Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ ( thực trang phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ ở việt nam) - Pdf 13

Mục lục
Danh mục từ viết tắt……………………………………………………………… 2
Danh mục các bảng và đồ thị……………………………………………………….2
A.Lời nói đầu……………………………………………………………………….3
B.Nội dung………………………………………………………………………….4
Chương 1: Lý thuyết……………………………………………………………… 4
1.1 Khái quát chung về chính sách tài khóa…………………………………… 4
1.1.1 Khái niệm……………………………………………………………4
1.1.2 Mục tiêu của chính sách tài khóa……………………………………4
1.1.3 Công cụ của chính sách tài khóa…………………………………….5
1.2 Khái quát chung về chính sách tiền tệ…………………………………… 6
1.2.1 Khái niệm…………………………………………………………….6
1.2.2 Mục tiêu của chính sách tiền tệ………………………………………6
1.2.3 Các công cụ của chính sách tiền tệ……………………………………7
1.3 Mối quan hệ giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ………………11
Chương 2: Thực trạng phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiên tệ của Việt
Nam……………………………………………………………………………….…12
2.1. Thực trạng………………………………………………………………… 12
2.2. Giải pháp tăng cường sự phối hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền
tệ……………………………………………………………………………….…….22
C. Kết luận…………………………………………………………………….…….23
Danh mục tài liệu tham khảo……………………………………………………… 24
Danh mục từ viết tắt:
Chính sách tài khóa ( CSTK)
1
Chính sách tiền tệ ( CSTT)
Ngân Hàng Trung Ương ( NHTW)
Ngân hàng thương mại ( NHTM)
Xã hội chủ nghĩa ( XHCN)
Doanh nghiệp nhà nước (DNNN)
Ngân hàng nhà nước (NHNN)

thu hẹp và chính sách tài khóa trung lập.
-Chính sách tài khóa mở rộng là chính sách tang cường chi tiêu của chính phủ hoặc
giảm bớt nguồn thu từ thuế hoặc kết hợp cả 2. Việc này sẽ dẫn đến thâm hụt ngân sách
hoặc giảm thặng dư của ngân sách.
-Chính sách tài khóa thu hẹp là chính sách trong đó chi tiêu của chính phủ ít đi
thông qua việc tăng thu từ thuế hoặc giảm chi tiêu của chính phủ hoặc phối hợp cả 2.
-Chính sách tài khóa trung lập là chính sách cân bằng ngân sách. Chi tiêu của chính
phủ hoàn toàn được cung cấp bởi các nguồn thu từ thuế.
1.1.2. Mục tiêu của chính sách tài khóa:
3
Nội dung cơ bản của chính sách tài khóa là kiểm soát thu chi ngân sách do các
khoản thu chi này có tác động trực tiếp tới tăng trưởng, lạm phát và nhiều chỉ số
kinh tế vĩ mô khác. Vì thế, chính sách tài khóa là 1 trong những chính sách quan
trọng với việc ổn định và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô. Một chính sách tài khóa
vững mạnh sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và làm cơ sở để các doanh nghiệp đưa
ra các quyết định đầu tư lớn. Trong mối quan hệ với giá cả, chính sách tài khóa là
một trong những nguyên nhân cơ bản của lạm phát, một sự lới lỏng chính sách tài
khóa đều gây áp lực tăng giá cả hàng hóa dịch vụ trên hai kênh là thúc đẩy tăng
tổng cầu và tài trợ thâm hụt.
1.1.3. Công cụ của chính sách tài khóa
α. Hai công cụ của chính sách tài khóa là chi tiêu của chính phủ và hệ thống thuế.
Những thay đổi về mức độ, thành phần của thuế và chi tiêu chính phủ có thể ảnh
hưởng tới các biến số sau trong kinh tế:
+ Tổng cầu và mức độ hoạt động kinh tế.
+ kiểu phân bố nguồn lực
+ Phân phối thu nhâp
β. Nguyên tắc thực hiện:
Chính sách tài khóa sử dụng chi tiêu chính phủ và các chương trình thuế để kính
thích nền kinh tế quốc gia trong thời gian thất nghiệp cao và lạm phát thấp (nền
kinh tế suy thoái), hoặc để xoa dịu nền kinh tế trong thời kỳ lạm phát cao và thất

1.2.2. Mục tiêu của chính sách tiền tệ
5
+ Ổn định tiền tệ, ổn định giá cả, ổn định tỷ giá hối đoái: Thực chất của mục
tiêu này là kiểm soát lạm phát để bảo vệ giá đối nội và đối ngoại của đồng tiền
quốc gia. Đây là mục tiêu hàng đầu của chính sách tiền tệ.
+ Ổn định và thúc đẩy phát triển kinh tế: Đây là mục tiêu cơ bản và tất yếu của
chính sách tiền tệ. Muốn ổn định và thúc đẩy phát triển kinh tế cần phải khuyến
khích mở rộng đầu tư bằng cách khai thác các nguồn vốn tiềm năng trong nước
và nước ngoài.
+Tạo công ăn việc làm cho người lao động, ổn định trật tự xã hội: Ở nước ta,
trong 3 nhân tố thuộc yếu tố cung là lao động, nguồn vốn và tiến bộ kỹ thuật thì
yếu tố lao động có tiềm năng lớn nhất. Vì vậy, để thúc đẩy phát triển kinh tế với
thì chính sách tiền tệ phải khai thác tối đa lực lượng lao động tro xã hội, còn tiền
tệ và tín dụng là chất xúc tác quan trọng. Tuy nhiên cần lưu ý rằng sử dụng
chính sách tiền tệ để tạo công ăn việc làm, giảm thất nghiệp thì rất có thể đi đến
tình trạng lạm phát cao. Vấn đề quan trọng ở chỗ là làm thế nào để vừa kiềm chế
và kiểm soát được lạm phát vừa tạo được công ăn việc làm.
Người ta cho rằng, nếu duy trì lạm phát ở một tỷ lệ vừa phải thì hình như đó lại
là liều thuốc kích thích tăng trưởng kinh tế.
1.2.3. Các công cụ của chính sách tiền tệ
α. Các công cụ trực tiếp:
+Ấn định lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay :
NHTW có thể ấn định lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay và bắt buộc các
NHTM áp dụng khi muốn tăng mức cho vay NHTW hạ lãi suất tiền gửi và tiền
cho vay. Công cụ này có ưu và nhược điểm:
Ưu điểm: NHTW có thể tác động trực tiếp đến các dự án đầu tư bằng các điều
kiện tín dụng
6
Nhược điểm: Lãi suất được ấn định có thể không phù hợp với nền kinh tế gây
khó khăn cho việc thực hiện các dự án đồng thời tính linh hoạt của thị trường

Tóm lại, trong nền kinh tế thị trường các công cụ trực tiếp thường được áp dụng
trong những trường hợp nhất định. NHTW thường sử dụng các công cụ gián
tiếp để điều hành chính sách tiền tệ.
β. Các công cụ gián tiếp
+Quy định tỷ lệ dự trữ pháp định
Là phương thức quản lý khối lượng tiền trong lưu thông bằng các quy định tỷ lệ
mà các NHTM được phép cho vay khi nhận được 1 khối lượng tiền gửi, tỷ lệ dự
trữ pháp định là tỷ lệ % trên số tiền gửi mà 1 NHTM nhận được phải gửi vào
Tài khoản tại NHTW hoặc giữ tại ngân hàng theo quy định. Với biện pháp này
NHTW nắm được khối lượng tín dụng mà các NHTM và các tổ chức tín dụng
khác cung cấp và có khả năng cung cấp cho nền kinh tế. Do đó NHTW có thể
tác động trực tiếp đến khối lượng tín dụng bằng cách tăng hay giảm tỷ lệ dự trữ
pháp định
+Biện pháp thị trường mở
Nội dung của biện pháp này là NHTW tiến hành mau và bán các giấy tờ có giá
trên thị trường tiền tệ theo mục tiêu của chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ.
Trong trường hợp NHTW muốn tăng khối lượng tiền trong lưu thông NHTW sẽ
mua vào 1 lượng chứng khoán nhất định, việc các NHTM bán chứng khoán cho
NHTW sẽ làm tăng dự trữ cho các NHTM nhờ vào lượng tiền nhận được từ
NHTW. Ngược lại, nếu NHTW muốn thu hẹp khối lượng tiền tệ NHTW sẽ bán
ra 1 lượng chứng khoán nhất định, biện pháp này có ưu điểm là tác động trực
tiếp đến dự trữ của các NHTM buộc các NHTM phải gia tăng hay giảm khối
8
lượng ín dụng. Nhưng có nhược điểm chỉ thực hiện được trong điều kiện các
khoản tiền trong lưu thông đều nằm tại các NHTM.
+Biện pháp chiết khấu, tài chiết khấu và cho vay của NHTW
Là hình thức cung cấp tín dụng của NHTW cho các NHTM trong điều kiện có
thế chấp, chiết khấu, tái chiết khấu các giấy tờ có giá của các NHTM. Việc ấn
định lãi suất cho vay, lãi suất chiết khấu, tái chiết khấu cao hay thấp có tác động
đến khả năng cho vay của các NHTM và do đó làm cho khối cung tiền tệ tăng

Trong dài hạn, CSTK có thể ảnh hưởng đến sự ổn định lâu dài của CSTT rất rõ
nét. Nếu một CSTK kém bền vững lâu dài sẽ tác động lên mục tiêu của CSTT. Kỳ
vọng thâm hụt ngân sách lớn và liên tục cộng với nhu cầu nợ lớn của Chính phủ có
thể giảm lòng tin vào nền kinh tế và gây rủi ro đến sự ổn định của thị trường tài
chính. Thiếu niềm tin vào sự bền vững tài chính của Chính phủ có thể trở thành yếu
tố tiềm ẩn gây ra bất ổn cho thị trường trái phiếu, ngoại hối và thậm chí làm sụp đổ
cơ chế tiền tệ.
Ngoài ra, CSTK còn có ảnh hưởng đến dòng chu chuyển vốn quốc tế, qua đó làm
ảnh hưởng đến khả năng kiểm soát luồng ngoại tệ ra vào đất nước của ngân hàng
trung ương, gây rủi ro cho hệ thống tài chính: Chính sách thu và chi tài khóa xây
dựng không hợp lý sẽ có tác động tiêu cực tới quá trình phân bổ nguồn lực, điều
này sẽ làm tăng rủi ro liên quan đến dòng vốn quốc tế.
Bên cạnh đó, CSTT cũng có ảnh hưởng nhất định đến CSTK: CSTT có mục tiêu
chính mang tính trung hạn là ổn định giá cả, giá trị đồng tiền và hỗ trợ cho tăng trưởng
10
kinh tế thông qua việc kiểm soát lãi suất và cung tiền. Một CSTT thắt chặt sẽ làm giảm
nhu cầu đầu tư, thu hẹp sản xuất và có thể dẫn đến giảm nguồn thu của ngân sách nhà
nước. Lãi suất tăng hay giảm cũng ảnh hưởng đến giá trái phiếu chính phủ ảnh hưởng
đến cân đối ngân sách. Tỷ giá tăng (đồng bản tệ giảm) sẽ làm gia tăng khoản nợ chính
phủ bằng đồng ngoại tệ quy đổi.
Từ những phân tích này, có thể thấy CSTT và CSTK có sự phụ thuộc lẫn nhau, thay
đổi của mỗi một chính sách sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả của chính sách kia. Hơn nữa,
trong thực tế, hai chính sách này lại do 2 cơ quan khác nhau điều hành cho nên cần
phải có sự phối hợp nhịp nhàng để tránh những bất ổn có thể xảy ra.
Chương 2: thực trạng phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiên tệ của
Việt Nam và giải pháp.
Sự phối hợp giữa hai CSTK và CSTT nhằm đưa nền kinh tế vận hành đúng quy luật,
khai thác được động lực to lớn của nền kinh tế thị trường phục vụ phát triển là mục tiêu
của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, trên thực tế sự phối hợp này luôn
gặp phải những vấn đề phức tạp về mức độ, thời điểm, cách thức và cơ chế vận hành.

Chỉ tiêu 2008 2009 2010 2011 2012
Tăng trưởng kinh tế (%) 6,31 5,32 6,78 5,89 5,03
Lạm phát (%) 19,89 6,8 11,75 18,13 6,81
Nhập siêu (tỷ USD) -18,03 -12,85 -12,60 -9,50 0,30
Tăng trưởng tín dụng (%) 23,38 37,53 31,19 10,90 7
Bảng 1: Diễn biến 1 số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô giai đoạn 2008-2012
(nguồn: tổng hợp từ nhiều nguồn)
Nguồn thu ngân sách không ngừng được cải thiện, cơ cấu thu chủ yếu từ nguồn thu nội
địa, từ dầu thô, xuất nhập khẩu, viện trợ không hoàn lại, thu từ chuyển nguồn… trong
đó, nguồn thu nội địa chiếm tỷ trọng lớn nhất. Năm 2012, thu nội địa đạt 467,2 tỷ đồng
chiếm 61,16% tổng thu ngân sách. Các nguồn chi chủ yếu cho chi đầu tư phát triển, chi
thường xuyên, chi trả nợ, viện trợ…
13
Bảng 2: bảng cân đối ngân sách nhà nước 2010-1012
Stt Nội dung
Dự toán
2010
Ước thực
hiện
2010
Dự toán
2011
Ước thực
hiện 2011
Dự toán
2012
Ước thực
hiện 2012
A
TỔNG THU NGÂN

cấu đầu tư, tái cơ cấu ngân hàng thương mại và tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước
(DNNN) đã và đang được triển khai tích cực Những chuyển biến tích cực trên có
phần quan trọng là do CSTK và CSTT đã được ban hành kịp thời, hết sức linh hoạt, đi
liền với thực tiễn, đặc biệt là hai chính sách này đã ăn khớp với nhau hơn.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả nổi bật nêu trên, sự phối hợp của hai chính sách
vĩ mô này vẫn còn nhiều hạn chế, có những lúc còn chưa thực sự nhịp nhàng. Lúc
CSTT “thắt” quá chặt, trong khi CSTK lại mở rộng; có lúc tín dụng mở rất nhanh
nhưng đầu tư nhà nước lại mở chậm. Liều lượng và mức độ sử dụng các công cụ từng
thời kỳ, giai đoạn chưa tạo ra sức mạnh kết hợp tổng thể. Sự phối hợp trong việc hoạch
định và thực hiện mục tiêu chính sách ở tầm ngắn hạn và dài hạn, sự phối hợp trong
việc sử dụng các công cụ còn hạn chế.
Thực tế những năm qua, để ngăn chặn đà suy giảm kinh tế, nhiều thời điểm quan điểm
nới rộng cùng lúc đã được cả hai chính sách nói trên áp dụng, triển khai (cho vay tăng
trưởng tín dụng cao, tăng đầu tư công ). Điển hình là năm 2009, “liều thuốc” nói trên
đã giúp Việt Nam tăng trưởng 5,3% và kiềm chế lạm phát ở mức 6,8%.
Tuy nhiên, bước sang năm 2010, trong khi CSTT đã giảm dần mức độ nới lỏng thì
CSTK lại chưa được thắt lại tương ứng, nhằm phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao
hơn năm 2009. Kết quả là, dù tốc độ tăng trưởng năm 2010 đạt 6,78%, nhưng lạm phát
lại tăng tới 11,75% (cao gần gấp 2 lần so với năm 2009). Năm 2011, mức mục tiêu kìm
giữ lạm phát được đặt ra ban đầu là dưới 7%, thấp hơn nhiều so với mức lạm phát bình
quân của 3 năm liền trước đó (12,73%).
Để đạt được mục tiêu này, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã buộc phải cắt giảm cung
tiền và tăng trưởng tín dụng một cách đột ngột, gây ra những hệ quả không mong muốn
như lãi suất cho vay và nợ xấu tăng cao, thanh khoản căng thẳng, thị trường chứng
khoán suy kiệt, bất động sản đóng băng. Kết quả, lạm phát năm 2011 tăng vọt lên
15
18,13%. Bước sang năm 2012, các chỉ tiêu tăng trưởng được đề ra cơ bản đều đạt được
và phù hợp với tình hình thực tiễn, đặc biệt lạm phát đã trở lại tăng ở mức một con số
đúng như mục tiêu ban đầu nhưng tăng trưởng tín dụng lại không như mong muốn.
Có những thời điểm CSTT và CSTK được điều hành khá độc lập, thiếu sự phối hợp

trong nước, chính phủ đã bốn lần thay đổi mục tiêu ưu tiên, từ thắt chặt tài khóa và tiền
tệ để kiềm chế lạm phát (2008) sang kích thích đầu tư để thúc đẩy tăng trưởng (năm
2009), thực hiện chính sách tài chính tiền tệ chặt chẽ, linh hoạt để kiểm chế lạm phát,
ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo tăng trưởng (năm 2010) đến tăng cường ổn định
kinh tế vĩ mô và kiềm soát lạm phát (2011). Những thay đổi mục tiêu trong những giai
đoạn ngắn như trên đòi hỏi CSTK và CSTT phải điều chỉnh liên tục trong khi hiệu quả
phát huy tác động của mỗi chính sách luôn có độ trễ. Do vậy, trong khi chưa đánh giá
được hiệu quả chính sách trong giai đoạn trước thì CSTK và CSTT đã phải chuyển
sang mục tiêu ưu tiên khác.
Thứ năm, bản chất của CSTT là kiểm soát cung tiền hoặc lãi suất nhằm duy trì mức
lạm phát mục tiêu và góp phần tăng trưởng kinh tế. CSTK thực hiện chi tiêu công và
phải có trách nhiệm đảm bảo các khoản chi tiêu đó đem lại hiệu quả bởi cơ chế phân
bổ vốn hợp lý, đó là nhân tố quyết định đảm bảo tăng trưởng kinh tế bền vững, tạo nền
tảng cho CSTT phát huy hiệu lực. Thiếu điều kiện nền tảng này, các điều tiết mở rộng
hay thu hẹp CSTK thực chất không đem lại kết quả bền vững, ngược lại, CSTT có thể
phải gánh cho những vấn đề của CSTK.
Quy mô chi ngân sách cao, tới gần 30% GDP (là mức cao so với thế giới); tỷ trọng chi
đầu tư phát triển ở mức cao, thể hiện mức độ chi phối của Chính phủ vào khu vực sản
xuất và phần nào làm giảm hiệu quả và tính cạnh tranh của khu vực này (đến lượt nó,
17
khả năng tạo ra nguồn thu cho ngân sách sẽ hạn chế); chi tiêu dàn trải cho nhiều đối
tượng, thiếu quy hoạch và chiến lược chi tiêu trong trung và dài hạn; hiệu quả sử dụng
nguồn vốn này còn thấp; vấn đề quản lý và giám sát chi tiêu còn hạn chế
Thứ sáu, CSTT và CSTK chưa có có sự phối hợp nhịp nhàng trong việc hoạch định và
thực hiện mục tiêu chính sách ở tầm ngắn hạn và dài hạn. Trong thời gian từ năm 2008
đến nay, cả CSTK và CSTT đều được vận dụng tối đa cho các yêu cầu ổn định vĩ mô,
khôi phục hệ thống DN, đảm bảo an sinh xã hội. Tuy vậy, các yêu cầu này được thực
hiện một cách bị động khi vấn đề đã nảy sinh và các chính sách được sử dụng để giảm
nhẹ hậu quả.
Vì thế, trong quá trình triển khai, mỗi chính sách thường sử dụng công cụ riêng của

vốn của nền kinh tế khi chỉ số ICOR liên tục tăng theo thời gian. Phần chênh lệch gây
áp lực lên hệ thống ngân hàng và làm sai lệch bản chất hoạt động của hệ thống cũng
như giảm hiệu lực của CSTT. Ðiều này cộng với hệ thống ngân hàng đang trong tình
trạng dễ tổn thương, liên kết hệ thống trong tình trạng rủi ro cao, hoạt động trong bối
cảnh thị trường vốn trung dài hạn chưa phát triển, tỷ lệ đòn cân nợ rủi ro trong cấu trúc
vốn của DN đang làm ảnh hưởng sâu sắc tới hiệu lực CSTT cũng như khả năng phối
hợp chính sách.
2.2. Giải pháp tăng cường sự phối hợp chính sách tài khóa với chính sách tiền tệ
19
Kết hợp hài hòa giữa CSTT và CSTK có ý nghĩa hết sức quan trọng để đảm bảo kiềm
chế lạm phát, khơi thông nguồn vốn, giúp tháo gỡ khó khăn cho DN, tạo ổn định kinh
tế vĩ mô vững chắc. Trong thời gian tới cần tập trung thực hiện các giải pháp sau:
Một là, cần quan tâm đến các cân đối vĩ mô (giữa tiêu dùng, tích lũy – đầu tư, cân đối
thương mại…). Các cân đối này được đảm bảo ở mức độ hợp lý thì CSTT và CSTK sẽ
có sự kết hợp hiệu quả. Nếu những cân đối này trong tình trạng mất cân đối sẽ dẫn đến
nhiều hệ quả: lạm phát cao, lãi suất cao, tỷ giá không ổn định, nhập siêu lớn, dự trữ
ngoại tệ giảm, hệ thống ngân hàng không ổn định…
Hai là, cần tiền hành nghiên cứu, xây dựng mô hình định lượng và phân tích định tích
về khả năng phối hợp giữa CSTT và CSTK trong từng bối cảnh kinh tế cụ thể, để có
căn cứ xác định mức độ, liều lượng can thiệp của từng chính sách đến tổng cầu, lạm
phát của nền kinh tế.
Ba là, Chính phủ cần có quy định phân công trách nhiệm một bộ chủ trì trong việc
thiết lập chương trình tài chính hàng năm và 5 năm (là căn cứ, cơ sở cho các bộ thực
thi các chính sách vĩ mô được đồng bộ cả về mục tiêu lẫn giải pháp điều hành).
Bốn là, giữa NHNN và Bộ Tài chính cần có sự hợp tác, phối hợp các vấn đề mang tính
kỹ thuật trong quá trình thực thi CSTT và CSTK. Chẳng hạn: Hai cơ quan cần tuyên
truyền công khai quan điểm, phát ngôn mang tính chính thức của mình để trấn an tâm
lý và giảm kỳ vọng lạm phát, mang tính dẫn dắt và ổn định thị trường; minh bạch
thông tin, trách nhiệm giải trình của các bộ. NHNN và Bộ Tài chính cần công khai các
nghiên cứu, phân tích, dự báo kinh tế vĩ mô; Trao đổi chéo để nâng cao trình độ nguồn

Sự kiện này được đánh giá là quan trọng, đánh dấu giai đoạn CSTK và tiền tệ sẽ được
phối hợp hài hoà hơn, chặt chẽ hơn trong thời gian tới. Tuy nhiên, trên góc độ tổng thể
nền kinh tế quốc dân, sự kết hợp tốt giữa hai cơ quan trực tiếp phụ trách CSTK và
CSTT có lẽ cũng mới chỉ đảm bảo một điều kiện cần. Các mục tiêu tổng quát, tổng thể
nền kinh tế còn cần một sự phối hợp chính sách rộng hơn, bao trùm hơn mới có thể
được coi là đủ. Dù rất quan trọng, các CSTK và CSTT vẫn chỉ là những công cụ phục
vụ mục tiêu chung là tăng trưởng và ổn định. Vì vậy, về dài hạn cần phải phối hợp chặt
chẽ giữa hai chính sách này với các chính sách vĩ mô khác để nền kinh tế của Việt Nam
có thể phát triển một cách nhanh chóng và vững chắc trên con đường hội nhập với thế
giới.
21
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. NGND. PGS. TS. Ngô Ngọc Hưng, Bất ổn kinh tế vĩ mô – góc nhìn từ sự phối
hợp chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa.
2. PGS. TS. BÙI TẤT THẮNG (2013), Phối hợp chính sách tài khóa với tiền tệ
trong giải quyết các vấn đề kinh tế vĩ mô. http://www.tapchitaichinh.vn
3. PGS. TS. Nguyễn Hữu Tài (2011), giáo trình Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ, Nhà
xuất bản Đại Học Kinh Tế Quốc Dân, Hà Nội.
4. Hoàng Xuân Quế (2005), Nghiệp Vụ Ngân Hàng Trung Ương, nhà xuất bản
Thống Kê Hà Nội.
5. THS. NGUYỄN THỊ THU CÚC (2013), Phối hợp chính sách tài khóa và chính
sách tiền tệ: Thực trạng và một số đề xuất. Tạp Chí Tài Chính,
http://www.tapchitaichinh.vn
6. Các website của Ngân Hàng Nhà Nước và Tổng Cục Thống Kê…
22


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status