LÝ THUYẾT TRÒ CHƠI VÀ MỘT SỐ HIỆN TƯỢNG THƠ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN - Pdf 13

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

LÝ THUYẾT TRÒ CHƠI VÀ MỘT SỐ HIỆN TƯỢNG THƠ
VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số : 62.22.32.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
HÀ NỘI - 2012
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu
trong luận án là trung thực, đảm bảo độ chuẩn xác cao nhất. Các tài liệu tham khảo,
trích dẫn có xuất xứ rõ ràng. Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình nghiên
cứu của mình.
Tác giả luận án
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 3
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 23
4. Đối tượng, phạm vi và tư liệu nghiên cứu 24
5. Phương pháp nghiên cứu 26
6. Đóng góp mới của luận án 26
7. Cấu trúc nội dung của luận án 27
Chương 1: TRÒ CHƠI-LÝ THUYẾT TRÒ CHƠI TRÊN TIẾN TRÌNH
VẬN ĐỘNG
28
1.1 Khái niệm niệm trò chơi trong diễn ngôn tư tưởng và nghệ thuật 30
tiền hiện đại chủ nghĩa 30
1.1.1. Trò chơi trong hệ hình văn hóa cổ đại phương Tây 30
1.1.2. Trò chơi trong hệ hình chủ nghĩa lãng mạn 35
1.2. Trò chơi trong diễn ngôn tư tưởng và nghệ thuật hiện đại chủ nghĩa

1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Trò chơi có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong đời sống con người. Johan
Huizinga, sử gia người Hà Lan, trong công trình kinh điển khảo cứu về trò chơi,
Homo Ludens, đã nhận định: “[nền văn minh nhân loại] đã nảy sinh trong trò chơi,
như là trò chơi và chưa bao giờ rời bỏ nó” [253; tr.173]. Trò chơi, theo đó, không
đơn thuần là một hoạt động cơ bản của con người; nó xuyên thấm vào tất cả các
hoạt động khác, trở thành nguyên mẫu của các mô hình tổ chức đời sống, các hình
thái ý thức, đi vào trong tư duy của con người như một hệ hình để suy nghĩ, nhận
thức về thế giới và về chính mình.
Trò chơi xuất hiện từ rất sớm, với tần số ngày càng cao trong các diễn ngôn
triết học, nhân chủng học, tâm lý học, mỹ học, văn học… Ở các diễn ngôn này, trò
chơi vừa là một hoạt động thực tiễn, là đối tượng nhận thức, nghiên cứu của những
lĩnh vực nói trên, vừa là một khái niệm để từ đó, con người mở rộng suy tưởng về
những bình diện khác, chiều kích khác của văn hóa, xã hội, nhân sinh. Tập hợp các
diễn ngôn về trò chơi này hình thành nên cái được gọi là “lý thuyết trò chơi” mà
bảng phả hệ của nó, theo tổng thuật của Gordon E. Slethaug trong cuốn
Encyclopedia of Contemporary Literary Theory (Bách khoa toàn thư lý thuyết văn
chương đương đại), được bắt đầu từ triết học cổ đại Hy Lạp, kéo dài qua nhiều thời
đại và đặc biệt phát triển ở thời kỳ hiện đại/hậu hiện đại. Lý thuyết trò chơi quy tụ
những triết gia, học giả có ảnh hưởng nhất của thế giới hiện đại/hậu hiện đại, từ
Nietzsche, Freud, Huizinga, Bakhtin, Gadamer, Derrida, Foucault, Kristeva,
Lacan…[267; tr.145-9] Sự có mặt của trò chơi trong hệ thống tư tưởng của các tác
gia quan trọng này cho thấy bản chất, ý nghĩa, chức năng của trò chơi ngày càng
được nhận thức sâu sắc, phức tạp hơn. Trò chơi dường như trở thành một khái niệm
mở, không thể có định nghĩa cuối cùng, có khả năng phản ánh sống động hình ảnh
của thế giới cũng như những cơ chế vận hành tinh vi của đời sống.
Bảng phả hệ các diễn ngôn về trò chơi mặc dù có bề dày lịch sử và tầm quan
trọng như thế song hầu như chưa được giới thiệu và nghiên cứu một cách hệ thống

trò chơi vào nghiên cứu các hiện tượng văn học hiện đại, hậu hiện đại. Những công
3
trình mà chúng tôi có dịp tiếp xúc này sẽ được tổng thuật trong phần Lịch sử vấn
đề.
Luận án này, do vậy, tự xác định cho mình hai mục đích về cả mặt lý thuyết
và mặt văn học sử. Một mặt, chúng tôi muốn giới thiệu một dòng mạch lý thuyết
hầu như chưa được quan tâm trong bối cảnh Việt Nam. Mặt khác, chúng tôi chủ
động tiếp biến lý thuyết để nhìn nhận, lý giải một số hiện tượng thơ ca đương đại
vẫn đang được xem là phức tạp, khó đánh giá.
2. Lịch sử vấn đề
Phần Lịch sử vấn đề của luận án sẽ được chia thành hai mảng lớn: mảng tài
liệu tiếng Việt và tiếng Anh. Ở mỗi mảng, chúng tôi sẽ tổng thuật hai nội dung
chính: 1- trò chơi đã được nghiên cứu như thế nào, đặc biệt trong mối quan hệ với
văn học; 2- khái niệm/lý thuyết trò chơi đã được vận dụng như thế nào để tiếp cận
các hiện tượng văn học, nhất là thơ ca đương đại - đối tượng khảo sát chính của
luận án này.
2.1. Mảng tư liệu tiếng Việt
Ở mảng tư liệu tiếng Việt, chúng tôi nhận thấy trò chơi được chú ý đến như
là một hoạt động thực tiễn hơn là như một khái niệm, ý niệm. Trò chơi là được
nghiên cứu chủ yếu trong lĩnh vực tâm lý học và nhân học văn hóa, trong đó chúng
tôi đặc biệt muốn lưu ý đến nghiên cứu của tác giả Đoàn Văn Chúc. Trong phần
“Trò chơi và đời sống” in trong cuốn Văn hóa học của mình, Đoàn Văn Chúc đã
duyệt lại các quan điểm cơ bản về nguồn gốc của sự chơi trong nghiên cứu tâm lý,
văn hóa, xã hội học trên thế giới, phân tích những điểm khả thủ và bất cập của
những quan điểm này. Từ đó, tác giả đưa ra quan điểm của mình cho rằng trò chơi
được thúc đẩy bởi nhu cầu giải trí của con người đồng thời biện giải về tầm quan
trọng của hoạt động giải trí trong xã hội. Đoàn Văn Chúc tiếp tục phân tích về đặc
thù của trò chơi, theo đó, chức năng của trò chơi là “rèn luyện những phẩm chất cơ
bản chủ yếu về thể chất và trí tuệ, và một phần luân lí cho sự lao động của con
người theo phương thức thẩm mĩ” [26; tr.259]. Tác giả đặc biệt quan tâm đến vấn

Cùng với sự nhấn mạnh này, các tác giả muốn phá vỡ những định kiến không đúng
về giải trí và chức năng giải trí của văn nghệ vốn đã tồn tại trong một thời gian dài.
Trong bài viết “Văn nghệ và giải trí”, Trần Đình Sử cho thấy trên thực tế, chức
năng giải trí đã được ý thức trong tư duy lý luận từ thời cổ đại đến hiện đại, tầm
5
quan trọng của nó ngày càng được nhận thức một cách sâu sắc và phức tạp hơn.
Chức năng giải trí của văn nghệ bắt nguồn từ chính đặc trưng hư cấu, ước lệ của thế
giới nghệ thuật; chính tính chất ước lệ, hư cấu này mở ra khoảng không cho phép
con người thể nghiệm, tưởng tượng. Nó nhắc chúng ta không nên nhìn nhận văn
nghệ như một cái gì đó nghiêm trọng, thiêng liêng và chú ý đến văn nghệ như một
hệ thống mở nhiều thành phần, bên cạnh bộ phận nghiêm túc, còn có bộ phận thông
tục, bình dân, nơi tính chất giải trí của văn nghệ lộ hiện rõ nét. Tuy nhiên, tác giả
lưu ý không nên đồng nhất văn nghệ và trò chơi, đây là hai lĩnh vực có ranh giới
nhất định đồng thời đưa ra cảnh báo về sự tha hóa của chức năng giải trí trong xã
hội hiện đại, nơi công nghệ và thương mại có sức chi phối lớn đến mọi mặt xã hội
[168, tr.31-5]. Lê Ngọc Trà cũng góp tiếng nói biện hộ cho chức năng giải trí của
văn nghệ. Theo ông, tính giải trí là một yếu tố quan trọng làm nên sức hấp dẫn của
nghệ thuật. Ông viết: “Tăng tính giải trí thực sự của nghệ thuật gắn liền với yêu cầu
khắc phục lối minh họa sơ lược, coi nghệ thuật chỉ như hình thức tuyên truyền
chính trị, răn dạy đạo đức. Nghệ thuật không đối lập với chính trị và đạo đức, nhưng
nếu nghệ thuật chỉ là sự minh họa khô khan cho những tư tưởng chính trị và những
chân lý đạo đức thì nó không thể có sức hấp dẫn, không thể đi vào hoạt động giải trí
của con người, trong khi chính trong hoạt động giải trí này, ý nghĩa nhận thức, giáo
dục của nghệ thuật mới có điều kiện phát huy ảnh hưởng của nó [194, tr.369].
- Sự tương hợp giữa trò chơi và văn học trên bình diện sáng tạo và thưởng
thức. Trần Đình Sử, cũng trong bài viết ở trên đã nhắc đến, đã dẫn lại quan điểm
của I.Lotman về trò chơi, theo đó, trò chơi là một mô hình đặc thù về hiện thực. Cấu
trúc của hoạt động chơi đảm bảo đồng thời ý nghĩa: ước lệ và như thật. Cấu trúc
này đồng dạng với cấu trúc của hoạt động sáng tạo và thưởng thức, với cấu trúc tác
phẩm văn học [168, tr.33]. Trong một bài viết khác, Trần Đình Sử đã phát triển khái

Gadamer và Eugen Fink để tiếp cận thế giới nghệ thuật của Robbe-Grillet. Từ Huy
đặc biệt nhấn mạnh hai điểm đặc thù của trò chơi mà hai triết gia trên đã biện giải:
tính tự trị của trò chơi - chủ thể của trò chơi không phải là người chơi mà chính là
thông qua người chơi, trò chơi được biểu hiện; tính chất ảo được xem như là đặc
trưng của trò chơi; dấn thân vào trò chơi tức là dấn thân vào cõi ảo mà nhờ đó, con
người thoát ra khỏi những giới hạn, giam hãm, đạt đến một trạng thái khinh khoái,
7
vô tư, một sự giải thoát tuyệt đích [80, tr.43-9]. Những kiến giải về đặc thù của trò
chơi này được đưa ra đối ứng với những thực hành nghệ thuật của Robbe-Grillet.
Theo chúng tôi, Nguyễn Thị Từ Huy đã ý thức kết hợp những quan điểm triết học
về trò chơi của Gadamer và Fink để từ đó tư duy về thế giới nghệ thuật của một nhà
văn mà bản thân ông cũng tự nhận thức rất rõ về tính trò chơi trong hoạt động sáng
tạo của mình.
Một số công trình nghiên cứu về thơ Việt Nam đương đại cũng đã chú ý đến
sự hiện hữu của ý niệm trò chơi trong quan điểm nghệ thuật và thực tiễn sáng tác
của một số tác giả. Phạm Quốc Ca đề cập đến sự xuất hiện của quan niệm về “con
người chơi” như là một biểu hiện của sự đổi mới ở quan niệm nghệ thuật về con
người [15]; Đặng Thu Thủy cho thấy quan niệm “thơ là trò chơi” là một nét đáng
chú ý trong sự chuyển động của ý thức sáng tạo trong thơ hiện nay [188]. Một vài
nhà phê bình như Nguyễn Hưng Quốc, Đỗ Lai Thúy đã ý thức dùng khái niệm trò
chơi để phân tích những nét độc đáo trong cách ứng xử nghệ thuật của một số nhà
thơ. Tất cả những điều này là điểm tựa quan trọng để chúng tôi triển khai luận án.
2.2. Mảng tư liệu tiếng Anh
Sự hiện diện của trò chơi trong diễn ngôn khoa học, triết học phương Tây,
như đã nói ở trên, là một lịch sử dài, được khởi đi từ triết học Hy Lạp cổ đại cách
đây đã hơn hai nghìn năm và vẫn chưa hoàn kết. Theo quan sát của Mihai I.
Spariosu, một học giả chuyên nghiên cứu về trò chơi, thì: “Từ vài thập niên cuối thế
kỷ XIX, cùng với Nietzsche, với các triết gia theo chủ nghĩa Kant mới và những
người theo thuyết tiến hóa của Darwin, trò chơi dần dần chiếm lĩnh vị trí trung tâm
không chỉ trong diễn ngôn lý thuyết mà còn trong diễn ngôn khoa học, và đến thế

về bề sâu, như Gordon E. Slethaug cho thấy, sang đến thời kỳ hiện đại, và đặc biệt
là hậu hiện đại, dường như những triết gia quan trọng nhất ở thời đại này đều suy tư
về trò chơi hoặc dùng trò chơi như một khái niệm quan trọng để kiến tạo nên những
hệ tư tưởng có sức ảnh hưởng mạnh mẽ đến tâm thức và nhận thức của con người
thời đại. Lý thuyết trò chơi, do đó, không những là thứ lý thuyết liên ngành và xuyên
ngành mà còn là lý thuyết xuyên trường phái, cho đến bây giờ, lộ trình của nó còn
chưa dừng lại mà còn đứng trước những ngả rẽ phát triển mới. Chẳng hạn, chuyên đề
“Play” trên New Literary History mà chúng tôi vừa nhắc đến quy tụ một loạt bài
1
Đó là các số tạp chí sau: Yale French Studies, No.41, Game, Play, Literature (1968), Substance, Vol.8, No.
4 (1979), Canadian Review of Comparative Literature, Vol.12, No. 2, June (1985), South Central Review,
Vol.3, No.4, Winter (1986), New Literary History, Vol.40, No.1, Play, Winter 2009.
9
nghiên cứu về sự chơi, trò chơi trong mối quan hệ với khoa học tri nhận (cognitive
science), các lý thuyết về media trong thời đại số gắn với sự bùng nổ của các trò chơi
điện tử mà giờ đây cũng đang được xem như một loại hình văn bản tự sự.
Mảng tài liệu tiếng Anh mà chúng tôi cố gắng sưu tầm và quan trọng hơn là
chiếm lĩnh được có thể còn xa mới đầy đủ, bao quát trọn vẹn, nhưng từ những gì có
được, thiết nghĩ, cũng có thể giúp cho người đọc hình dung được sự bề bộn, gai góc,
nhiều tranh cãi xung quanh vấn đề trò chơi. Chúng tôi chia mảng tư liệu này ra làm
ba phần để tổng thuật: những tư liệu tiếp cận trò chơi như một hoạt động thực tiễn;
những tư liệu tiếp cận trò chơi như một ý niệm; những tư liệu tiếp cận bản chất trò
chơi của văn học.
2.2.1 Ở nhóm tư liệu thứ nhất, điểm phải lưu ý đầu tiên là trong các nghiên
cứu bằng tiếng Anh về trò chơi, có sự phân biệt nhất định giữa sự chơi (play) và trò
chơi (game). Brian Edwards trong cuốn Theories of Play and Postmodern Fiction
(Lý thuyết trò chơi và văn xuôi hư cấu hậu hiện đại) nhấn mạnh: “Mặc dù thường
được liên hệ với nhau song trò chơi và sự chơi không đồng nghĩa với nhau. Trong
tư cách là những hoạt động có tính chất hữu hạn và bị chi phối bởi các luật lệ, trò
chơi bao hàm sự chơi nhưng sự chơi thì không bị bó buộc trong phạm vi chỉ của trò

tưởng về sau. Một trong những học giả xuất sắc nhất của truyền thống này là Johan
Huizinga, nhà sử học người Hà Lan với công trình nổi tiếng Homo Ludens (Người
chơi - 1938) [253] - công trình được xem là một cột mốc quan trọng, có tính chất
khai nguồn của lý thuyết trò chơi hiện đại. Phát triển quan điểm Schiller, Johan
Huizinga cho rằng trò chơi không chỉ có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của
cá nhân không thôi, nó còn được xem như là hoạt động cơ bản để kiến tạo nên toàn
bộ nền văn minh loài người. Trò chơi cung cấp mô hình cho những hoạt động cơ
bản nhất của xã hội loại người; tính trò chơi biểu hiện ngay cả trong những lĩnh vực
tưởng chừng như thuộc loại nghiêm túc nhất như luật pháp, chiến tranh… Tính chất
trò chơi trong các hình thái xã hội có thể đậm nhạt khác nhau nhưng chưa bao giờ bị
triệt tiêu, cho dù tại thời điểm viết cuốn sách, Huizinga tỏ ra bi quan trước sự suy
giảm của tính trò chơi trong xã hội hiện đại vốn đang bị thống trị bởi kỹ trị, sự duy
lý, thực dụng - những điều tương phản với bản chất vô tư, phi duy lý của trò chơi.
11
Điểm thứ hai, những nghiên cứu về trò chơi theo hướng này đều xem trò
chơi là cái có thể mô tả được về mặt hiện tượng học và đều cố gắng đưa ra một định
nghĩa có khả năng bao quát được những phương diện bản chất nhất của trò chơi.
Trong Homo Ludens, Johan Huizinga đã định nghĩa về sự chơi như sau:
“[Sự chơi là] một hoạt động tự do, tách ra một cách tương đối khỏi cuộc đời
‘thường nhật’ như là một sự ‘không nghiêm túc’ song đồng thời lại có khả năng
cuốn hút người chơi mãnh liệt và tuyệt đối. Nó là một hoạt động không gắn với một
quan tâm vật chất và vụ lợi nào. Nó triển diễn bên trong những giới hạn không gian
và thời gian của riêng mình, tuân theo những luật lệ cố định và theo một cách thức
mang tính mệnh lệnh” [253, tr.13].
Nỗ lực đưa đến một định nghĩa về sự chơi của Huizinga được xem là một
đóng góp đặc biệt quan trọng của cuốn Homo Ludens trong sự phát triển của lý
thuyết trò chơi, khi mà trước đó, ngay cả Schiller cũng không có một giới thuyết
chặt về nó. Định nghĩa của Huizinga, cố nhiên, không phải là định nghĩa cuối cùng.
Nó gợi mở suy nghĩ, thậm chí cả phản biện cho những người nghiên cứu sau này.
Trong đó phải kể đến Roger Caillois với cuốn sách Les Jeux et Les Hommes (bản

gắng đưa ra một định nghĩa hàm súc hơn về trò chơi trong cuốn sách triết học
Grasshopper: Games, Life and Utopia (Châu chấu-Trò chơi, Đời sống, Không tưởng
-1978). Trong cuốn sách mỏng nhưng thường xuyên được nhắc đến trong các tổng
thuật về lý thuyết trò chơi, Suits đã định nghĩa “trò chơi” (game) thông qua hành vi
chơi (play). Theo đó: “Chơi một trò chơi tức là nỗ lực để đạt đến một trạng thái đặc
biệt, chỉ sử dụng những phương tiện được những luật lệ cho phép, ở đó, luật cấm sử
dụng những phương tiện hiệu quả hơn trong khi đó lại ủng hộ những phương tiện
kém hiệu quả hơn và những luật lệ ấy được chấp nhận vì chúng khiến cho hoạt động
chơi khả hữu. Nói một cách giản dị hơn, dễ hiểu hơn thì chơi một trò chơi là một nỗ
lực tự nguyện vượt qua những chướng ngại vật không cần thiết” [291, tr. 41].
Qua định nghĩa của Suits, có thể thấy chơi là một hiện tượng nghịch lý
nhưng lại có tính thiết yếu trong đời sống con người. Nghịch lý là vì nó được cấu
thành bởi những luật lệ đặc thù, những phương tiện đặc thù, những thử thách, độ
khó không tất yếu nhưng đầy sức lôi cuốn con người, để rồi, đến lượt mình, nghịch
13
lý đó sinh ra một thứ khoái cảm đặc biệt mà bất cứ hoạt động bình thường nào cũng
không thể đem lại.
Đặc trưng của sự chơi - trò chơi, theo cách tiếp cận này, thường được xem
như là sự đối lập với hiện thực, cái nghiêm túc, sự vụ lợi… Thế giới chơi là một thế
giới tự trị, với những luật lệ, quy ước riêng so với thế giới thực tại. Tuy nhiên,
Jacques Ehrmann trong bài luận “Homo Ludens Revisited” đã cho rằng xác định
đặc trưng của trò chơi-sự chơi theo quan hệ phản đề như thế, đặc biệt trong quan hệ
với hiện thực, là một giả thiết sai. Trò chơi không triển diễn trên nền một hiện thực
tĩnh tại, cố định; nó không nằm bên ngoài hiện thực, văn hóa. “Trò chơi, hiện thực,
văn hóa đồng nghĩa và có thể hoán đổi cho nhau” [238, tr.56]. Đi xa hơn, Ehrmann
cho rằng: “Sự chơi bao giờ cũng được mở ra, triển diễn và khép lại trong/bằng ngôn
ngữ” [238, tr.56]. Sự chơi, qua phản biện của Ehrmann, bắt đầu nhạt đi nét nghĩa
của một hoạt động thực tiễn, trong khi đó, tính ý niệm, tính chất diễn ngôn của nó
lại được tô đậm hơn.
Chú ý nghiên cứu sự chơi - trò chơi như một hoạt động, hành vi thực tiễn

lịch sử tư tưởng nhân loại có mối quan hệ mật thiết với nhau, đặc biệt ở thời kỳ hiện
đại-hậu hiện đại, khi trò chơi xuất hiện như một từ khóa trong hệ thống tư tưởng của
những triết gia, học giả quan trọng nhất của thời đại mà tổng thuật của Slethaug
trong Encyclopedia of Contemporary Literary Theory đã liệt kê (và hẳn là vẫn còn
có thể bổ sung vào bảng danh sách vốn đã phong phú đó thêm nhiều tên tuổi quan
trọng nữa như Wolfgang Iser, Yuri Lotman, Jean-Francois Lyotard…, thậm chí xa
hơn nữa là các nhà hình thức luận Nga cũng như mạch nguồn tư tưởng trò chơi khởi
đi từ phương Đông). Robert Rawdon Wilson còn cho thấy khái niệm trò chơi móc
nối với nhiều khái niệm lân cận, cùng trường liên tưởng, tạo thành một “họ” (family
concept). Hoàn toàn có thể kết nạp vào “gia đình” này những thuật ngữ quan trọng
của các lý thuyết gia, triết gia hàng đầu nói trên như thuật ngữ “carnival” của
Mikhail Bakhtin, “văn bản khả độc/khả tác” (readerly/writerly text) và “huyền
thoại” (myth) của Roland Barthes, “trò chơi ngôn ngữ (language game) của Ludwig
Wittgenstein, tính biểu hành (performative) của Judith Butler, bản thế vì (simulacra)
của Jean Baudrillard… Lịch sử của lý thuyết trò chơi, đến thời điểm này, vẫn còn
15
đang được viết tiếp; trò chơi, đến tận bây giờ, dường như vẫn kháng cự lại mọi định
nghĩa cuối kết.
Thực tế bộn bề và phức tạp của lý thuyết trò chơi như thách thức mọi nỗ lực
bao quát và phân loại. Slethaug tại mục từ “Game Theory” trong cuốn từ điển nói
trên, ở phần “Các lý thuyết đương đại”, đã chọn phương pháp tổng thuật theo lối liệt
kê, với những tên tuổi được nhắc đến: Martin Heidegger, Mikhail Bakhtin, Ludwig
Wittgenstein, Jacques Derrida, Roland Barthes, Michel Foucault, Johan Huizinga,
Roger Caillois, Mihai Spariosu, Bernard Suits, R.Rawdon Wilson và các tác giả tham
gia số chuyên đề “Game, Play, Literature” của tạp chí Yale French Studies (1968).
Sang đến mục từ “Theories of Play/Freeplay”, cũng tại phần “Các lý thuyết đương
đại”, Slethaug đã nhấn mạnh đến ba khuynh hướng nổi bật của lý thuyết trò chơi:
Thứ nhất là khuynh hướng chính trị (political theory of play) với đại diện
tiêu biểu là Bakhtin. Theo cách đọc Bakhtin của Slethaug thì Bakhtin xem sự chơi
“có khả năng phá vỡ những hình thức bền vững của ý thức và hành vi xã hội. Bằng

niệm trò chơi, Gadamer đi đến chỗ khẳng định “trò chơi chính là phương thức tồn
tại của nghệ thuật”.
Khuynh hướng thứ ba là khuynh hướng giải cấu trúc. Theo tổng thuật của
Slethaug, quy tụ vào khuynh hướng này là những tên tuổi: Derrida, Lacan,
Foucault, Barthes và Kristeva. Trong hệ thống tư tưởng của mỗi lý thuyết gia này,
trò chơi được quan niệm và được vận dụng một cách khác nhau. Tổng thuật đặc biệt
nhấn mạnh đến quan niệm về trò chơi của Jacques Derrida, người có thể xem như
trụ cột quan trọng bậc nhất của giải cấu trúc luận. Slethaug đã diễn giải lại một cách
đại ý quan niệm của Derrida về trò chơi. “Theo ông ( Derrida), xã hội luôn cố gắng
tổ chức và cấu trúc sự chơi tự do (freeplay) - của ngôn ngữ, tư tưởng và hoạt động
xã hội - để hình thành nên những cấp bậc tôn ti, để trao cho một số hình thức diễn
đạt vị thế đặc quyền hơn những hình thức diễn đạt khác, để một số tư tưởng được
coi như là hiển nhiên, mang tính siêu nghiệm, ‘hiện hữu’” [267, tr.146]. Chơi, theo
Derrida, chính là động thái để phá vỡ sự hiện hữu, cấu trúc siêu nghiệm ấy. Khái
niệm chơi của Derrida có sự liên đới mật thiết với hàng loạt những khái niệm then
chốt khác trong hệ thống triết học của ông như trung tâm, giải trung tâm, hiện hữu,
17
ý nghĩa, v.v… Ở các nhà giải cấu trúc khác, khái niệm trò chơi mà họ tư duy và sử
dụng cũng có sự móc nối với những thuật ngữ quan trọng khác mà họ xây dựng.
Robert Rawdon Wilson đưa ra một góc nhìn khác khi tổng thuật về lý thuyết
trò chơi, theo đó, khái niệm trò chơi trong diễn ngôn lý thuyết hiện nay, về cơ bản,
có tám mô hình hay tám nét nghĩa chính: (1) Sự chơi được hiểu như là một phương
thức giáo dục; qua trò chơi, con người, đặc biệt là trẻ nhỏ, học hỏi, nhận biết về thế
giới, về các vai trò xã hội. Trò chơi, theo cách hiểu này, tham gia vào quá trình xã
hội hóa, văn hóa hóa con người, và do đó, nó mang tính nghiêm túc cố hữu; (2) Trò
chơi được xem là hoạt động trung tâm, có ý nghĩa nền tảng đối với kinh nghiệm của
loài người vì qua sự chơi, con người có thể hiện thực hóa những khả thể của đời
sống và bản ngã, hướng đến những lý tưởng cao nhất. Quan niệm này theo Wilson
có lẽ được bắt đầu từ Schiller, với mệnh đề nổi tiếng, rằng chỉ trong sự chơi, con
người mới trở thành chính mình trọn vẹn. Trò chơi, theo đó, được đặc trưng bởi tính

có xu hướng thay thế tất cả những khái niệm chơi khác trong những thảo luận văn
chương. Chơi, đối với Derrida, là sự triển diễn vô tận của cái biểu đạt, là chuỗi liên
tục của những ý nghĩa bị đình hoãn; nó nằm ở phía bên kia những cấu trúc ổn định,
trung tâm, làm cho những cấu trúc này lung lay, giải trung tâm và phá thế độc tôn
của chúng. Theo cách nhìn này, tính trò chơi của văn bản văn chương không chỉ là
những thủ pháp bề mặt mà nó còn giải thể những quy phạm ngôn ngữ, thể loại -
những quyền năng chi phối văn bản… [297, tr.8-18]. Từ tám nét nghĩa cơ bản này
của khái niệm chơi trong diễn ngôn lý thuyết hiện đại, R.Wilson phân lý thuyết trò
chơi đương đại thành hai dòng mạch chính. Một dòng mạch được xem là nối dài
truyền thống Schiller, gắn trò chơi với động cơ sáng tạo, mà theo biện luận của ông,
Bakhtin với khái niệm carnival là tâm điểm của dòng mạch này ở thời kỳ hiện đại.
Dòng mạch còn lại, theo quan điểm của các nhà hậu cấu trúc luận, xem sự chơi như
một thứ lực kết hợp phi ngã, thể hiện rõ nét qua kiến giải của Derrida về sự chơi.
“Nét nghĩa về sự chơi theo truyền thống Schiller chỉ tiềm năng khai phá, phát huy
những khả năng của một hệ hình có sẵn nào đó, tạo ra những ẩn dụ. Nét nghĩa thứ
hai biểu thị tiềm năng kết hợp, hình thành nên các chuỗi hoán vị vô tận, tạo ra
những hoán dụ” [297, tr.68].
19
2.2.3. Tám nét nghĩa của khái niệm “trò chơi” mà R.Wilson khái quát trên
đây tương hợp với mọi bình diện của văn học: tâm lý sáng tạo, văn bản văn học,
tiếp nhận-diễn giải. Trên thực tế, sự tương hợp giữa trò chơi và văn học là điều đã
được nhiều nhà nghiên cứu nhấn mạnh. Georges Steiner, khi viết lời giới thiệu cho
cuốn Homo Ludens, trên cơ sở những phân tích của Huizinga về sự chơi, đã đi đến
khái quát: “Mọi văn học đều là trò chơi” (All literature is play). Tuy nhiên, sự tương
hợp giữa trò chơi và văn học biểu hiện cụ thể như thế nào trên các diễn ngôn lý
thuyết lại chưa có một nỗ lực tổng thuật nào trong các nghiên cứu bằng tiếng Việt.
Chúng tôi đã cố gắng tập hợp một số công trình bằng tiếng Anh tiếp cận văn
học, đặc biệt là những hiện tượng cụ thể (case studies), từ lý thuyết trò chơi. Mảng
tư liệu này cho thấy lý thuyết trò chơi trong nghiên cứu văn học được phát triển rất
đa dạng, liên đới với nhiều khái niệm then chốt như: hậu hiện đại (Brian Edwards -

hữu hiệu cho việc tiếp cận đối tượng. Ví dụ, R. Wilson trong cuốn In
Palamedes’Shadow nêu rõ các quan điểm về sự chơi được kiến giải bởi Derrida,
Gadamer, Bakhtin và Bernard Suits là điểm tựa lý thuyết cho chuyên luận của ông
về trò chơi và nghệ thuật tự sự [295, tr.20]. Chuyên luận The Playfulness of Gerard
Manley Hopkins (Tính trò chơi trong thơ Gerard Manley Hopkins) của Joseph J.
Feeney lại xây dựng khung (framework) của khái niệm chơi từ những kiến giải của
Huizinga trong cuốn Homo Ludens, từ đó nêu lên đặc trưng của trò chơi văn
chương là sự hoà trộn của bốn phẩm chất - sự vui vẻ (fun); tính sáng tạo
(creativity); tính thách đố, tranh đua (contest); bút pháp, văn phong (style) - trong
đó, sự vui vẻ, vui tươi được xem là phẩm chất quan trọng hơn cả [241]. Luận án tiến
sĩ của Kimberly S. Bohman - The Reading Game: A Theory of Play Forms in
O’Brien, Beckett, and Perec, trong chương 1 “A Framework for Literary Play
Theory” đã liệt kê những tên tuổi của Heidegger, Wittgenstein, Huizinga, Caillois,
Erhmann, Anatol Rappaport, Thomas Schelliing và đặc biệt lưu ý đến tầm quan
trọng của những kiến giải về sự chơi trong hoạt động đọc văn học bởi Wolfgang
Iser, người hoàn toàn không được nhắc đến trong tổng thuật của Slethaug [222].
Một luận án tiến sĩ khác mà chúng tôi cũng có cơ hội được đọc là The Infantilist
Aesthetics of The Russian Avant Garde, 1909-1939 (Mỹ học ấu nhi của chủ nghĩa
tiền phong Nga, 1909-1939) của Sara Pankenier (2006) lại kết hợp các luận điểm về
21
sự chơi, trò chơi của Huizinga, Caillois với ký hiệu học của Iu.Lotman và đặc biệt
là phân tâm học của Kristeva và Lacan để nghiên cứu sự cấu thành chủ thể lời nói
nghệ thuật của một số hiện tượng nghệ thuật tiền phong Nga trong bối cảnh xã hội,
chính trị ngặt nghèo hồi đầu thế kỷ XX [273].
Từ một vài ví dụ được trình bày ở trên, có thể nói hầu như các công trình
ứng dụng lý thuyết trò chơi thực chất đều là sự phát triển lý thuyết này. Lý thuyết
trò chơi được phát triển, một mặt, bởi tính đặc thù của những trường hợp nghiên
cứu cụ thể; mặt khác, bởi khả năng móc nối, kết hợp, cộng hưởng với các lý thuyết
khác. Lý thuyết trò chơi không tồn tại như một bộ khung cố định, một mô hình có
tính chất khuôn mẫu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status