i
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ ĐỒ THỊ iii
TỪ VIẾT TẮT iv
TÓM TẮT v
LỜI GIỚI THIỆU 1
A. TỔNG QUAN CÁC LÝ THUYẾT ĐỊNH GIÁ 2
1. Các mô hình định giá theo tài chính hiện đại/ Tài chính tân cổ điển 2
1.1. Mô hình CAPM 2
1.2. Mô hình APT (Arbitrage Pricing Theory) 3
2. Những hạn chế của mô hình định giá tân cổ điển 4
2.1. Các phát hiện thực nghiêm về những bất thường 4
2.2. Giới hạn về kinh doanh chênh lệch giá 7
2.3. Những thất bại của các mô hình tân cổ điển 8
3. Lý thuyết định giá bằng tài chính hành vi 9
3.1. Tài chính hành vi là gì? 9
3.2. Các nghiên cứu về định giá bằng mô hình tài chính hành vi 10
B. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
1. Phương pháp nghiên cứu và phương pháp thu thập, xử lý sô liệu 13
1.1. Phương pháp nghiên cứu 13
1.2. Phương pháp xử lý số liệu: 13
2. Mô hình định giá quán tính hành vi 15
2.1. Giới thiệu: 16
2.2. Mô hình định giá quán tính hành vi cho giá chứng khoán 19
2.3. Ứng dụng mô hình tại Việt Nam: 20
3. Kiểm định thị trường hiệu quả 21
3.1. Cách tiến hành- Cơ sở lý luận 22
3.2. Kiểm định tính dừng của chuỗi logP 23
3.3. Kiểm định các tính chất của u(t) 23
3.3.1 Tự tương quan 24
Phụ lục 3: Các bảng về kiểm định tính hiệu quả của thị trường chứng khoán Việt
Nam 6
Phụ lục 4: Kết quả kiểm định tính dừng các biên P, MV, BM, beta trong mô hình
quán tính hành vi 17
iii DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH VẼ
Danh mục bảng
Bảng 1: Kết quả hồi quy mô hình quán tính hành vi
Bảng 2: Kết quả kiểm định tính quán tính của mô hình, tính tự tương quan và
phương sai thay đổi của phần dư
Bảng 3: Kiểm định nghiệm đơn vị
Bảng 4: Kết quả hồi quy mô hình Famma & French
Bảng 5: Kết quả kiểm định đa cộng tuyến
Bảng 6: Kết quả kiểm định tự tương quan LM
Bảng 7: Kết quả kiểm định phương sai thay đổi White
Bảng 8: Kết quả kiểm định phân phối chuẩn
Bảng 9: Kiểm định khả năng dự báo của mô hình quán tính hành vi
Bảng 10: Kiểm định khả năng dự báo của mô hình Famma & French
Bảng 11: Kiểm định tương quan tuyến tính
Bảng 12 : Kiểm định đoạn mạch
Bảng 13: Kiểm định BDS
Bảng 14: Kiểm định Lo và Mackinlay
Bảng 15: Kiểm định nghiệm đơn vị ADF & MV cho BETA
Bảng 16: Kiểm định nghiệm đơn vị ADF & MV (BETA âm)
Danh mục hình vè
Hình 1: Quan hệ giữa Tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu và β
Hình 2: Chỉ số S&P thực (đường nét liền p) và S&P tính theo phương pháp chiết
TÓM TẮT ĐỀ TÀI
1. Lý do chọn đề tài
Việc định giá chứng khoán vô cùng quan trọng trong quyết định đầu tư, tuy nhiên
các phương pháp định giá phô biến trước đây lại không phù hợp với diều kiện thực
tiễn ở Việt Nam và gặp khá nhiều hạn chế. Vì thế việc tìm ra một mô hình định giá
mới phù hợp với tình hình thị trường chứng khoán Việt Nam là vô cùng thiết thực.
Từ nhu cầu thực tiễn, chúng tôi thực hiện bài nghiên cứu này nhằm giới thiệu một
mô hình định giá mới phù hợp hơn, thực tiễn hơn và có khả năng áp dụng tốt tại
Việt Nam.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Bài nghiên cứu này được thực hiện nhằm trả lời cho câu hỏi: Liệu có “mô hình định
giá chứng khoán dựa vào hành vi nhà đầu tư” nào áp dụng phù hợp với điều kiện
thị trường Việt Nam không?
3. Phƣơng pháp nghiên cứu
3.1. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phần mềm Eview 5.2, Eview 7.0 được sử dụng để tiến hành hồi quy và thực hiện
các kiểm định.Để kiểm tra điều kiện áp dụng của mô hình chuyên đề kiểm định tính
hiệu quả của thị trường chứng khoán Việt Nam và 30 chứng khoán mẫu. Sau đó tiến
hành hồi quy mô hình quán tính hành vi và thực hiện các kiểm định để đảm bảo mô
hình có ý nghĩa. Cuối cùng sử dụng khả năng dự báo để so sánh hai mô hình: mô
hình quán tính hành vi và mô hình ba nhân tố Famma and French để cho thấy mô
hình quán tính hành vi vừa có ý nghĩa hồi quy vừa có khả năng dự báo tốt.
3.2. Phƣơng pháp xử lý số liệu:
Dữ liệu trong bài nghiên cứu được lấy từ đầu năm 2008 đến hết tháng 2 năm 2012.
Số liệu chủ yếu sử dụng trong bài được cung cấp từ trang web www.cophieu68.com
Chúng tôi sử dụng dữ liệu trên trang web này là vì các số liệu được cung cấp khá
đầy đủ và chính xác, đồng thời chỉ tiêu giá cũng đã được điều chỉnh.
vi
hồi quy và kiểm định mô hình ba nhân tố Fama và French và chỉ số dùng để so
sánh khả năng dự báo của hai mô hình
- Phần 3 tổng kết các kết quả chạy hồi quy và kiểm định cho các mô hình ở
phần 2. Kết quả cho thấy ở Việt Nam có thể áp dụng mô hình quán tính hành
vi, mô hình này cũng có khả năng dự báo tốt hơn mô hình ba nhân tố của Fama
và French.
Cụ thể các phần nhƣ sau:
A- Phần 1: Tổng quan các lý thuyết định giá
Phần này bài nghiên cứu được viết theo cấu trúc
1. Các mô hình định giá theo tài chính hiện đại/ Tài chính tân cổ điển
1.1. Mô hình CAPM
1.2. Mô hình APT (Arbitrage Pricing Theory)
2. Những hạn chế của mô hình định giá tân cổ điển
2.1. Các bất thường và các câu hỏi
2.2. Những thất bại của các mô hình tân cổ điển
3. Lý thuyết định giá bằng tài chính hành vi
3.1. Tài chính hành vi là gì?
3.2. Các nghiên cứu về định giá bằng mô hình tài chính hành
Phần này chúng tôi dành để nói về hai mô hình định giá phổ biến của tài chính tân
cổ điển: mô hình CAPM và mô hình đa nhân tố. Dù cơ sở lý thuyết vững chắc
nhưng các mô hình này cũng không tránh khỏi những hạn chế. Các bất thường và
các câu đó được phát hiện thông qua các nghiên cứu thực nghiệm. Bài nghiên cứu
này đề cập đến: hiệu ứng quy mô, hiệu ứng tháng Giêng, hiệu ứng tuần, hiệu ứng
giá trị, hiệu ứng đảo ngược, hiệu ứng xu thế, câu đố về phần bù vốn cổ phần, câu đố
về sự biến động vượt mức. Nhiều nghiên cứu được tiến hành để giải quyết các hạn
chế trên. Xong vẫn còn hạn chế chưa được giải quyết, chẳng hạn đối với bất thường
của mô hình CAPM: hiệu ứng quy mô, hiệu ứng giá trị được giải thích bằng mô
viii
(2)
Trong đó:
Xt: biến giải thích;
: hệ số hồi quy;
: hệ số tự hồi quy của Ct;
ϵ
t
: yếu tố ngẫu nhiên trong phương trình tự hồi quy của Ct.
Sau khi lấy ln: Chạy hồi quy và kiểm định mô hình:
it
Để kiểm định tính quán tính ta kiểm định giả thiết Ho:
(tổng
các hệ số tự hồi quy bằng 1)
Điều kiện áp dụng mô hình: Thị trường chứng khoán đạt hiệu quả dạng yếu hoặc
không hiệu quả dạng yếu
Ứng dụng mô hình tại Việt Nam
lnP
t
=
0
+
1
lnP
t-1
+
2
lnP
t-2
+
3
lnBM +
4
lnMV +
5
lnbeta +
6
lnbetaneg +v
t
Khi hệ số beta âm thì khi đó hệ số B
5
=0,khi đó lnbetaneg sẽ bằng log cơ số tự
nhiên trị tuyệt đối của beta. Khi beta dương thì hệ số B
6
=0.
Kiểm định quán tính hành vi: H
0
: β
1
+ β
2
=1.
Điều kiện áp dụng mô hình: Thị trường chứng khoán đạt hiệu quả dạng yếu hoặc
không hiệu quả dạng yếu.
Kiểm định thị trƣờng hiệu quả
Theo EMH trong thị trường hiệu quả dạng yếu dữ liệu quá khứ được phản ánh đầy
đủ vào giá cả ngày hôm nay, không thể tạo được các siêu TSSL liên tục bằng cách
nghiên cứu TSSL quá khứ. Giá cả sẽ theo một bước ngẫu nhiên, tức:
P
t
= P
t-1
5. Đóng góp của đề tài
- Về mặt lý luận bài nghiên cứu cho chúng ta cái nhìn tổng quát và sâu sắc hơn
về lý thuyết định giá chứng khoán bằng tài chính hiện đại. Ngoài ra thông
qua mô hình quán tính hành vi giúp ta hiểu và tiếp cận gần hơn với xu hướng
mới trong tài chính: tài chính hành vi.
- Về mặt thực tiễn bài nghiên cứu đóng góp một mô hình định giá chứng khoán
sát với điều kiện thị trường Việt Nam cho các nhà đầu tư cá nhân. Hơn nữa
thông qua kết quả kiểm tra điều kiện thực tiễn của thị trường Việt Nam các nhà
đầu tư và các nhà hoạch định chính sách sẽ có cái nhìn đúng đắn hơn về chiến
lược đầu tư cũng như các giải pháp điều chỉnh thị trường của mình.
6. Hƣớng phát triển của đề tài
Đề tài có thể được phát triển theo hai hướng sau:
Áp dụng mô hình quán tính hành vi cho giai đoạn khủng hoảng và sau khủng
hoảng để cho thấy sự phù hợp và khả năng giải thích của mô hình trong từng
hoàn cảnh kinh tế khác nhau.
Ngoài ra chúng ta có thể tạo ra mô hình mới bằng cách đưa tỷ suất sinh lợi thời kỳ t-
1 và t-2 vào mô hình ba nhân tố Fama và French và tiến hành kiểm định so sánh sự
phù hợp và khả năng giải thích của mô hình mới này so với mô hình ba nhân tố ban
đầu của Fama và French.
xii
A. TỔNG QUAN CÁC LÝ THUYẾT ĐỊNH GIÁ
Phần này sẽ điểm lại nền tảng lý thuyết truyền thống về định giá, những vấn đề gặp
phải khi áp dụng những mô hình định giá truyền thống (các bất thường), những giải
thích cho các bất thường bằng lý thuyết tài chính tân cổ điển để đưa ra một cái nhìn
tổng quát về sự ra đời của lý thuyết định giá chứng khoán bằng tài chính hành vi.
Và cuối cùng là phần tổng quan về sự phát triển các nghiên cứu định giá bằng tài
chính hành vi.
4. Các mô hình định giá theo tài chính hiện đại/ Tài chính tân cổ điển
1.3. Mô hình CAPM
Mô hình CAPM được giới thiệu bởi Sharpe (1964) và Lintner (1965), sau đó
Rubinstein (1976), Lucas (1978), và Breeden (1979) đã mở rộng thành mô hình
CAPM.
Giả sử rằng thị trường là hiệu quả và nhà đầu tư đa dạng hoá danh mục đầu tư sao
cho rủi ro phi hệ thống không đáng kể. Như vậy, chỉ còn rủi ro toàn hệ thống ảnh
hưởng đến TSSL của cổ phiếu. Cổ phiếu có β càng lớn thì rủi ro càng cao, do đó,
đòi hỏi TSSL cao để bù đắp rủi ro. Theo mô hình CAPM, mối quan hệ giữa TSSL
và rủi ro được diễn tả bởi công thức sau
(*)
Trong đó, R
i
= E(r
i
) +
i1
F
1
+
i2
F
2
+ … +
im
F
k
+
i
i=1, 2, …., n
Khi đa dạng hóa danh mục tốt và không tồn tại kinh doanh chênh lệch giá thìTSSL
mong đợi của tài sản i:
E(r
i
) = r
f
+
i1
RP
1
+
i2
4 TSSL mong đợi của danh mục mô phỏng có độ nhay cảm đơn vị (unitary
sensitivity) với nhân tố k và có độ nhạy cảm bằng 0 đối với các nhân tố khác
Các nhân tố k có tương quan với nhau và không tương quan với , trung bình của F
bằng 0. Lý thuyết của Ross không nói rõ nhân tố F là những nhân tố nào và số
lượng bao nhiêu. Việc chọn lựa 2 vấn đề trên để đưa vào mô hình là hết sức nan giải
vì đưa nhiều nhân tố vào mô hình không phải lúc nào cũng làm gia tăng khả năng
giải thích của mô hình mà có thể góp phần gây nhiễu làm giảm khả năng dự báo của
mô hình, ngoài ra việc đo lường một số nhân tố phi định lượng như: niềm tin, chính
trị, lòng tham, tâm lý đám đông… cũng gặp nhiều khó khăn. Đã có nhiều nghiên
cứu
1
về vấn đề này nhưng chung quy lại thì việc chọn lựa nhân tố và số lượng vẫn
dựa vào người sử dụng mô hình.
Lý thuyết APT không đòi hỏi những giả định nghiêm ngặt của CAPM (như danh
mục thị trường, TSSL tuân theo phân phối chuẩn, NĐT có thể đi vay và cho vay ở
mức lãi suất phi rủi ro, hàm hữu dụng), nhưng vẫn cần một số giả thiết khác được
yêu cầu, đó là: thị trường vốn là thị trường hoàn hảo; số lượng tài sản lớn, được giả
định là lớn hơn số nhân tố k. Danh mục được đa dạng hóa tốtε là nhân tố nhiễu
được suy ra từ hệ số không tương quan để ε 0 đối với danh mục lớn. Danh mục
thị trường sẽ được đa dạng hóa tốt nếu không có tài sản nào chiếm tỷ trọng lớn
trong tổng tài sản; tồn tại số lượng lớn các nhà đầu tư ngại rủi ro kỳ vọng thuần nhất
và thích tài sản ít rủi ro hơn và có hàm hữu dụng tuân theo hàm hữu dụng
Neumann-Morgenstern
5. Những hạn chế của mô hình định giá tân cổ điển
2.1. Các phát hiện thực nghiêm về những bất thƣờng
Hiệu ứng quy mô: được phát hiện đầu tiên bởi Banz (1981) và Reinganum (1981).
Những công ty có vốn hóa nhỏ trên NYSE từ 1936-1976 có TSSL thực cao hơn
năm) có TSSL mong đợi cao hơn TSSL dự đoán theo mô hình CAPM và ngược lại
đối với những cổ phiếu làm ăn tốt. Cứ mỗi 3 năm từ 1926 đến 1982, De Bondl và
Thaler (1985) sắp xếp dữ liệu chứng khoán giao dịch ở NYSE bằng TSSL tích lũy
trong 3 năm để hình thành danh mục “thắng cuộc” của 35 chứng khoán có kết quả
tốt nhất và danh mục “thua cuộc” với 35 chứng khoán xấu nhất. Rồi hai ông đo
lường TSSL trung bình của những danh mục này trong 3 năm tiếp và đã phát hiện
ra là trong suốt thời kì nghiên cứu TSSL hàng năm của danh mục thua cuộc cao hơn
danh mục thắng là 8%/năm
Hiệu ứng xu thế (momentum effect): Jegadeesh và Titman (1993) phát hiện ra
những người đánh bại thị trường gần đây trong quá khứ có TSSL cao hơn so với
6 những người thua cuộc trong quá khứ khoảng 10%/năm trong vòng 3 đến 12 tháng
tới.
Câu đố về phần bù vốn cổ phần (The equity premium puzzle): Mehra và
Prescott đã đưa ra những luận cứ mạnh mẽ cho rằng những mô hình kinh tế phổ
biến không có khả năng giải thích TSSL chứng khoán và của trái phiếu ngắn hạn.
Quan sát dữ liệu từ 1889 đến 1978 họ phát hiện ra TSSL thực trung bình 1 năm của
chứng khoán là 6,98% trong khi TSL thực trung bình 1 năm của trái phiếu là 0,8%.
Phần chênh lệch giữa 2 TSSL này được gọi là phần bù vốn cổ phần. Với ý nghĩa
định lượng cổ phiếu không đủ rủi ro với phần bù ấn tượng 6,18%/năm.
Câu đố về sự biến động vƣợt mức (The volatility puzzle)
Biến động vượt mức là mức biến động hơn mức được dự đoán theo lý thuyết thị
trường hiệu quả.
Hình 2: Chỉ số S&P thực (đƣờng nét liền p) và S&P tính theo phƣơng pháp
chiết khấu dòng cổ tức những năm sau đó (đƣờng nét đứt p*)
Năm 1981 Robert Shiller đã so sánh giá thực tế của cổ phiếu với giá tính bằng chiết
khấu cổ tức. Trong hình vẽ trên đường p mô tả chỉ số S&P500 từ 1870, đường p
bóng giá ở Nhật (thập niên 1980), Đài Loan (1990), cổ phiếu công nghệ truyền
thông của Mỹ (1999-2000),… cũng là mình họa cho hạn chế này.
2.3. Những thất bại của các mô hình tân cổ điển
Đối với bất thường của mô hình CAPM: hiệu ứng quy mô, hiệu ứng giá trị được
giải thích bằng mô hình đa nhân tố mà cụ thể là mô hình 3 nhân tố Fama and
French. Nhưng mô hình của Fama-French vẫn không không giải thích được hiệu
ứng xu thế và hiệu ứng đảo ngược trong ngắn hạn
Các kết quả của mô hình Fama và French (1992) đòi hỏi cần có một mô hình thay
thế phù hợp với hành vi tài chính trên thị trường chứng khoán.Mô hình Fama và
French được xây dựng trong khuôn khổ tân cổ điển với nền tảng lý thuyết vững
chắc, tuy nhiên có nhiều hạn chế về mặt thực nghiệm. Cách tiếp cận tân cổ điển áp
đặt giả định nghiêm ngặt về hành vi kinh tế; chẳng hạn giả định về tính hợp lý hoàn
hảo. Trong thực tế thì không tồn tại một sự hoàn hảo như vậy. Với giới hạn thời
gian, trí tuệ và sự hợp lý, các cá nhân thường không đạt đến trạng thái tối đa hóa
hàm mục tiêu mà đạt đến giá trị tốt nhất. Với những nguyên nhân khách quan giá trị
tố ưu chưa chắc đạt được. Ví dụ trong các thị trường vốn, trong khi các nhà đầu hợp
lý hướng tới giá trị cân bằng, hoạt động kinh doanh của nhà đầu tư không hợp lý
đẩy thị trường đi xa điểm cân bằng. Các mức giá cân bằng là trung bình cộng niềm
tin của nhà đầu hợp lý và không hợp lý, và ảnh hưởng của mỗi nhóm phụ thuộc vào
khả năng chịu đựng rủi ro của nhóm đó. Do đó, kinh doanh chênh lệch giá sẽ không
loại trừ việc định giá sai(mispricing). Kinh doanh chênh lệch giá không hiệu quả,
nhà đầu tư sẽ gặp khó khăn trong việc tìm hiểu liệu các nhà đầu tư khác phát hiện
ra việc định giá sai và hành động hay chưa.
Việc định giá sai có thể xảy ra bởi vì một số thông tin có liên qua được phổ biến
rộng rãi hoặc là bị bỏ qua hoặc bị lạm dụng bởi nhà đầu tư dẫn đến giá cả thị trường
thường xuyên mâu thuẫn với cơ bản giá trị. Các nhà kinh tế học tân cổ điển lập luận
cho sự tồn tại của cân bằng đã có niềm tin to lớn vào khả năng học hỏi của con
9
lý có thể có ảnh hưởng đáng kể đến giá chứng khoán. Đây chính là giới hạn của
kinh doanh chênh lệch giá. Để ra những dự đoán đúng đắn, mô hình TCHV thường
cần phải xác định hình thức của những nhà đầu tư không hợp lí (the form of agents’
irrationality). Về vấn đề này các nhà kinh tế học hành vi thường chuyển những bằng
chứng thực nghiêm được lập bởi những nhà tâm lý học nhận thức về các xu hướng
phát sinh khi người ta hình thành niềm tin và sở thích, hoặc làm thế nào họ đưa ra
quyết định cho niềm tin của họ.
Tài chính hành vi cố giắng giải thích việc các nhà đầu tư diễn giải và phản ứng như
thế nào với thông tin để ra quyết đầu đầu tư. Các nhà đầu tư không phải luôn luôn
phản ứng hợp lý.Tài chính hành vi nghiên cứu hành vi của các nhà đầu tư dẫn đến
các trường hợp bất thường trên thị trường chứng khoán (anomalies). Tài chính hành
vi cho rằng giá thị trường có sự khác biệt so với giá trị nội tại của cổ phiếu
3.2. Các nghiên cứu về định giá bằng mô hình tài chính hành vi
TheoZin (2002) mục đích của các mô hình tài chính hành vi định giá tài sản là: “mô
hình với các tham số chặt chẽ, có tính đại diện cho các nhà đầu tư, cân bằng tổng
quát có thể giải thích những đặc điểm nổi bật của dữ liệu giá thị trường của tài sản
trong quá khứ” là một mô hình tối ưu.
Sau đây là một số kết luận và mô hình đại diện, phổ biến cho tình hình nghiên cứu ở
từng giai đoạn
Merton (1987) đưa ra mô hình định giá tài sản tĩnh (static asset pricing model) với
thông tin là không hoàn hảo. giả định quan trọng là những nhà đầu tư chỉ chọn
những chứng khoán mà họ biết chắc chắn về nó vào danh mục của mình. Ông bảo
vệ lý thuyết thị trường hiệu quả bằng lập luận của tài chính hành vi, gọi là thông tin
không hoàn hảo trong mô hình CAPM. Ông khẳng định:
● Sự truyền thông tin không hoàn hảo trong các nhà đầu tư gây ảnh hưởng
thực nghiệm mạnh đến TSSL mong đợi đặc biệt là đối với những công ty
nhỏ hơn với các tổ chức nhỏ kèm theo.
● Tuy nhiên trong dài hạn cân bằng trong thị trường hiệu quả cũng được
thiết lập. Hạn chế lớn của mô hình là đây là mô hình tĩnh (static) nên
với cùng chiều TSSL chứng khoán trong ngắn hạn và ngược vơi TSSL dài hạn.
12 Thiếu sót chủ yếu là có bằng chứng thực nghiệm cho thấy một nhóm nhà đầu tư quá
tự tin không thể nhận biết như trên
Brown and Cliff (2004): tồn tại mối quan hệ giữa tâm lý NĐT đến TSSL vốn cổ
phần và tâm lý NĐT được quyết định bởi TSSL
Wang, Keswani and Taylor (2006): tâm lý NĐT chứa thông tin hữu ích cho việc dự
đoán tính biến động hơn là dựa vào TSSL, tức là có mối quan hệ giữa TSSL, tâm lý
nhà đầu tư, tính biến động và trong mô hình định giá tài sản tồn tại quan hệ này.
Hersh Shefrin (2007): Mô hình định giá tài sản có yếu tố hành vi đưa ra danh mục
có phương sai trung bình, TSSL bóp méo hoàn toàn không liên quan đếnTSSL của
danh mục thị trường. Mô hình giúp chúng ta có cách giải thích tạm thời tại sao
phương pháp coskewness
2
cho giá trị dương phù hợp với phần bù rủi ro thấp hơn là
coskewness âm. 2
Coskewness là một phương pháp thống kê tính toán tính đối xứng của phân phối xác suất của một biến liên
quan đến tính đối xứng của phân phối xác suất của biến khác.
13 B. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Phƣơng pháp nghiên cứu và phƣơng pháp thu thập, xử lý sô liệu
1.1. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phần mềm Eview 5.2, Eview 7.0 được sử dụng để tiến hành hồi quy và thực hiện