa dạng sinh học trong quản lý rừng phòng hộ và rừng
sản xuất và thực hiện quản lý có sự tham gia trong các lưu vực đầu nguồn đã mang lại nhiều hứa
hẹn và thuyết phục được nhiều đối tác.
Tất cả những khía cạnh đó là dấu hiệu cho thấy quan niệm lâm nghiệp hiện nay của chúng ta cần
phải được thay đổi.
Chúng ta tìm những vấn đề của ngành lâm nghiệp ở đâu?
(1) Trong kinh tế doanh nghiệp:
Hệ thống tổ chức lâm nghiệp của chúng ta đang nằm trong tiến trình đổi mới. Theo tinh thần của
quyết định 187/1999/QĐ-TTg ngày 16/9/1999 của Thủ tướng Chính phủ thì các lâm trường quốc
doanh sẽ được sắp xếp lại thành hai hình thức tổ chức với cơ chế hoạt động khác nhau: (i) Các
lâm trường quản lý rừng sản xuất và rừng phòng hộ ít xung yếu hoạt động theo cơ chế kinh
doanh; và (ii) Các ban quản lý rừng phòng hộ/rừng đặc dụng hoạt động theo cơ chế đơn vị sự
nghiệp có thu. Nguyên tắc tổ chức được qui định phải bảo đảm quyền tự chủ trong sản xuất kinh
doanh; doanh nghiệp phải là chủ rừng thực sự; lợi ích của người lao động, của doanh nghiệp, của
địa phương và của nhà nước phải được giải quyết hài hoà. Nhưng làm thế nào để đạt được điều
đó trong thực tế? Những bất cập gì cần được vượt qua?
Bất kỳ một khu rừng nào cũng có khả năng cung cấp lợi ích kinh tế và lợi ích sinh thái. Về
nguyên tắc thì lợi ích kinh tế và lợi ích sinh thái không mâu thuẫn nhau, nếu giữa kinh tế quốc
dân và kinh tế doanh nghiệp không tạo ra các hệ thống độc lập và trách nhiệm cũng như hậu quả
không bị nhập nhằng giữa các cấp, các ngành. Những tư duy mới, những định hướng mới trong
chính sách và kinh doanh lâm nghiệp là tiền đề cần thiết để đổi mới hệ thống quản lý rừng theo
hướng bền vững. Kinh doanh lâm nghiệp chịu sự ràng buộc của sản phầm có thể bán trên thị
trường. Đối với một doanh nghiệp lâm nghiệp, hầu như sản phẩm hàng hoá có thề bán được là
các chức năng của rừng, các hình thức sử dụng và nguyên tắc phân phối quyền lợi tỏ ra hoàn toàn
không thích hợp với tình hình thực tế. Một chính sách lâm nghiệp thích hợp cần phải giải quyết
hài hoà mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế quốc dân (hướng theo các mục tiêu xã hội) và lợi ích của
doanh nghiệp (hướng theo mục tiêu kinh doanh của chủ rừng). Việc xác định giá trị một cách
tương đối các chức năng của rừng và các quyền lợi sử dụng liên quan chặt chẽ với nhau. Hiệu
quả của các giải pháp quản lý rừng ngắn hạn, trung hạn và dài hạn phải được đánh giá dựa trên
mối quan hệ này. Nếu khung chính sách không làm rõ ràng mối quan hệ này, người chủ rừng bắt
buộc phải có những quyết định riêng vì lợi ích của họ. Những khả năng quyết định và hành động;
và vì vậy, mức quan trọng của công tác quản lý tài nguyên rừng phụ thuộc vào mức độ mà chính
sách lâm nghiệp xác định giá trị các chức năng của rừng trong việc đáp ứng các nhu cầu khác
nhau của xã hội. Ví dụ, nếu chính sách lâm nghiệp chỉ hạn chế tầm quan trọng kinh tế quốc dân
của lâm nghiệp ở chức năng kinh tế sản xuất (gỗ) và không xác định giá trị các chức năng phi vật
chất của rừng thì các quyết định và không gian hành động của công tác xây dựng rừng sẽ thu hẹp
đáng kể. Tuy nhiên, chính sách lâm nghiệp của chúng ta cần phải hướng tới nguyên tắc đa chúc
năng ( nhiều lợi ích khác nhau) và bền vững (bắt chước thiên nhiên).
(3) Về đối tượng rừng:
Những hạn chế trong tổ chức và quản lý/kinh doanh rừng của chúng ta hiện nay có thể bắt đầu từ
những nhận thức và quan niệm sai lầm hoặc thiếu chính xác về đối tượng. Quan niệm về nội
dung của lâm nghiệp đã, đang và sẽ thay đổi theo từng giai đoạn của phát triền xã hội tuỳ vào
trình độ nhận thức, nhu cầu và xu thế phát triển của từng thời kỳ. Thông thường, lâm nghiệp
được hiểu là một ngành kinh tế kỹ thuật lấy tài nguyên rừng làm đối tượng để khai thác gỗ và các
lâm sản đáp ứng các nhu cầu xã hội. ở nghĩa hẹp hơn, người ta hiểu lâm nghiệp chỉ bao gồm
những hoạt động lâm sinh như trồng, tu bổ, chăm sóc, bảo vệ rừng. Việc khai thác, sử dụng rừng
và chế biến lâm sản được xếp vào ngành công nghiệp khai thác tài nguyên (cũng giống như khai
thác than, quặng vậy). Trong hệ thống tổ chức lâm nghiệp đã có sự phân tách giữa các lâm
trường trồng rừng và xí nghiệp khai thác riêng lẻ. Các lâm trường trồng rừng chỉ có nhiệm vụ
trồng rừng chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ rừng. Sản phẩm cuối cùng của họ là cây đứng. Các xí
nghiệp khai thác mua cây đứng để khai thác. Kết quả là các lâm trường trồng rừng chỉ quan tâm
đến việc trồng rừng theo chỉ tiêu kế hoạch sao cho được nghiệm thu, còn chất lượng, sản lượng
rừng thì họ không quan tâm. Trong khi đó các xí nghiệp khai thác lại chỉ quan tâm đến vấn đề
Giả thiết
Quan niệm cũ Quan niệm mới
1. Rừng - Là những "kho đặc biệt" hay
những hệ thống cung cấp/sản xuất
một hoặc nhiều sản phẩm chọn lọc
có giá trị thương mại cao. Giá trị
của rừng được xác định đơn thuần
về mặt thương mại của gỗ và các
- Là những hệ sinh thái phức hợp có
thể cung cấp cho con người một loạt
các sản phẩm kinh tế và môi trường
cũng như các dịch vụ được xã hội
lượng giá. Giá trị của rừng mang tính
nội tại và khó có thể đưa ra một đơn
lâm sản khác có thể khai thác từ
rừng
giá cho nhiều chức năng và dịch vụ mà
rừng có thể cung cấp.
2. Nhà lâm nghiệp - Là các chuyên gia kỹ thuật được
đào tạo chuyên ngành để kinh
doanh /quản lý rừng.
- Quan tâm bậc 1 của họ là chất
lượng của cây và rừng.
- Là một chức sắc lâm nghiệp
thuần tuý.
- Tầm nhìn chung về sản lượng
bền vững ở khía cạnh của một số
hạn chế lâm sản có giá trị thương
mại cao.
- Không phải là một chức sắc lâm
thống ; trước hết là nhằm sản xuất các
dịch vụ của rừng được xã hội đánh giá
và bảo toàn tính chỉnh thể của hệ sinh
thái.
- Chiến lược Cơ bản là đơn giản hoá (đơn giản
hoá tổ thành loài, chuyển từ hệ
sinh thái rừng tự nhiên hỗn loài,
khác tuổi thành các hệ sinh thái
rừng trồng đồng loài, đồng tuổi )
Cơ bản là đa dạng hoá hệ thống nhằm
đạt được sự bình đẳng, đa dạng sinh
học và sự bền vững
để đạt hiệu quả sản xuất
- Các chương trình Được thiết kế chuyên đề và nói
chung là để thúc đẩy một hoặc vài
mục tiêu kinh tế được định hướng
Thiết kế tổng hợp để thúc đẩy các hệ
thống đa mục tiêu.
- Hệ thống quản lý
hành chính
Được đặc trưng bởi sự tập trung
hoá quyền lực và trách nhiệm
trong tay nhà nước; quyết định từ
trên xuống, và thông tin một chiều
Được đặc trưng bởi sự phân quyền và
trách nhiệm, cũng như dân chủ hoá các
chức năng cho các cấp địa phương,
quyết định từ dưới lên và thông tin đa
chiều.
- Thể chế Quan liêu, cứng nhắc Mở, linh hoạt, độc lập và là bộ phận
này có thể hiểu quản lý hệ sinh thái trong tình hình hiện nay như sau: "Quản lý hệ sinh thái là một
tiếp cận hướng đích nhằm phục hồi và bền vững hoá cấu trúc, chức năng và giá trị của hệ sinh
thái bằng các ứng dụng các khoa học tiên tiến nhất đồng thời với các kiến thức bản địa. Nó đòi
hỏi sự hợp tác giữa chính quyền Trung ương, các bộ tộc và chính quyền địa phương, các nhóm
cộng đồng, các chủ đất tư nhân, và các đối tác khác nhằm phát triển một tầm nhìn cho điều kiện
các hệ sinh thái mong đợi trong tương lai. Tầm nhìn này nhất thể hoá các nhân tố slnh thái, kinh
tế và xã hội ảnh hưởng đến các đơn vị quản lý được xác định bằng ranh giới sinh thái chứ không
phải ranh giới hành chính. Mục đích là khôi phục và bảo toàn chất lượng các hệ sinh thái đồng
thời với việc cung cấp cho kinh tế và văn hoá xã hội của các cộng đồng và toàn xã hội."Hiện tại
quản lý hệ sinh thái đã được ứng dụng trong quản lý tài nguyên thiên nhiên ở các nước phát triển
và đang phát triển và không chỉ cho các hệ sinh thái cạn mà còn cho các hệ sinh thái biển, bờ biển
và kể cả các lưu vực đầu nguồn.
Theo nhận thức ngày nay thì bản chất và nội dung của ngành lâm nghiệp là ở chỗ: tạo ra sự tối ưu
cho sức sản xuất tổng hợp của hệ sinh thái rừng phù hợp với các nhu cầu của xã hội loài người.
Sức sản xuất tổng hợp của các hệ sinh thái rừng (Gr) bao gồm 5 hợp phần sau đây:
(1) Chức năng sản xuất (hay chức năng kinh tế) Gkt: thể hiện ở khả năng sản xuất ra các lâm sản
(gỗ và lâm sản ngoài gỗ) có giá trị thương mại và giá trị sử dụng vật chất.
(2) Chức năng phòng hộ Gph: thể hiện ở khả năng bảo vệ không gian sống, không gian sản xuất
trước các nguy cơ của thiên tai lũ lụt, hạn hán, sạt lở, tiếng ồn
(3) Chức năng môi sinh Gms: thể hiện ở khả năng tái tạo và điều hoà các nhân tố cơ bản của sự
sống như nước, không khí, khí hậu, đất đai
(4) Chức năng giải trí Ggl: thể hiện ở khả năng khôi phục sức khoẻ, giảm stress, thư giãn tinh
thần cho con người.
(5) Chức năng bảo tồn đa dạng sinh học: Gđash: thể hiện ở khả năng bảo vệ và duy trì đa dạng
sinh học bảo đảm cho sự bền vững của quá trình tiến hoá.
Các chức năng riêng biệt này của hệ sinh thái rừng không thể thay thế lẫn nhau. Về thứ tự tầm
quan trọng của mỗi chức năng thì phụ thuộc vào điều kiện kinh tế-xã hội của từng vùng, từng
quốc gia, từng giai đoạn phát triển. ở nước ta trong giai đoạn trước mắt thì chức năng kinh tế có
tầm quan trọng thứ nhất. Tuy nhiên tầm quan trong của các chức năng sẽ thay đổi theo sự phát
triển của đất nước. Có thể sắp xếp vị trí tầm quan trọng của 5 chức năng trên đây từ việc suy
- Chức năng bảo vệ đa dạng loài và các hệ sinh thái rừng cho đến nay chưa được ghi nhận trực
tiếp trong luật phát triển rừng. Nó phải được trở thành không chỉ là một bộ phận mà là bộ phận cơ
bản của luật phát triển bảo vệ rừng, trong tương lai, khái niệm rừng và các mục đích của nó phải
được định nghĩa mới: rừng là một hệ sinh thái với các điều kiện lập địa trong thế cân bằng động,
trên cơ sở của một quẩn hệ thực vật: (i) có độ tán che ít nhất 30% (ii) trong mỗi thành phần của
hệ mỗi loài có quyền riêng chiếm lĩnh một không gian để tồn tại và sinh sản bảo vệ đa dạng hệ
sinh thái, (iii) rừng phải được giữ ở một tỷ lệ tối thiểu cần thiết cho qui mô toàn cầu quốc gia và
từng vùng (40-60%), (iv) việc sử dụng trực tiếp rừng cho mục đích sản xuất, du lịch, nghỉ ngơi
chỉ được phép thực hiện trong khuôn khổ của cơ chế tự điều chỉnh của hệ sinh thái sử dụng bền
vững.
- Các giá trị phi vật chất của rừng cho đến nay vẫn chưa được xác định giá trị, do đó giá trị tổng
thể của rừng được đánh giá thấp hơn giá trị thật của nó. Các chủ rừng đã không được trả cho các
dịch vụ phi vật chất của rừng mà nhiều người thụ hưởng. Cần phải nghiên cứu các phương pháp
xác định các giá trị môi trường, phòng hộ của rừng thông qua các chi phí trực tiếp để quản lý
các khu rừng đó; những chính sách điều chỉnh thích hợp để những người sử dụng các giá trị của
rừng trả cho chủ rừng. Ví dụ các công ty kinh doanh thuỷ lợi, thuỷ điện phải trả cho các ban
quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn để họ bảo toàn tác dụng điều tiết, giữ nước cho các công trình
đó.
Cần có chính sách tạo ra thị trường cho những người hưởng dụng các giá trị của rừng một cách
có ý thức; để các tiềm năng giá trị đa chức năng của rừng được chuyển thành giá trị có tính
thương mại. Các công ty thuỷ điện, thuỷ lợi, du lịch là những khách hàng sử dụng các giá trị
phi vật chất của rừng.
- Các qui hoạch phát triển lãnh thổ. Cần xác định lại một cách chính xác các chức năng của rừng
cho từng địa phương để làm cơ sở cho việc xác định giá trị và điều chỉnh các giá trị phi vật chất
của rừng.
- Thực tiễn xây dựng rừng cho đến nay không đáp ứng được các chỉ tiêu đa chức năng, cũng như
các chỉ tiêu bền vững cho các chức năng đó, có nghĩa là: Sản xuất gỗ chỉ có thể trong phạm vi: (i)
Bảo toàn nguồn gen và khả năng tự điều chỉnh của hệ sinh thái, (ii) tạo được khối lượng và chất
lượng nước và không khí sạch, (iii) thực hiện được các nhu cầu bảo vệ cần thiết, (iv) có cấu trúc
hấp dẫn về phong cảnh cho du lịch.
1. Côn trùng sản xuất và tập hợp các sản phẩm có lợi làm hàng hoá buôn bán:
- Chất tiết côn trùng tạo ra tơ tằm, sáp ong, cánh kiến.
- Côn trùng có ích: phấn son lấy từ xác con rệp Cochineal, sâu non côn trùng làm thức ăn và mồi
câu.
- Côn trùng tập hợp, tinh chế và tồn giữ các sản phẩm từ hoa: mật ong.
2. Côn trùng góp phần tạo ra các sản phẩm: rau, hoa, quả, hạt bằng việc thụ phấn cho cây.
Nhiều thực vật được thụ phấn nhờ côn trùng và chính nhờ có côn trùng ong bướm thụ phấn mà
năng suất quả, hạt đã tăng lên nhiều lần.
3. Cơ thể côn trùng được sử dụng làm thực phẩm đối với con người và động vật nuôi:
- Chúng là thức ăn cho nhiều loài cá, nhiều loài chim, gà rừng, gà tây, một số động vật hoang dã
ăn côn trùng mà điển hình là động vật ăn sâu như tê tê, kỳ đà và đặc biệt chúng còn là thực phẩm
có nhiều axit amin, nhiều chất dinh dưỡng và các hoạt chất sinh học như mối, kiến, châu chấu,
dế, sâu non cánh cứng, nhộng tằm, cà cuống, bọ xít v.v
4. Côn trùng là thiên địch, ký sinh để tiêu diệt các loài sâu hại:
Riêng đối với cây ăn quả có múi đến nay đã phát hiện được 92 loài thiên địch ký sinh mà điển
hình là côn trùng thuộc các họ Mantidae, Carabidae, Coccinellidae, Reduvỹdae, Ichneumonidae,
Braconidae, Chalcididae, Vespidae.
5. Côn trùng huỷ diệt các loại cỏ có hại cho mùa màng
- Côn trùng ăn cỏ và một số loài côn trùng tích luỹ nguồn bệnh cho mùa màng.
6. Côn trùng cải thiện các điều kiện vật lý và tăng độ phì của đất
- Côn trùng đào bới làm cho đất thông thoáng; số lượng côn trùng chết làm tăng lượng chất hữu
cơ. Côn trùng cũng giống như giun đất làm thay đổi cấu tạo vật lý của đất bón phân và cải tạo
đất. Đó là các loài ong, kiến, mối, sâu non Bộ cánh cứng, bộ cánh vảy, Bộ cánh giống v.v
7. Côn trùng góp phần phân huỷ xác động thực vật:
Chúng ăn những chất thải, cặn bã của động thực vật và biến thành nguồn dinh dưỡng cho thực vật
phát triển như các loài mối, sâu non bộ 2 cánh, sâu non Bộ cánh cứng.
8. Côn trùng là đối tượng để tiến hành nghiên cứu khoa học về sinh lý, sinh thái, sinh hoá, di
truyền, phỏng sinh học v.v
- Nghiên cứu đặc tính di truyền trên ruồi dấm (Drosophila melanogasder).
- Nghiên cứu về phân bố địa lý, sự đa dạng sinh học và côn trùng là vật chỉ thị cho môi trường.
rừng ngập mặn.
- Các loại rừng trồng Bồ đề, Phi lao, Bạch đàn, Mỡ, Quế, Hồi, Thông, Keo, Tếch v.v
+ Côn trùng gây hại cây nông nghiệp:
- Côn trùng hại cây lương thực như lúa, ngô, khoai.
- Côn trùng hại rau.
- Côn trùng hại đậu, đỗ.
- Côn trùng hại cây công nghiệp: Bông, mía, lạc, cà phê, chè.
+ Côn trùng hại cây ăn quả: cam, chanh, quýt, bưởi, nhãn, vải.
2. Côn trùng gây hại cho người và động vật:
+ Côn trùng ký sinh: như chấy, rận, bọ chét, rệp, ve, mọt ruồi ký sinh, giòi v.v
+ Côn trùng truyền bệnh cho người và động vật đáng kể là bệnh sốt vàng, bệnh sốt rét, bệnh sốt
phát ban đỏ đã giết chết hàng triệu người trong chiến tranh. Bệnh dịch hạch được truyền bệnh từ
bọ chét.
+ Côn trùng có lông độc, chất độc v.v
3. Nhóm côn trùng phá hoại kho tàng, bảo tàng: Các loại kiến mối, mọt thường phá hoại vật
chất chúng sử dụng gấp nhiều lần so với nhu cầu thực tế cần cho chúng dinh dưỡng. Theo thống
báo của FAO sự thiệt hại về trọng lượng là 34% ở các kho chứa ngũ cốc, ngoài ra chúng còn làm
giảm phẩm chất hàng hoá, làm mất giống má cho vụ sau v.v
IV. Những loài côn trùng có trong sách đỏ và những loài quý hiếm ở Việt Nam cần được tiến
hành nghiên cứu bảo tồn
1. Eupatorus gracilicornis Agrow