Đánh giá tác động của các cam kết và nghĩa vụ của việt nam theo hiệp định GATs - Pdf 13


1

HOẠT ĐỘNG: SERV-1
“ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC CAM KẾT VÀ NGHĨA VỤ CỦA VIỆT NAM
THEO HIỆP ĐỊNH GATS”
BÁO CÁO CHÍNH THỨC
Hà Nội, ngày 16/7/2007

Thực hiện:
Chuyên gia EU:
Dietrich Barth - Trưởng nhóm
Andras Lakatos
Claudio Dordi Chuyên gia trong nước:
Tống Thị Hồng Minh (Bộ Tài nguyên và Môi trường)
Bạch Quốc An, Phạm Hồ Hương (Bộ Tư pháp)
Lương Hoàng Thái, Nguyễn Sinh Nhật Tân, Lê Quang
Lân (Bộ Thương mại)
Hà Huy Tuấn (Bộ Tài chính)
Bùi Thiên Sơn (Học viện Tài chính)
Phan Tâm (Bộ Bưu chính Viễn thông)
Nguyễn Gia Hào, Đoàn Ngọc Thanh (Chuyên gia tư vấn

3.7. Độc quyền và các nhà cung cấp dịch vụ độc quyền 37
3.8. Thanh toán và chuyển tiền 38
3.9. Trợ cấp 39
4. CÁC CAM KẾT CHUNG CỦA VIỆT NAM 39
4.1. Các quy tắc GATS về cam kết chung 39
4.2 Cam kết chung của Việt Nam 40
5. CÁC DỊCH VỤ KINH DOANH 53
5.1. Dịch vụ pháp lý 53
5.2 Các dịch vụ kế toán, kiểm toán và ghi sổ kế toán 56
5.3. Dịch vụ thuế 64
5.4 Dịch vụ kiến trúc, dịch vụ tư vấn kỹ thuật và dịch vụ tư vấn kỹ thuật đồng bộ 68
5.5 Dịch vụ máy tính và các dịch vụ liên quan 71
5.6 Dịch vụ thú y 72
5.7 Dịch vụ nghiên cứu và phát triển 72
5.8. Các dịch vụ kinh doanh khác 73
5.9. Dịch vụ liên quan đến khai thác mỏ (CPC 883) 75
6. DỊCH VỤ THÔNG TIN 77
6.1 Các cam kết của Việt Nam về dịch vụ thông tin 77
6.2 Khuôn khổ pháp lý của Việt Nam cho kinh doanh dịch vụ thông tin 79
6.3 Triển khai tiếp theo về pháp lý 83
7 DỊCH VỤ XÂY DỰNG 84
7.1 Các cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực dịch vụ xây dựng 84
7.2 Cơ chế pháp lý của Việt Nam đối với thương mại dịch vụ xây dựng 85
7.3 Triển khai tiếp theo về pháp lý 87
8. DỊCH VỤ PHÂN PHỐI 87
8.1 Cam kết của Việt Nam về dịch vụ phân phối 87
8.2 Cơ chế pháp lý của Việt Nam đối với dịch vụ phân phối 89
8.3 Triển khai tiếp theo về pháp lý 93
9. DỊCH VỤ GIÁO DỤC 98
9.1. Cam kết của Việt Nam về dịch vụ giáo dục 98

KHUYẾN NGHỊ VỀ PHÁP LÝ VÀ QUẢN LÝ 149
MA TRẬN CÁC CAM KẾT VÀ NGHĨA VỤ GATS CỦA VIỆT NAM, CÁC VĂN BẢN
PHÁP LÝ TRONG NƯỚC LIÊN QUAN VÀ CÁC HÀNH ĐỘNG ĐỀ XUẤT
156

4
1. TÓM TẮT
Đây là một hoạt động của Dự án hỗ trợ chính sách thương mại đa biên II (MUTRAP
II), do Bộ Thương mại phối hợp với Phái đoàn của Uỷ ban châu Âu tại Việt Nam thực hiện.
Mục tiêu tổng thể của Dự án MUTRAP là hỗ trợ tăng cường năng lực cho Chính phủ và các
Bộ, ngành hữu quan của Việt Nam trong việc gia nhập WTO, triển khai thực hiện các nghĩa
vụ pháp lý và cam kết của mình
1
. Mục tiêu của hoạt động này là cung cấp thông tin cho các
Bộ, ngành hữu quan về phạm vi và nội dung các nghĩa vụ, cam kết của Việt Nam trong Hiệp
định chung về Thương mại dịch vụ (GATS) khi gia nhập WTO và xác định những luật và quy
định trong nước trong nước và những biện pháp của Chính phủ bị ảnh hưởng bởi các cam kết
và nghĩa vụ này. Hoạt động cũng đưa ra những khuyến nghị đối với việc sửa đổi tiếp theo
những văn bản pháp quy chuyên ngành nhằm thực hiện các nghĩa vụ, cam kết GATS và tự do
hoá lĩnh vực dịch vụ của Việt Nam.
SERV-1 là một trong những hoạt động đầu tiên của MUTRAP được thực hiện sau khi
Việt Nam trở thành thành viên đầy đủ của WTO ngày 11/1/2007. Hoạt động tập trung phân
tích các nghĩa vụ và cam kết về thương mại dịch vụ của Việt Nam và việc thực hiện những
nghĩa vụ, cam kết này. Đối tượng hưởng lợi của hoạt động gồm các Bộ, ngành hữu quan,
cộng đồng doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế - xã hội bị tác động bởi quá trình tự do hóa
thương mại dịch vụ.
Thương mại dịch vụ (TMDV) đã trở thành một nhân tố chính của thương mại quốc tế
và của hệ thống thương mại đa biên. Dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn - vào khoảng 30 - 80% trong
GDP của những nước khác nhau. Tỷ trọng của dịch vụ trong thương mại quốc tế khoảng 20%
và đang có tốc độ tăng trưởng nhanh. Đối với Việt Nam, dịch vụ chiếm khoảng 38% GDP

Ngoài những thông tin do các chuyên gia trong nước cung cấp, các chuyên gia EU còn
khai thác thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm Văn kiện gia nhập, các nghiên cứu
khác của Dự án MUTRAP, các ấn phẩm về thương mại và thông tin do các doanh nghiệp
quốc tế cung cấp. Tuy nhiên, một số thông tin sẵn có của Việt Nam về pháp luật và quy định
liên quan đến GATS chưa đầy đủ và cập nhật. Ngoài ra, rất ít, hoặc không có thông tin liên
quan được cung cấp trong một số lĩnh vực như máy tính và các dịch vụ liên quan, nghiên cứu
và phát triển, thuê/cho thuê, quảng cáo, dịch vụ liên quan đến nông nghiệp, khai mỏ và sản
xuất, một số dịch vụ thông tin cơ bản, xây dựng, môi trường, dịch vụ cụ thể về bảo hiểm,
ngân hàng và tài chính, chứng khoán, dịch vụ vận tải cụ thể .v.v.
Đôi khi, thông tin được cung cấp vào cuối thời gian triển khai hoạt động, đặc biệt là về
các cam kết chung liên quan đến hiện diện thương mại của nhà cung cấp dịch vụ (Phương
thức 3), sự di chuyển của thể nhân (Phương thức 4). Do đó, một số phân tích và khuyến nghị
về chính sách trong nghiên cứu này không đầy đủ và chỉ mang tính tham khảo. Những phân
tích sâu hơn và các hoạt động tiếp theo có thể được thực hiện trong khuôn khổ các hoạt động
khác của Dự án MUTRAP II
2
. Cần có cơ hội để tiếp tục hoàn thiện và cập nhật thông tin,
những phân tích đã được thực hiện trong hoạt động này.
Nghiên cứu được bắt đầu bằng việc rà soát và đánh giá những vấn đề chung liên quan
đến việc thực hiện các nghĩa vụ và cam kết WTO của Việt Nam, bao gồm việc tóm tắt những
quyền và lợi ích của Việt Nam khi gia nhập WTO, để đảm bảo rằng việc gia nhập WTO
mang lại sự cân bằng giữa các nghĩa vụ và quyền lợi của các thành viên. Sau đó, nhóm
chuyên gia sẽ đánh giá yêu cầu đối với Việt Nam trong việc thực hiện những nghĩa vụ của
mình, cả về khía cạnh chính trị và pháp luật. Sau đó, nhóm chuyên gia đánh giá những khó
khăn cụ thể trong việc thực hiện GATS và khung pháp lý của WTO và Việt Nam. Các vấn
đề được xem xét còn bao gồm việc xác định biện pháp và phương pháp tiếp cận tốt nhất trong
việc xây dựng pháp luật theo Nghị quyết 71 của Quốc Hội phê chuẩn Nghi định thư gia nhập
WTO của Việt Nam. Những phương án lựa chọn bao gồm áp dụng trực tiếp những nghĩa vụ
WTO, nội luật hoá, hoặc phương án đẩy nhanh tốc độ thực hiện thông qua việc xây dựng
“một luật để điều chỉnh tất cả các luật” (Omni-bus approach). Báo cáo cũng nghiên cứu

nước có thể giúp giải quyết những vấn đề này.
Dịch vụ thuế
Các dịch vụ thuế chủ yếu được cung cấp bởi các Công ty Kiểm toán, Công ty tư vấn
pháp luật. Do đó, các dịch vụ thuế chịu sự điều chỉnh của một loạt quy định. Theo các tác giả,
những quy định trong lĩnh vực này hiện nay chưa hoàn thiện, khác phức tạp và không cụ thể.
Việc xây dựng và thực thi một Mã số thống nhất điều chỉnh các dịch vụ thuế (kiểm toán, kế
toán, tư vấn thuế, ghi sổ) được khuyến nghị. Ngoài ra, các tiêu chí về trình độ chuyên môn,
quy trình hành nghề kế toán cần được quy định rõ ràng.
Dịch vụ kiến trúc, kỹ thuật và kỹ thuật đồng bộ
Việc phân tích những thông tin sẵn có cho thấy, dường như, Nghị định 88/1999/CP
vẫn yêu cầu thành lập liên doanh để hiện diện thương mại. Nếu đúng như vậy, Quy định này
có thể không phù hợp với các cam kết trong Phương thức 3: các chủ thể kiến trúc nước ngoài
nên được phép cung cấp dịch vụ tại Việt Nam thông qua Hợp đồng Hợp tác - kinh doanh.
Dịch vụ thú y
Nhìn chung, các nguyên tắc và quy định trong nước phù hợp với nghĩa vụ GATS. Tuy
nhiên, thời hạn cụ thể trong việc cấp chứng chỉ hành nghề thú y cho các cá nhân nên được quy
định rõ ràng.
Dịch vụ quảng cáo
Ngoài một số luật và quy định, dịch vụ quảng cáo còn bị điều chỉnh bởi một số “Công
văn” (“Letter”) do đó không đảm bảo minh bạch và tính có thể dự đoán của khung pháp lý.
Khuyến nghị được nêu lên là: “Công văn”, hoặc các biện pháp tương tự có giá trị pháp lý
không rõ ràng cần được thay thế bởi những công cụ khác minh bạch và dễ dự đoán hơn. Điều
18.2 Pháp lệnh Quảng cáo: bắt buộc các tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài phải thuê thể nhân
Việt Nam để tiến hành hoạt động quảng cáo tại Việt Nam: nên được hủy bỏ vì có thể được coi
như không phù hợp với các cam kết trong Phương thức 1.
Dị
ch vụ liên quan đến khai thác mỏ
Nhìn chung, các nguyên tắc và quy định phù hợp với nghĩa vụ GATS. Tuy nhiên, có
quan ngại liên quan đến tính minh bạch của Kế hoạch tổng thể về phát triển ngành khai thác
mỏ. Đồng thời, cũng có quan ngại về thủ tục cấp phép các Dự án - yêu cầu phải có ý kiến của

bán lẻ, đại lý. Tuy nhiên, có một số quan ngại nảy sinh, bao gồm từ phía cộng đồng doanh
nghiệp, về tốc độ xây dựng luật hoặc về một số quy định cụ thể mới được ban hành. Ví dụ, tại
thời điểm thực hiện báo cáo, yêu cầu về “đánh giá nhu cầu kinh tế (Economic need test)”
3

được sử dụng làm cơ sở để cho phép mở thêm các cơ sở thứ 2 trở lên trong chuỗi bán lẻ, vẫn
chưa được xây dựng. Ngoài ra, số lượng đơn yêu cầu cấp phép sẽ tăng lên trong quá trình
thực hiện, quy trình cấp phép cần được minh bạch hoá để phản ánh tốt các cam kết của Việt
Nam trong lĩnh vực này.
DỊCH VỤ GIÁO DỤC
Các quy tắc trong nước về lĩnh vực này nhìn chung có thể đượ
c coi như phù hợp với
các nghĩa vụ trong GATS. Tuy nhiên tiêu chí quy định trong Thông tư liên tịch
14/2005/TTLT-BGD&ĐT-BKH&ĐT chặt chẽ hơn đối với các pháp nhân giáo dục nước
ngoài so với trong nước. Điều này gây quan ngại liên quan đến sự phù hợp của những tiêu chí
đó với các nghĩa vụ về đối xử quốc gia quy định trong GATS.
DỊCH VỤ TÀI CHÍNH
Bảo hiểm
Nhìn chung, các quy tắc trong nước về lĩnh vực này có vẻ phù hợp v
ới các nghĩa vụ
cam kết trong GATS, tuy nhiên có một số quy định có thể được coi là chưa phù hợp với
GATS như:

3
Quyết định số 10/2007/QĐ-BTM của Bộ Thương mại quy định về “kiểm tra nhu cầu kinh tế”, tuy nhiên do mới
được ban hành nên nhóm chuyên gia không có điều kiện nghiên cứu trong báo cáo này.

8
- Có nhiều hạn chế liên quan đến việc gia nhập thị trường của các doanh nghiệp bảo
hiểm nước ngoài và các hạn chế đó chưa được liệt kê trong lộ trình cam kết GATS;

ngoài.
DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG
Việc phân tích nguồn thông tin sẵn có cho thấy hiện Việt Nam không có quy định cụ
thể nào đối với các dịch vụ môi trường. Những nhà cung cấp dịch vụ môi trường nước ngoài,
cũng giống như nhà đầu tư trong các lĩnh vực khác, b
ị điều chỉnh bởi Luật Đầu tư, Luật
Doanh nghiệp và một số Luật, quy định phù hợp khác. Hiện một số hướng dẫn chi tiết trong
lĩnh vực này đang được xây dựng.
DU LỊCH VÀ CÁC DỊCH VỤ LIÊN QUAN ĐẾN LỮ HÀNH
Luật Du lịch có hai quy định nhằm đảm bảo sụ phù hợp của Luật với các cam kết của
Việt Nam trong WTO. Những điều khoản này có thể được nhìn nhận như quá trình nội luật

9
hoá các cam kết và nghĩa vụ GATS của Việt Nam vào luật trong nước. Tuy nhiên cho dù các
điều luật “phù hợp” đó có đầy đủ thế nào đi nữa để đảm bảo sự tuân thủ thì việc thực hiện
chúng trong đời sống vẫn là điều mấu chốt.
DỊCH VỤ GIẢI TRÍ, VĂN HOÁ VÀ THỂ THAO
Pháp luật trong nước đặt trọng tâm vào “các quy định trong nước” mô tả trong điều VI
của GATS. Cho đến nay, pháp luật trong nước chưa thấy có bất cập nào so với các nghĩa vụ
của GATS.
DỊCH VỤ VẬN TẢI
Dịch vụ vận tải bao gồm vận tải biển, hàng không, đường sắt, đường bộ cũng như các
dịch vụ phụ trợ khác cho các dịch vụ vừa nêu. Phân tích ban đầu chưa thấy nổi lên điểm quan
ngại cụ thể nào. Tuy nhiên cần có nghiên cứu tiếp theo để có các phân tích chi tiết. 10
2. GIỚI THIỆU
Vào ngày 11.1.2007, sau gần 12 năm đàm phán, Việt Nam đã chính thức trở thành
thành viên WTO. Kể từ đó, Việt Nam đã bắt đầu tiến trình thực thi các nghĩa vụ và cam kết

có những đóng góp to lớn trong quá trình thực hiện. Trong bất cứ sự kiện nào, cần hiểu rõ
ràng rằng Chính phủ Việt Nam có toàn quyền đưa ra quyết định về việc thực hiện những điều
chỉnh pháp lý liên quan đến quá trình thực thi các nghĩa vụ và cam kết GATS.
2.2. Lợi ích và quyền lợi của Việt Nam khi gia nhập WTO
Sẽ rất hữu ích nếu chúng ta có cái nhìn tổng quát về những quyền và lợi ích của Việt
Nam khi gia nhập WTO trước khi phân tích cụ thể về các nghĩa vụ và cam kết WTO của Việt
Nam. Điều này là cần thiết khi mà nhiều nhà quan sát đôi khi nêu lên nhiều câu hỏi rằng liệu
có tố
t không khi tham gia vào quá trình tự do hoá thương mại quốc tế và phản đối những
nghĩa vụ và gánh nặng kinh tế liên quan đến nó, trong khi đó bỏ qua thực tế rằng việc gia
nhập WTO đồng thời mang lại cho đất nước rất nhiều lợi ích kinh tế và quyền được tham gia
vào hệ thống thương mại đa phương. Trên thực tế, những lợi ích do hệ thống thương mại đa
phương và tự do hoá thương mại toàn cầu, được bắt đầu từ khi thành lập GATT vào năm

11
1948, mang lại cho các thành viên tham gia đã được chứng minh và công nhận rộng rãi trên
khắp thế giới.
Từ thực tế đó, Việt Nam đã nỗ lực đàm phán trong suốt 12 năm để trở thành thành
viên của WTO. Vào tháng 11.2006, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Văn kiên gia nhập
WTO. Trong suốt quá trình đàm phán, Việt Nam đã tham khảo kinh nghiệm của nhiều quốc
gia đang phát triển và những quốc gia có nền kinh tế chuyển đôi đã gia nhập WTO trong thập
kỷ gần đây. Vậy đâu là lợi ích và quyền từ việc gia nhập WTO khiến tất cả các quốc gia đó lại
muôn gia nhập hệ thống thương mại đa phương?
4

Những lợi ích nổi bật nhất khi là thành viên WTO có thể được tóm tắt như sau:
- Hệ thống WTO giúp ngăn ngừa và giải quyết các xung đột thương mại. Vì vậy nó
thúc đẩy hoà bình.
- Các tranh chấp thương mại có thể được giải quyết một cách hiệu quả và mang tính
xây dựng. Đặc biệt, Hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO giúp các nước nhỏ

gia đang phát triển. Thông tin và đánh giá về những vấn đề đó có thể được tìm thấy trên trang web của WTO
cũng như các tổ chức quốc tế và quốc gia khác.

12
Những kinh nghiệm trong việc thực hiện nghĩa vụ và cam kết trong thương mại hàng
hoá cũng sẵn có (và nhiều) như trong thương mại dịch vụ. Về lĩnh vực xuất khẩu, cơ hội cho
các nhà cung cấp dịch vụ của Việt Nam được cải thiện hơn thông qua việc tiếp cận thị trường
của 149 quốc gia WTO khác dựa trên nguyên tắc đối xử tối huệ quốc, ví dụ về xuất khẩu dịch
vụ du lịch, giao thông và viễn thông. Nhìn chung, các nước đang phát triển có lợi thế cạnh
tranh trong các ngành dịch vụ thuê nhiều lao động hoặc cần có các nhân viên kỹ thuật tay
nghề cao.
Về nhập khẩu, lợi ích chính từ tự do hoá dịch vụ ở các nước đang phát triển dự kiến sẽ
đạt được nhờ tăng hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp/nhà cung cấp dịch vụ thông qua
việc gia tăng cạnh tranh ở thị trường trong nước. Sự tham gia của các nhà cung cấp dịch vụ
nước ngoài ở những lĩnh vực như viễn thông, ngân hàng, bảo hiểm, môi trường và giao thông
sẽ buộc các nhà cung cấp dịch vụ trong nước, vốn quen với môi trường được bảo hộ cao, sẽ
phải cải thiện khả năng cạnh tranh bằng cách cung cấp các dịch vụ giá cả cạ
nh tranh hơn, chất
lượng tốt hơn. Chính sự cải thiện trong ngành dịch vụ sẽ mang lại lợi ích không chỉ cho công
chúng nói chung, mà còn cho các doanh nghiệp nông sản và chế tạo xuất khẩu.
Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (GATS) được xây dựng dựa trên nhiều quy
tắc và nguyên tắc có xem xét và đáp ứng các nhu cầu và mang lại những ưu đãi cho các quốc
gia đang phát triển :
- Trước hết, GATS chỉ áp d
ụng đối với các dịch vụ có thể được kinh doanh thương
mại (commercially tradable services). Nó không áp dụng đối với những dịch vụ
được cung cấp bởi các cơ quan Chính phủ (dịch vụ công), các quyền về giao thông
hàng không (trừ dịch vụ bổ trợ), những biện pháp có thể ảnh hưởng tới tiếp cận thị
trường của thể nhân, các biện pháp liên quan đến quyền (tư cách) công dân, người
cư trú hay người lao động dài hạn.

- đối xử quốc gia, và
- các quy định điều chỉnh cam kết và nhượng bộ có thể đàm phán.
Hơn thế, hệ thống GATS ưu đãi cho các quốc gia đang phát triển - cũng như bất cứ
thành viên nào khác - quyền được có các ngoại lệ đối với các nguyên tắc và quy định của
GATS:
- sự miễn trừ khỏi các quy tắc MFN (Việt Nam đã đưa ra một số đề nghị);
- quyền được đưa ra một số biện pháp nhằm đảm bảo an toàn cho lĩnh vực tài chính
(“prudential carve-out”);
- quyền được áp đặt các nghĩa vụ dịch vụ chung và phân phối các nguồn lực khan
hiếm trong lĩnh vực viễn thông;
- những ngoại lệ chung và ngoại lệ về an ninh đối với toàn bộ hiệp định.
Các mục tiêu và quy tắc phát triển cũng là chủ đề chính trong các vòng đàm phán dịch
vụ trong khuôn khổ Vòng đàm phán Doha. Các quốc gia đang phát triển - vốn chiếm tới 2/3
số lượng các thành viên WTO - sẽ có những ảnh hưởng quan trọng tới kết quả của đàm phán
dịch vụ. Việt Nam, sau khi trở thành thành viên mới của WTO, có thể tham gia tích cực vào
các vòng đàm phán này.
Toàn bộ các quy tắc của GATS đã được áp dụng trong quá trình đàm phán việc gia
nhập WTO của Việt Nam, ngoại trừ sự linh hoạt mà Việt Nam nhận được trao để quyết định
về phạm vi và chiều sâu của các cam kết của mình.
Trong quá trình tham gia các vòng đàm phán, Việt Nam đã cân nhắc những lo ngại về
tiến trình thực thi GATS dựa trên những đánh giá về tiềm lực chính trị và kinh tế của mình.
Tuy nhiên, ở bất cứ thời điểm nào trong tương lai trong quá trình thực hiện nghĩa vụ và cam
kết GATS, nếu Việt Nam phát hiện ra rằng các cam kết GATS của họ vượt quá năng lực thực
hiện, GATS quy định một số biện pháp và cách thức để đối phó với những tình huống khẩn
cấp khác nhau:
- GATS cho phép áp dụng những hạn chế nhập khẩu dịch vụ trong tình huống
nghiêm trọng ảnh hưởng tới cán cân thanh toán hoặc gặp phải các khó khăn tài
chính bên ngoài, hoặc các mối đe doạ liên quan. Tuy nhiên, các điều kiện chặt chẽ
trong việc áp dụng những hạn chế thương mại ngoại lệ này cần phải được tuân thủ
chặt chẽ.

phải thực thi trong khuôn khổ pháp lý quốc gia tất cả những nghĩa vụ và cam kết WTO, bao
gồm các cam kết trong Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ.
Về nội dung này, cần lưu ý rằng GATS được áp dụng đối với tất cả các “biện pháp” có
thể có ảnh hưởng đối với thương mại dịch vụ bởi một thành viên WTO. Thuật ngữ “biện
pháp” có nghĩa bất cứ biện pháp nào bởi một thành viên, trong ý nghĩa rộng nhất có thể, dù
dưới dạng luật, quy định, nguyên tắc, thủ tục, quyết định, biện pháp hành chính hoặc bất cứ
dạng nào khác.
7
Ngoài ra, quy định này áp dụng đối với các biện pháp được thực hiện bởi bất
kỳ cấp cơ quan Chính phủ nào, bao gồm: “các biện pháp được áp dụng bởi Chính quyền trung
ương, khu vực hoặc địa phương, các cơ quan phi Chính phủ thực hiện những quyền do Chính
quyền trung ương, khu vực hoặc địa phương trao cho”
8
. Điều này mang ý nghĩa quan trọng
đối với Việt Nam, vì việc đàm phán, ký kết và thực thi các hiệp định WTO thuộc thẩm quyền
của Chính phủ trung ương, tuy nhiên, ứng dụng thực tế luật pháp quốc gia được phân cấp cho
các chính quyền địa phương. Để đáp lại những nghi ngại của các thành viên WTO khác, Việt
Nam đã cam kết đối với Nhóm Công tác (Working Party) trong việc áp dụng các điều khoản
của các Hiệp định WTO, bao gồm Văn kiện gia nhập, một cách đồng bộ trên khắp lãnh thổ.
Về nội dung này, Việt Nam khẳng định với các thành viên WTO rằng, để đảm bảo việc áp
dụng đồng bộ, Việt Nam đã thiết lập các cơ chế phù hợp nhằm xác định và làm mất hiệu lực
các văn bản pháp quy không phù hợp với các nghĩa vụ, cam kết của mình do các Cơ quan cấp 5
Về vấn đề khung pháp lý tham khảo mục 2.5 dưới đây
6
Chương XIV (2) của Hiệp định thành lập WTO; về vấn đề khung pháp lý của Việt Nam về thực thi tham khảo
mục 2.5 dưới đây
7

của Việt Nam, cần đảm bảo và mong đợi rằng những quy định nhằm thực hiện nghĩa vụ cam
kết WTO của Việt Nam cần phải tuân thủ và phù hợp với phần lớn các nghĩa vụ và cam kết
quốc tế. Đây cũng là kinh nghiệm của phần lớn các quốc gia khác. Kinh nghiệm đó đã được
thừa nhận trong Nghị quyết số 71 của Quốc hội. Nghị quyết quy định rõ rằng, trong trường
hợp quy định của WTO không “chi tiết và rõ ràng một cách thích đáng” để có thể áp dụng
trực tiếp, Chính phủ sẽ dự thảo và trình các văn bản pháp luật lên Quốc hội nhằm “sửa đổi, bổ
sung hoặc ban hành các văn bản pháp luật phù hợp với các cam kết WTO của Việt Nam theo
thẩm quyền”.
Th
ực thi WTO có hiệu quả yêu cầu đánh giá pháp lý chi tiết, hành động pháp lý cụ thể
và triển khai các cam kết và nghĩa vụ WTO. Các thành viên WTO sẽ giám sát điều này một
cách kỹ lưỡng. Trong một số trường hợp, thông qua cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO,
họ có thể thực thi những quyền lợi thương mại của mình đối với Việt Nam.
Nhìn chung, tiến trình thực hiện là rất rộng và phức tạp vì nhiều lý do:
- Các nghĩa vụ chung trong GATS, như quy chế đối xử tối huệ quốc, minh bạch
hoá… và các cam kết đàm phán chung về tiếp cận thị trường và đối xử quốc gia có
ảnh hưởng rộng đến các quy tắc và thực tiễn chung của hệ thống chính quyền và
pháp lý của Việt Nam, ví dụ những nghĩa vụ liên quan đến luật doanh nghiệp, đầu
tư trực tiếp nước ngoài, cạnh tranh và cư trú t
ạm thời của thể nhân (natural
persons) cung cấp dịch vụ tại Việt Nam.
- Các cam kết lĩnh vực cụ thể (sector-specific commitments) áp dụng với 11 lĩnh
vực dịch vụ và khoảng 110 phân ngành (trên tổng số 155 phân ngành theo phân

9
Báo cáo của Nhóm Công tác về gia nhập của Việt Nam, tài liệu WTO WT/ACC/VNM/48/Add. 1, Đoạn 131,
132
10
Tham khảo báo cáo của các chuyên gia trong nước trang 2; phần I:3, III:1; III:2:a…


chính và tác động của các cam kết GATS của Việt Nam. Một ví dụ khác là Nghị định số 59/2006/NĐ-CPngày
12/6/2006 hướng dẫn chi tiết Luật Thương mại liên quan đến hàng hoá và dịch vụ cấm buôn bán, đối tượng bị
h
ạn chế buôn bán hoặc buôn bán có điều kiện.
13
Những vấn đề đó bao gồm: các thủ tục cấp phép trong ngành viễn thông và chuyển phát nhanh (Báo cáo WP
Đoạn 479); giá sàn đối với các cuộc gọi quốc tế đến Việt Nam và phân phối cuộc gọi bởi quota trong số 6 nhà
cung cấp Việt Nam (Đoạn 480), các điều kiện về thành lập ngân hàng liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài
(Đoạn 483), các yêu cầu vốn tối thiểu đối với chi nhánh ngân hàng nước ngoài (Đoạn 484, 485), tiêu chí cấp
phép đối với dịch vụ bảo hiểm (Đoạn 488), thông tin về thay đổi quy định đối với các công ty bảo hiểm nước
ngoài (Đoạn 489), minh bạch hoá trong quy định về dịch vụ bảo hiểm (Đoạn 491), quy định tương lai về chi
nhánh trực tiếp của các công ty bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài (Đoạn 494), giới hạn vốn và đánh giá nhu cầu
kinh tế đối dịch vụ giao thông (Đ
oạn 496), tái phân bổ vốn bên trong một liên doanh (Đoạn 498), tiếp cận thị
trường đối với dịch vụ bán lẻ (Đoạn 499), các yêu về cầu biểu quyết đối với những loại hình doanh nghiệp khác
nhau (Đoạn 502), sửa đổi Điều lệ của các liên doanh (Đoạn 503), công bố các luật, quy định (Đoạn 506), các
quy tắc rất chi tiết về thủ tục cấp phép (Đ
oạn 507) và sự độc lập của các cơ quan lập pháp (Đoạn 508). 17
Bộ Kế hoạch và Đầu tư, và bởi các chuyên gia trong nước từ nhiều Bộ/ ngành khác
nhau tham gia các hoạt động khác nhau của Dự án MUTRAP
14
. Thương mại dịch
vụ được điều chỉnh bởi một số lượng lớn các tài liệu pháp quy phức tạp và được
ban hành bởi nhiều cấp Chính quyền khác nhau, bao gồm Luật, Pháp lệnh do Quốc
hội và Ủy ban thường vụ của Quốc hội ban hành Nghị định, Quyết định của Chính
phủ và Thủ tướng Chính phủ, Thông tư và Quyết định của các Bộ. Những văn bản
pháp quy này điều chỉnh các lĩnh vực khác nhau của luật pháp và có ảnh hưởng

hiện các hình thức kinh doanh khác nhau, trong đó có lĩnh vực dịch vụ. Về nguyên
tắc, GATS không ngăn cấm các yêu cầu về cấp phép, tuy nhiên thủ tục phải tuân
thủ khuôn khổ Chương VI của GATS về “quy định trong nước” và khi chúng
không vi phạm các cam kết tiếp cận thị trường đang tồn tại.
- Tuy nhiên, có những nghi ngờ liệu một số các yêu cầu pháp quy đó có phù hợp với
yêu cầu trong Chương VI GATS là “hợp lý, khách quan và công bằng” (mặc dù rất
khó để dự đoán làm cách nào những quy định chung này của GATS được
hiểu/diễn giải trong những trươ
ng hợp giải quyết tranh chấp WTO trong tương lai).

14
Tham khảo Báo cáo của nhóm chuyên gia trong nước của Hoạt động này (phần III.1) và Báo cáo Hoạt động
HOR-1 “Nâng cao hiệu quả lập pháp liên quan đến thương mại”
15
Tham khảo Bản tin doanh nghiệp VCCI số 14, tháng 6/2006, tác giả: Phạm Duy Nghĩa, ĐHQG Việt Nam
16
Diễn đàn kinh doanh Việt Nam, Hà Nội, 30/5/2007

18
Một số yêu cầu về cấp phép còn có thể xung đột với cam kết tiếp cận thị trường và
các cam kết đối xử quốc gia cụ thể mà Việt Nam đã cam kết. Và một lần nữa, hậu
quả không thể bác bỏ của việc này là cộng đồng doanh nghiệp có thể phàn nàn về
tính không rõ ràng của hệ thống pháp luật.
17

- Trước những nghi ngại này, Việt Nam đã có các cam kết ràng buộc và rõ ràng về
thủ tục cấp phép trong lĩnh vực dịch vụ
18
. Đại diện của Việt Nam đã khẳng định
với Nhóm công tác về việc gia nhập WTO của Việt Nam rằng: “Việt Nam sẽ đảm

17
Tham khảo Diễn đàn kinh doanh Việt Nam, Hội nghị giữa kỳ nhóm tư vấn các nhà tài trợ, Hà Nội, 30/5/2007,
18
Tham khảo Báo cáo của Nhóm công tác (Chú thích 8), Đoạn 507
19
Tham khảo Bộ Kế hoạch Đầu tư và UNCTAD, Khung khổ chung đối với chiến lược quốc gia trong lĩnh vực
Dịch vụ tại Việt Nam tới năm 2020 (tác giả: Tiến sĩ Dorothy Riddle, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyen Hong Son, Tiến sĩ
Cristina Hernandez), Hà Nội, tháng 6/2006

19
- FDI trong ngành dịch vụ đang gia tăng trên toàn cầu, tuy nhiên tại Việt Nam FDI
trong ngành dịch vụ vẫn còn thấp và các quy định đối với FDI vẫn tiếp tục gây ra
những hạn chế việc tiếp cận thị trường.
- Sự phát triển các dịch vụ yêu cầu cơ chế về phối hợp trong việc lên kế hoạch và
thực hiện hiệu quả; tuy nhiên việc phối hợp và giám sát vẫn còn yếu.
- Vào thời điểm thực hiện nghiên cứu, khung pháp lý của Việt Nam vẫn còn chưa
hoàn chỉnh và chưa được thực thi một cách nhất quán. Các bước cụ thể để khắc
phục vấn đề sẽ được xác định dựa trên nghiên cứu sâu hơn, rộng hơn để xác định
khoảng trống, các mâu thuẫn và những yếu kém trong việc thi hành đối với mỗi
phân ngành trong lĩnh vực dịch vụ.
Tất cả những điều này có nghĩa rằng tiến trình thực hiện các cam kết và nghĩa vụ
GATS của Việt Nam sẽ cần nhiều nỗ lực, thời gian và nguồn lực hơn
20
Số lượng và khối
lượng công việc đó vẫn là một câu hỏi.
2.5. Khung pháp lý đối với việc thực hiện các cam kết và nghĩa vụ GATS của Việt
Nam
21

Hiệp định Marrakesh năm 2005 về thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (Chương

22
Tham khảo Chương 26 và 27của Công ước Vienna về Luật các hiệp ước.

20
Mối quan hệ giữa các hiệp ước quốc tế và luật trong nước của Việt Nam và việc thực
hiện các hiệp ước quốc tế trong luật trong nước được nhắc đến trong nhiều đoạn của Báo cáo
của Nhóm Công tác:
- Đoạn 112 nói về quyền của Chủ tịch Nước trong việc phê chuẩn hoặc chấp nhận
tham gia các hiệp ước quốc tế, ngoại trừ những hiệp ước phải chờ quyết định của
Quốc hội.
- Đoạn 113 về thẩm quyền của Chính phủ đối với các chính sách đối ngoại, đàm
phán, ký kết và thực hiện các hiệp ước quốc tế.
- Đoạn 118 mô tả Luật Hiệp ước 2005 của Việt Nam như một bộ luật đặc biệt về các
vấn đề hiệp ước và thảo luận các vấn đề pháp l ý liên quan đến hiệp ước quốc tế.
Điều này dẫn tới kết luận rằng Văn kiện gia nhập WTO có thể được thông qua bởi
Quốc hội hoặc Chủ tịch nước. Luật yêu cầu tất cả các hiệp ước quốc tế cần được
công bố.
- Đoạn 119 là cam kết rõ ràng của Việt Nam về việc làm cách nào để các hiệp ước
quốc tế và nghĩa vụ WTO được thực thi tại Việt Nam. Trong nội dung về thực thi
WTO, có 4 cam kết cơ bản: Trước tiên, Quốc hội sẽ thông qua Văn kiện gia nhập,
dù Luật Hiệp ước quy định rằng các hiệp ước quốc tế có thể được phê chuẩn bởi
Quốc hội hoặc Chủ tịch Nước. Thứ hai, tại cùng thời điểm phê chuẩn, Quốc hội
phải quyết định cách thức thực thi cam kết WTO: Qua việc áp dụng trực tiếp
hoặc/và chuyển các cam kết WTO sang luật trong nước (bằng cách sửa đổi những
luật hiện hành hoặc xây dựng các luật mới). Thứ 3, trong trường hợp có xung đột
giữa luật trong nước và cam kết WTO về cùng nội dung, cam kết WTO sẽ được áp
dụng. Cuối cùng, việc phát triển luật trong nước không được gây ra những trở ngại
đối với thi hành các cam kết WTO.
- Cuối cùng, đoạn 479 trong Báo cáo của Nhóm Công tác mô tả việc thông qua Văn
kiện gia nhập WTO của Việt Nam là nền tảng pháp lý cho việc ban hành các quy

mạnh hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới.
Chính phủ tiến hành các thủ tục đối ngoại về việc phê chuẩn Nghị định thư gia nhập
Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩ
a Việt
Nam.
Chính phủ phối hợp với Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ đạo các
cơ quan, tổ chức hữu quan ở trung ương và địa phương thực hiện tốt công tác thông tin tuyên
truyền để tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động của nhân dân cả nước cũng như
đồng bào ta ở nước ngoài về việc Việt Nam gia nhập Tổ chức th
ương mại thế giới.
Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, các đoàn đại
biểu Quốc hội và các đại biểu Quốc hội trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình giám
sát việc thực hiện Nghị quyết này.”
Thi hành các nghĩa vụ và cam kết WTO của Việt Nam sẽ là một yếu tố quan trọng của
Chương trình Pháp luật Quốc hội (NA).
23
Tháng 11 năm 2006, Quốc hội đã thông qua
Chương trình xây dựng Luật và Pháp lệnh năm 2007.
24
Chương trình bao gồm 21 luật, 14
pháp lệnh và nghị quyết trong Danh mục các Dự án chính thức, và 16 luật trong Danh sách
các Dự án dự phòng. Trong phiên họp đầu tiên của nhiệm kỳ XII, Quốc hội cũng thông qua
Chương trình làm Luật và Pháp lệnh trong 5 năm tới và năm 2008.
Trong lĩnh vực pháp Luật Thương mại quốc tế, Việt Nam đã đạt được tiến bộ đáng kể
trước khi gia nhập WTO. Việt Nam cũng đã thông qua nhiều cả
i cách pháp lý trong thời gian
chuẩn bị gia nhập năm 2005 và 2006. Là lần đầu tiên trong lịch sử chỉ trong vòng 1 năm pháp
lý, Quốc hội Việt Nam đã thực thi 29 luật và góp ý cho 10 dự thảo luật. Trong số các luật mới
được thực thi, 2/3 liên quan trực tiếp tới hội nhập kinh tế quốc tế và gia nhập WTO. Công cụ


gia nhập WTO.
Nguyên tắc ưu tiên luật điều ước quốc tế hơn luật và quy định trong nước thường được
viện dẫn để cho rằng thi hành luật WTO ở Việt Nam đang được triển khai tốt. Tuy nhiên, trên
thực tế, không rõ nguyên tắc này đảm bảo thi hành hoàn toàn luật WTO đến mức độ nào.
Trong báo cáo nêu trên (chú thích 13), Ngân hàng Thế giới cho rằng mặc dù Luật Điều ước
quy định ưu tiên điều ước quốc tế hơn luật trong nước, tuy nhiên Luật này “không thực sự xác
định được vị trí của điều ước quốc tế trong hệ thống luật Việt Nam, Hiến pháp Việt Nam cũng
không xác định được điều này”. Hệ thống pháp lý của Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào thi
hành luật pháp và các quy định, thậm chí là đối với luật và quy định trong nước. Trong quá
trình thực thi luật và quy định đó, sẽ không dễ gì áp dụng nguyên tắc ưu tiên điều ước quốc tế
hơn luật trong nước. Tóm lại, nguyên tắc đó không giải thích được chi tiết việc áp dụng thực
tế đang được quy định trong các văn bản thực thi. Thêm vào đó, việc ưu tiên các điều ước
quốc tế được quy định trong Luật Điều ước bị nghi ngờ bởi thực tế là nhiều luật và các văn
bản pháp lý trong nước xung đột với các nghĩa vụ WTO vẫn được thực thi và tiếp tục tồn tại.
Ngoài ra, cũng không rõ là nguyên tắc ưu tiên này trên thực tế được thực thi như thế nào, liệu
các nhà ban hành luậ
t của các ngành và các cơ quan quản lý ở khắp nước có biết điều này
không và cơ quan nào đưa ra quyết định cuối cùng trong trường hợp có xung đột đó. Các
chuyên gia Việt Nam đã khẳng định những nghi ngờ này và chỉ ra thực tế rằng không có toà
nào quyết định điều đó.
Những đề xuất khác nhau về chương trình xây dựng pháp luật trong Nghị quyết Quốc
hội số 71/2006 cần được chú ý hơ
n:
- Theo Luật Điều ước, có thể áp dụng trực tiếp điều ước quốc tế ở Việt Nam nếu
điều ước “đủ chi tiết và rõ ràng”. Nghị quyết Quốc hội quy định rõ việc áp dụng
một số nghĩa vụ WTO của Việt Nam. Do vậy, một số (hạn chế) những thay đổi
pháp lý liệt kê trong Phụ lục Nghị quyết thực sự có thể được áp dụng trực tiếp. Cụ
thể, một số thay đổi trong Luật Doanh nghiệp, Luật Luật sư, Luật Doanh nghiệp
bảo hiểm, Luật về các Luật, Luật Sở hữu trí tuệ và Luật Điện ảnh có thể được áp
dụng trực tiếp. Ngoài các trường hợp áp dụng trực tiếp, Nghị quyết Quốc hội kêu

lý phải làm theo Hiệp định WTO và nghị định thư gia nhập WTO của Việt Nam. Bộ Tư pháp
đã nhấn mạnh những ưu điểm của cách thức xây dựng luật này. Ưu điểm là tốc độ quá trình
thực thi nhanh và cách triển khai các nghĩa vụ WTO thống nhất theo một quan điểm chính
sách của Chính phủ. Mặt khác, sự phức tạp của hầu hết các luật và nghĩa vụ WTO, đặt biệt là
của GATS, sẽ làm cho việc triển khai các cam kết theo một luật chung (omnibus) sẽ rất khó
tiến hành nhanh
26
.
Sự cần thiết để áp dụng thống nhất luật thực thi WTO đã được giải quyết trong luật
Việt Nam thậm chí trước khi Việt Nam gia nhập WTO. Trong quá trình đàm phán gia nhập,
các Thành viên WTO yêu cầu Việt Nam phải cam kết cụ thể về vấn đề này. Các cuộc đàm
phán đã đề cập đến các thay đổi pháp lý và thi hành của các cơ quan và quan chức chính phủ.
Kết quả là, Luật Ban hành văn bản thi hành luật pháp luậ
t đã được sửa đổi năm 2002 và nhiều
quy định thực thi đã được ban hành sau đó. Bênh cạnh đó, Luật Ban hành văn bản thi hành 25
Một ví dụ điển hình là Điều 6.1 Hiệp định GATS quy định là “Trong những ngành có đưa ra cam kết cụ thể,
mỗi Thành viên phải đảm bảo rằng các biện pháp áp dụng chung ảnh hưởng đến thương mại dịch vụ phải được
quản lý một cách hợp lý, khách quan và công bằng”. Không có Hiệp định WTO nào giải thích như thế nào là hợp
lý, khách quan và công bằng.

26
Viện Khoa học Luật Ngân hàng Thế giới, Nghiên cứu: Có thể sử dụng Kỹ thuật xây dựng luật chung
(Omnibus ) để thực thi các cam kết và nghĩa vụ WTO của Việt Nam, Washington, Hà Nội, tháng 3/2006; Lê Đức
Mạnh, “Áp dụng Kỹ thuật xây dựng luật chung (Omnibus )”, Hà Nội, 2007, đóng góp vào hoạt động dự án
Mutrap “Nâng cao chất lượng luật liên quan đến thương mại”, có tại dự án Mutratrang

24

Hoạt động này được chuẩn bị bởi một báo cáo của các chuyên gia trong nước. Báo cáo
này có tại văn phòng Dự án MUTRAP. Các chuyên gia EU thảo luận báo cáo này với các
chuyên gia trong nước, xác định những câu hỏi mở và các công việc cần phải tiến hành nh
ằm
cải thiện những thông tin sẵn có. Các chuyên gia EU cũng đã rất nỗ lực thu thập thêm thông
tin từ các nguồn đã được công bố. Họ cũng tham vấn những người hưởng lợi quốc tế khác
tích cực trong lĩnh vực ban hành chính sách thương mại, đặc biệt là Phái đoàn EC và Phái
đoàn các thành viên EC ở Việt Nam, Uỷ ban Thương mại EU, Dự án cải cách luật Canada và
Dự án USAID STAR-Việt Nam
3. CÁC NGHĨA VỤ CHUNG TRONG GATS
3.1. Phạm vi áp dụ
ng của GATS
Theo Điều 1 GATS, Hiệp định áp dụng cho tất cả các dịch vụ được tiến hành thương
mại. Ngoại lệ là những dịch vụ được cung cấp thực hiện thẩm quyền của Chính phủ mặc dù
các Thành viên WTO có quyền đàm phán các cam kết tiếp cận thị trường đối với những
ngành này. Các ngoại lệ lệ khác liên quan đến quyền vận tải hàng không (được quy định trong
các hiệp định vận tải hàng không song phương) và các biện pháp liên quan đến tiếp cận các

27
Tham khảo Đoạn 132, 134, WPR
28
Tài liệu WT/ACC/VNM/48/Add.2 ngày 27/10/2006

25
thị trường lao động, công việc vĩnh viễn, di dân và cư trú ở nước ngoài. GATS áp dụng cho
tất cả các “biện pháp” của một Thành viên WTO ảnh hưởng đến thương mại dịch vụ, bao gồm
các biện pháp ở bất kỳ hình thức nào - luật, quy định, thủ tục, quyết định, hành động hành
chính, hoặc bất kỳ dạng nào khác. Định nghĩa “các biện pháp” bao gồm các biện pháp ở tất
các các cấp chính phủ- trung ương, tỉnh và địa phương. Điều này đặc biệt quan trọng với Việt
Nam - một nước có mức độ phân cấp thẩm quyền hành chính cao. Như đã nêu ở trên (chú

luật của Việt Nam. Cung cấp dịch vụ bao gồm các hoạt động thương mại trong đó một bên
(dưới đây gọi là nhà cung cấp dịch vụ) cung cấp một dịch vụ cho một bên khác và nhận được
tiền thanh toán. Bên sử dụng dịch v
ụ (dưới đây gọi là khách hàng) có nghĩa vụ phải trả cho
nhà cung cấp dịch vụ và có quyền sử dụng dịch vụ mà hai bên thống nhất. Điều 75 của Luật
Thương mại đề cập các Phương thức cung cấp dịch vụ như sau:

29
Tham khảo sách xuất bản bởi MUTRAP và Bộ Thương mại, Hưóng dẫn các cam kết của Việt Nam về thương
mại dịch vụ trong WTO, Hà Nội, 2006

Trích đoạn Cam kết chung của Việt Nam Các dịch vụ kế toán, kiểm toán và ghi sổ kế toán Dịch vụ thuế Dịch vụ kiến trúc, dịch vụ tư vấn kỹ thuật và dịch vụ tư vấn kỹ thuật đồng bộ Dịch vụ thú y
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status