1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Đề tài:
Nghiên cứu gian lận báo cáo tài chính của doanh nghiệp
trong thẩm định tín dụng
Môn học: Nghiệp vụ ngân hàng thương mại
Lớp: Ngân hàng Đêm 1 – Khóa 22
GVHD: PGS. TS. Trầm Thị Xuân Hương
Danh sách thành viên:
Nguyễn Thị Nhật Vy
Phạm Thành Đạt
Vương Thị Thùy Linh
Triệu Quốc Phú
2
MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
MỞ BÀI 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHIÊN CỨU GIAN LẬN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TRONG THẨM
ĐỊNH TÍN DỤNG 5
1.1 Gian lận là gì? 5
1.2 Báo cáo tài chính: 5
1.2.1 Báo cáo tài chính là gì? 5
1.2.2 Hệ thống báo cáo tài chính: 6
1.2.3 Nguyên nhân gian lận BCTC: 8
1.2.4 Các dạng gian lận tài chính thường gặp: 10
CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU GIAN LẬN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TRONG THẨM ĐỊNH TÍNH DỤNG 11
4
MỞ BÀI
Tín dụng là hoạt động kinh doanh chiếm tỷ trọng cao nhất, cũng là hoạt động mang lại
nguồn thu lớn nhất của ngân hàng. Vấn đề lo ngại nhất của ngân hàng thương mại khi cho vay là
rủi ro nợ xấu luôn có khả năng xảy ra, nhất là trong thời kỳ mà nợ xấu của các ngân hàng đang ở
mức báo động. Rủi ro này có rất nhiều nguyên nhân, đều có thể gây ra tổn thất làm giảm thu
nhập, gây thiệt hại về tài chính cũng như uy tín của cả ngân hàng cũng như doanh nghiệp. Chính
vì vậy, vấn đề chất lượng thẩm định tín dụng luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của các ngân
hàng.
Trước khi tiến hành thẩm định tài chính doanh nghiệp, ngân hàng phải tiến hành thẩm
định mức độ tin cậy của báo cáo tài chính do doanh nghiệp cung cấp. Đây là yếu tố quyết định
đến chất lượng thẩm định tín dụng. Một báo cáo tài chính sẽ trở nên vô nghĩa với ngân hàng khi
nó được “làm đẹp” và phản ánh không chính xác tình hình tài chính thực tế của doanh nghiệp.
Vấn đề đặt ra chính là các gian lận đó là gì và làm sao để phát hiện ra những gian lận đó
trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp? Các mánh khóe gian lận có thể không dễ bị phát hiện,
vì đó là gian lận các con số và không có sự mất mát tài sản hữu hình. Thậm chí, trong nhiều
trường hợp, khó có thể đánh giá cách hạch toán đó là đúng hay sai. Vì vậy, Nhóm 2 xin trình
bày đề tài “Nghiên cứu gian lận báo cáo tài chính của doanh nghiệp trong thẩm định tín
dụng” để phần nào làm rõ hơn về điều này.
5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHIÊN CỨU GIAN LẬN BÁO CÁO TÀI
CHÍNH TRONG THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG
1.1 Gian lận là gì?
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240 (VAS 240), gian lận là những hành vi cố ý
là sai lệch thông tin kinh tế, tài chính do một hay nhiều người trong Hội đồng quản trị, Ban
Giám đốc, các nhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện, làm ảnh hưởng đến Báo cáo tài chính.
Thông thường, gian lận phát sinh khi hội đủ các yếu tố sau:
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ;
- Bản thuyết minh báo cáo tài chính
1.2.2.3Vai trò, chức năng của từng loại báo cáo trong nghiên cứu BCTC:
Bảng cân đối kế toán (balance sheet - BS):
Là báo cáo tổng hợp cho biết tình hình tài chính của đơn vị tại những thời điểm nhất định
dưới hình thái tiền tệ. Đây là một báo cáo tài chính có ý nghĩa rất quan trọng đối với mọi đối
tượng có quan hệ sở hữu, quan hệ kinh doanh với doanh nghiệp.
Bảng cân đối kế toán phản ánh hai nội dung cơ bản là nguồn vốn tài sản. Nguồn vốn phản
ánh nguồn vốn được huy động vào sản xuất kinh doanh. Về mặt pháp lý, nguồn vốn cho thấy
trách nhiệm của doanh nghiệp về tổng số vốn đã đăng ký kinh doanh với Nhà nước, số tài sản đã
hình thành bằng nguồn vốn vay ngân hàng, vay đối tượng khác, cũng như trách nhiệm phải
thanh toán với người người lao động, cổ đông, nhà cung cấp, trái chủ, ngân sách Phần tài sản
phản ánh quy mô và cơ cấu các lọai tài sản hiện có đến thời điểm lập báo cáo thuộc quyền quản
lý, sử dụng của doanh nghiệp, năng lực và trình độ sử dụng tài sản. Về mặt pháp lý, phần tài sản
thể hiện tiềm lực mà doanh nghiệp có quyền quản lý, sử dụng lâu dài, gắn với mục đích thu
được các khoản lợi nhuận.
7
Bảng cân đối kế toán là tài liệu quan trọng bậc nhất giúp cho nhà phân tích nghiên cứu
đánh giá một cách khái quát tình hình và kết quả kinh doanh, khả năng cân bằng tài chính, trình
độ sử dụng vốn và những triển vọng kinh tế, tài chính của doanh nghiệp.
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Profit & Loss – PL):
Là báo cáo tài chính tổng hợp cho biết tình hình tài chính của doanh nghiệp trong từng
thời kỳ nhất định, phản ánh tóm lược các khoản doanh thu, chi phí, kết quả hoạt động sản xuất
kinh doanh của toàn doanh nghiệp, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh theo từng hoạt động
kinh doanh: sản xuất kinh doanh, đầu tư tài chính, hoạt động bất thường. Bên cạnh đó, báo cáo
kết quả hoạt động kinh doanh còn cho biết tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước của doanh
nghiệp trong thời kỳ đó.
Dựa vào số liệu trên báo cáo kết quả kinh doanh, người sử dụng thông tin có thể kiểm tra,
phân tích, đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ, so sánh với kỳ
trình tự đọc hiểu được các báo cáo tài chính, qua đó họ nhận biết được và tập trung vào các chỉ
tiêu tài chính liên quan trực tiếp tới mục tiêu phân tích của họ.
1.2.3 Nguyên nhân gian lận BCTC:
Gian lận là các hành vi bất thường và phi pháp mang chủ ý lừa dối, hay đưa
thông tin thiếu chính xác mà cá nhân đó biết rõ là sai hoặc tin là không đúng. Người có hành vi
gian lận biết rõ hành vi đó có thể đem lại lợi ích bất hợp pháp cho cá nhân hoặc tổ chức nào đó.
Gian lận có thể do người bên trong hoặc bên ngoài tổ chức thực hiện.
Trên góc độ kiểm toán báo cáo tài chính, gian lận là những hành vi cố ý làm sai lệch
thông tin kinh tế, tài chính do một hay nhiều người trong Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc, các
nhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện, làm ảnh hưởng đến báo cáo tài chính.
Mục đích chính của việc gian lận báo cáo tài chính là che dấu tình hình tài chính thực
(thể hiện tình hình kinh doanh tốt hơn thực tế hoặc cho dấu lợi nhuận thực tế), một số hoạt động
của công ty đối với những người sử dụng báo cáo tài chính (các giao dịch nội bộ, giao dịch
ngầm với các đối tác )
Áp lực hoặc lợi ích là lý do để một cá nhân hay doanh nghiệp thực hiện hành vi gian lận.
9
Một số nguyên nhân dẫn đến hành vi gian lận BCTC thường gặp:
- Áp lực mất các lợi ích kinh tế, hoàn thành các chỉ tiêu đặt ra cũng như duy trì xu hướng
phát triển tốt của công ty trước các cổ đông, chủ sở hữu cũng như công chúng. Đây cũng là
nguyên nhân có thể gây ra thiệt hại lớn đến chủ sở hữu công ty, do những hoạt động kinh doanh
không thành công, gây thiệt hại lớn đã được giấu đi và thay vào những thành tích tốt.
Lợi ích có thể là khoản tiền thưởng hoặc phần thưởng về tài chính dựa trên mức độ hoàn
thành chỉ tiêu tài chính của công ty hoặc bộ phận (ví dụ: tăng trưởng doanh thu, giá cổ
phiếu) hay là giảm gánh nặng thuế, tăng lợi nhuận; Phân chia phí dịch vụ hoặc chia hoa hồng…
Việc một công ty gian lận tài chính nhằm thu hút đầu tư bên ngoài và chuyển những lợi ích cho
một số cá nhân của công ty cũng là một hành vi thường thấy trong các vụ cố ý gian lận nhầm lừa
đảo.
- Làm giảm gánh nặng thuế của doanh nghiệp. Thực chất nguyên nhân này nhằm đem lại
nhiều lợi ích hơn cho người sở hữu công ty cùng các cá nhân liên quan đến công ty chứ không
không tuân thủ̉ thiết kế ban đầu nhằm giảm bớt chi phí thi công; các bên thông đồng trong công
tác khảo sát thiết kế - nghiệm thu công trình để phân chia khoản chênh lệch thu được.
- Với các công ty cổ phần có niêm yết trên thị trường chứng khoán: gian lận thường xảy
ra theo chiều hướng khai khống doanh thu và thu nhập, ghi giảm chi phí và công nợ nhằm khai
khống lợi nhuận, làm đẹp tình hình kinh doanh của công ty và thu hút nhà đầu tư trong việc mua
cổ phiếu; hay tăng giá cổ phiếu.
- Các doanh nghiệp tư nhân hay công ty trách nhiệm hữu hạn: Gian lận thường xuất hiện
trong việc khai báo thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp, khai khống chi phí và
giấu doanh thu nhằm giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp. Gian lận còn được thực hiện
qua việc thông đồng với đối tác nước ngoài lập hồ sơ xuất khẩu hàng giả mạo theo đường tiểu
ngạch nhằm chiếm đoạt tiền hoàn thuế giá trị gia tăng của nhà nước.
- Các công ty có vốn đầu tư nước ngoài: Gian lận thường là khai thiếu chi phí và công nợ
hay chuyển chi phí - công nợ của thời kỳ này sang kỳ kế toán kế tiếp hoặc khai khống doanh thu
để đạt được mục tiêu mà công ty mẹ đặt ra. Ngược lại, nếu công ty tập trung vào vấn đề giảm
thiểu thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp thì khai khống chi phí, công nợ và ghi giảm doanh
thu.
11 CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU GIAN LẬN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
TRONG THẨM ĐỊNH TÍNH DỤNG
2.1 Mục tiêu của việc phân tích BCTC:
Báo cáo tài chính (BCTC) rất hữu ích đối với việc quản trị doanh nghiệp, đồng thời là
nguồn thông tin tài chính chủ yếu đối với những người ngoài doanh nghiệp. BCTC không những
cho biết tình hình tài chính của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo mà còn cho thấy những
kết quả hoạt động mà doanh nghiệp đạt được trong hoàn cảnh đó.
Có hai mục tiêu chính trong phân tích BCTC:
- Thứ nhất, mục tiêu ban đầu của việc phân tích báo cáo tài chính là nhằm để "hiểu được
các con số" hoặc để "nắm chắc các con số", tức là kiểm tra, xem xét, đối chiếu, so sánh các số
liệu về tài sản, công nợ, nguồn vốn và tình hình tài chính của doanh nghiệp.
- Đối với các cơ quan quản lý chức năng của nhà nước, các cổ đông, người lao động
mối quan tâm cũng giống như các đối tượng kể trên ở góc độ này hay góc độ khác.
2.2 Các bước phân tích báo cáo tài chính:
2.2.1 Phân tích tình hình hoạt động
Nội dung phân tích:Xem xét đánh giá sự thay đổi giữa đầu kỳ so với cuối kỳ, đầu năm so
với cuối năm, năm này so với năm khác để xác định tình hình tăng giảm vốn trong doanh
nghiệp. Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào sự tăng giảm của tổng tài sản và tổng nguồn vốn của doanh
nghiệp thì chưa thể thấy rõ tình hình tài chính của doanh nghiệp. Vì vậy, cần phải phân tích mối
quan hệ giữa các khoản mục của bảng cân đối kế toán dựa trên quan điểm luân chuyển vốn trong
doanh nghiệp. Cụ thể, chúng ta có thể phân tích thông qua các tiêu chí sau:
Phân tích cơ cấu tài sản: Xem xét từng khoản mục tài sản của doanh nghiệp trong tổng
số để thấy được mức độ đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tuỳ từng
loại hình kinh doanh để xem xét tỷ trọng của từng tài sản chiếm trong tổng số là cao hay thấp.
Đồng thời với việc phân tích cơ cấu tài sản, cần xem xét tình hình biến động của các khoản mục
tài sản cụ thể. Qua đó, đánh giá sự hợp lý của sự biến động.
Phân tích cơ cấu vốn – chi phí vốn:
13
Cơ cấu vốn là thuật ngữ phản ánh việc doanh nghiệp sử dụng các nguồn vốn khác nhau
với một tỷ lệ nào đó cuả mỗi nguồn tài trợ cho tổng số tài sản.
Chi phí vốn là chi phí trả cho việc huy động và sử dụng vốn. Nói cách khác, chi phí vốn
là giá của việc sử dụng vốn.
Đánh giá khả năng tự tài trợ về mặt tài chính của doanh nghiệp, cũng như mức độ tự chủ,
chủ động trong kinh doanh hay những khó khăn mà doanh nghiệp phải đương đầu.
Đối với nguồn hình thành tài sản, cần xem xét tỷ trọng từng loại chiếm trong tổng số
cũng như xu hướng biến động của chúng. Nếu nguồn vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng cao trong
tổng số nguồn vốn thì doanh nghiệp có đủ khả năng tự bảo đảm về mặt tài chính và mức độ độc
lập của doanh nghiệp đối với chủ nợ (ngân hàng, nhà cung cấp ) cao. Ngược lại, nếu công nợ
phải trả chiếm chủ yếu trong tổng nguồn vốn (kể cả về số tương đối và số tuyệt đối) thì khả năng
đảm bảo về mặt tài chính sẽ thấp .
vấn đề liên quan của DN.
o Phân tích cơ cấu lợi nhuận:
Đây là phần có ý nghĩa quan trọng nhưng thường hay bị bỏ qua. Việc DN kiếm được lợi
nhuận tốt trong kỳ báo cáo không có nghĩa là công việc kinh doanh của doanh nghiệp đang thực
sự tốt. Để đảm bảo được xu hướng phát triển lâu dài của doanh nghiệp, nguồn lợi nhuận chính
nên có từ các hoạt động kinh doanh chủ yếu của DN, chứ không phải các hoạt động phụ bên
ngoài. Việc phân tích này cũng cho ta thấy được những dấu hiệu về các hoạt động tác động đến
báo cáo tài chính của DN.
- Lợi nhuận từ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ: Là lợi nhuận thu được từ hoạt
động kinh doanh hàng hóa dịch vụ được hình thành từ việc thực hiện chức năng và nhiệm vụ
chủ yếu của doanh nghiệp. Những nhiệm vụ này được ghi trong quyết định thành lập DN. Bộ
phận lợi nhuận này thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng lợi nhuận của DN.
- Lợi nhuận từ hoạt động tài chính: Ngoài lĩnh vực hoạt động bán hàng và cung cấp dịch
vụ, các DN còn có thể tham gia vào hoạt động đầu tư tài chính, hoạt động tài chính là hoạt
động đầu tư vốn ra bên ngoài DN.
- Thu nhập từ các hoạt động đầu tư khác: được hình thành từ những nguồn bất thường
khác ngoài các hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động đầu tư tài chính, là số chênh lệch
15
giữa các khoản thu nhập khác và các khoản chi phí khác ngoài dự tính của DN. Những khoản lãi
này phát sinh không thường xuyên, DN không dự kiến trước được nhưng ít có khả năng thực
hiện.
2.2.2 Phân tích và đánh giá các chỉ số tài chính
2.2.2.1 Nhóm các chỉ số phản ánh khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán hiện hành:
Theo một số tài liệu nước ngoài, khả năng thanh toán hiện hành sẽ trong khoảng từ 1-> 2.
Tỷ số thanh toán hiện hành >1 tức là tài sản lưu động > Nợ ngắn hạn, lúc này các tài sản
ngắn hạn sẵn có lớn hơn những nhu cầu ngắn hạn, vì thế tình hình tài chính của doanh nghiệp là
lành mạnh ít nhất trong thời gian ngắn.
ng/n
ợ
ng
ắ
n h
ạ
n
16
lưu động của doanh nghiệp. Và như vậy, hệ số thanh toán nhanh tăng không có nghĩa là khả
năng thanh toán của doanh nghiệp được cải thiện nếu chúng ta chưa loại bỏ các khoản phải thu
khó đòi, tồn kho chậm luân chuyển khi tính toán.
Khả năng thanh toán nhanh:
Tỷ số này thường > 0,5 là chấp nhận được
Việc loại bỏ hàng tồn kho khi tính toán khả năng thanh toán nhanh là do hàng tồn kho sẽ
phải mất thời gian hơn để chuyển chúng thành tiền mặt hơn các khoản mục tài sản lưu động
khác.
Tương tự như tỷ số thanh toán hiện hành, việc xem xét tỷ số thanh toán nhanh cũng phải
xem xét đến các khoản phải thu khó đòi để đảm bảo đánh giá khả năng thanh toán nợ của doanh
nghiệp một cách chính xác nhất.
Khả năng thanh toán tức thời: Tỷ lệ đo lường khả năng thanh toán của doanh nghiệp một cách hữu hiệu nhất phải nói
đến là hệ số thanh toán tức thời, nó cho biết khả năng thanh toán các khoản nợ bằng tiền và
chứng khoán dễ bán của doanh nghiệp. Đây là chỉ tiêu ưu tiên hàng đầu cần đánh giá khi xem
xét cung cấp các khoản tín dụng ngắn hạn cho doanh nghiệp. Việc đánh giá tỷ lệ thanh toán tức
s
ố
thanh toán n
ợ
dài h
ạ
n =
Dòng ti
ề
n thu
ầ
n sau thu
ế
/(
V
ố
n vay đ
ầ
u tư đ
ế
n
hạn trong năm tới)
T
ỷ
s
ố
2.2.2.2 Nhóm các chỉ số phản ánh hiệu quả hoạt động:
Vòng quay các khoản phải thu khách hàng và kỳ thu tiền bình quân:
Tỷ số này cho biết thời gian chậm trả trung bình các khoản phải thu hoặc thời gian trung
bình để chuyển các khoản phải thu thành tiền mặt
Thời gian thu hồi công nợ ngắn có thể cung cấp những thông tin sau:
o Chính sách tín dụng bán trả chậm cho khách hàng của doanh nghiệp quá khắt khe:
Điều này sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, đặc biệt khi mà doanh nghiệp
không phải là doanh nghiệp lớn, hoạt động lâu dài, có thị phần lớn.
o Việc thu hồi công nợ của doanh nghiêp rất hiệu quả: tìm hiểu thêm về cách thức thu
hồi công nợ của công ty.
o Khả năng sinh lời và điều kiện tài chính của khách hàng tốt: Liên hệ với tỷ suất sinh
lời, tốc độ tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận để kết luận.
o Doanh nghiệp chỉ hoặc thường bán hàng trả ngay bằng tiền mặt: xem xét loại hình kinh
doanh và phương thức bán hàng, mạng lưới phân phối của công ty.
Thời gian thu hồi công nợ dài có thể cung cấp những thông tin sau:
o Chính sách bán hàng trả chậm của doanh nghiệp là dễ dàng: xem xét cụ thể thị trường
của hàng hoá doanh nghiệp đang kinh doanh, nếu doanh nghiệp mới thâm nhập thị trường thì
chính sách bán hàng linh hoạt là hợp lý. Tuy nhiên nếu doanh nghiệp đang có thị phần vững
chắc, khi thay đổi về chính sách bán hàng phải xem xét cụ thể khả năng cạnh tranh của khách
hàng, các biến động về giá cả, chất lượng của hàng hoá khách hàng đang kinh doanh, tốc độ
tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận, khả năng bán hàng, tình hình tài chính và định hướng kinh
doanh của doanh nghiệp cũng như xem xét tình hình tài chính của bạn hàng, các phát sinh phải
Vòng quay các kho
ả
n ph
ả
i thu = Doanh thu/(ph
Điều này làm tăng chi phí lưu giữ hàng tồn kho và tăng rủi ro khó tiêu thụ hàng tồn kho này do
có thể không hợp nhu cầu tiêu dùng cũng như thị trường kém đi. Do vậy tỷ số này cần xem xét
để xác định thời gian tồn kho có hợp lý theo chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và
mức độ bình quân chung của ngành cũng như mức tồn kho hợp lý đảm bảo cung cấp được bình
thường.
Vòng quay vốn lưu động và số ngày hoàn thành chu kỳ kinh doanh:
Vòng quay vốn lưu động xác định số ngày hoàn thành 1 chu kỳ kinh doanh của doanh
nghiệp.
Vòng quay vốn lưu động quá thấp chứng tỏ khả năng thu hồi tiền hàng, khả năng luân
chuyển hàng hoá thấp, luân chuyển vốn chậm nên chi phí về vốn tăng lên làm giảm hiệu quả
hoạt động của doanh nghiệp.
Vòng quay vốn lưu động khác nhau đối với các doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh
vực khác nhau, ví dụ vòng quay vốn lưu động của các doanh nghiệp kinh doanh thương mại bao
giờ cũng phải cao hơn vòng quay vốn lưu động của các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực
sản xuất, xây dựng cơ bản.
Vòng quay hàng t
ồ
n kho = Giá v
ố
n/Hàng t
ồ
n kho bình quân
Th
ờ
i gian
t
ồ
Vòng quay phải trả và số ngày phải hoàn trả nợ là chỉ tiêu vừa phản ánh uy tín của doanh
nghiệp đối với bạn hàng vừa phản ánh khả năng trả nợ của doanh nghiệp.
Đối lập với vòng quay phải thu và hàng tồn kho có xu hướng càng tăng càng tốt thì đối
với các doanh nghiệp càng được chậm trả nợ càng tốt nên họ rất muốn kéo dài thời gian hoàn trả
nợ dẫn đến vòng quay phải trả thấp. Vòng quay phải trả thấp, số ngày hoàn trả nợ kéo dài có thể
là dấu hiệu cho thấy công ty rất có uy tín và là khách hàng tốt của nhà cung cấp nên được cho
chậm trả, nhưng cũng có thể là dấu hiệu cho thấy khách hàng đang khó trả các khoản nợ đến
hạn. Để khẳng định được khả năng thanh toán nợ của khách hàng cần phân tích chi tiết các
khoản phải trả, các khách hàng cho nợ, doanh số phát sinh nợ có và tuổi nợ các khoản phải trả,
đối chiếu với hợp đồng mua hàng, xem xét tốc độ tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận, khả năng
thu hổi công nợ … để có kết luận về việc vòng quay phải trả thấp là do khách hàng được cho
chậm trả hay do khách hàng kinh doanh yếu kém mất khả năng thanh toán các khoản nợ.
Chỉ số phản ánh hiệu quả tài sản cố định:
Hiệu quả tài sản cố định được đánh giá qua 2 chỉ tiêu sau:
o Hiệu suất sử dụng tài sản cố định: Doanh thu/Giá trị xuất tài sản cố định
o Suất sinh lợi xuất tài sản cố định: Lợi nhuận sau thuế/giá trị xuất tài sản cố định
Về nguyên tắc, các tỷ số càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng càng tốt. Tuy nhiên việc
phân tích các tỷ số hiệu quả tài sản cố định không chỉ dừng lại ở 2 kết quả trên mà vấn đề là phải
xác định được cấu trúc của các tỷ số đó.
Vòng quay kho
ả
n ph
ả
i tr
ả
= giá v
ố
n/kho
từ bảng cân đối sẽ tổng hợp cả 2 lĩnh vực trên và đưa ra kết quả không phản ánh chính xác thực
tế kinh doanh của Công ty. Vì vậy đối với những trường hợp này nếu có thể được sẽ tách 2
mảng kinh doanh để phân tích riêng rẽ.
Các kết quả từ tỷ số trên cũng có thể không chính xác trong các trường hợp như: tài sản
cố định mới được đưa vào sản xuất, công suất huy động còn thấp hoặc tài sản đã được sử dụng
lâu năm, sắp thanh lý không còn sử dụng.
2.2.2.3 Nhóm các chỉ số phản ánh về cơ cấu
Hệ số nợ / Tổng tài sản : (Tổng nợ phải trả) / (Tổng tài sản)
Tổng số nợ bao gồm toàn bộ các khoản nợ ngắn hạn, dài hạn tại thời điểm lập báo cáo tài
chính. Các khoản nợ ngắn hạn bao gồm tất cả các khoản phải trả, các hoá đơn mua hàng phải
thanh toán, các khoản nợ lương, nợ thuế Các khoản nợ dài hạn là các khoản nợ có thời hạn dài
hơn một năm như nợ vay dài hạn, trái phiếu, tài sản thuê mua
Tổng tài sản bao gồm tài sản lưu động và tài sản cố định.
Hệ số này được sử dụng để xác định nghĩa vụ của chủ doanh nghiệp với các chủ nợ trong
việc góp vốn. Thông thường các chủ nợ thích một hệ số nợ vừa phải vì hệ số này càng thấp thì
khoản nợ càng được bảo đảm trong trường hợp doanh nghiệp bị phá sản. Trong khi đó các chủ
sở hữu doanh nghiệp lại ưa thích một hệ số nợ cao vì họ muốn lợi nhuận gia tăng nhanh mà vẫn
toàn quyền kiểm soát doanh nghiệp. Song, nếu tỷ lệ nợ quá cao thì doanh nghiệp dễ rơi vào tình
trạng mất khả năng thanh toán.
Hệ số nợ/ Vốn chủ sở hữu: (Tổng nợ phải trả) / (VCSH)
Hệ số này cho ta nhận xét về mối quan hệ giữa nợ phải trả và vốn chủ sở hữu
Hệ số cơ cấu nguồn vốn: (Tổng VCSH) / (Tổng nguồn vốn)
21
Chỉ tiêu này cho thấy mức độ độc lập hay phụ thuộc của doanh nghiệp đối với chủ nợ,
mức độ tự tài trợ của DN đối với tổng số vốn kinh doanh của mình. Hệ số này càng lớn thể hiện
doanh nghiệp có nhiều vốn tự có, tính độclập cao với chủ nợ, khả năng an toàn về trả nợ cao.
2.2.2.4 Nhóm các hệ số phản ánh khả năng sinh lời
Tỷ suất sinh lời doanh thu thuần
Nếu doanh thu thuần được coi là 100% thì giá vốn hàng bán, chi phí tài chính, chi phí bán
- Doanh nghiệp phải giảm giá bán để chiếm lĩnh lại thị phần
o Việc giảm tỷ suất lợi nhuận/doanh thu không phải là một dấu hiệu chứng tỏ hiệu quả
kinh doanh của doanh nghiệp bị giảm sút nếu:
- Lợi nhuận và doanh thu đều tăng nhưng lợi nhuận tăng chậm hơn doanh thu do hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được mở rộng nhưng do vay nợ nhiều hơn nên chi
phí lãi vay nhiều hơn, hay do mới mỏ rộng quy mô hoạt động nên công suất sản xuất chưa cao,
chi phí quản lý, chi phí khấu hao còn lớn.
- Trong trường hợp doanh thu tăng nhưng lợi nhuận không tăng thì cũng không phải là
dấu hiệu doanh nghiệp kinh doanh không hiệu quả. Để kết luận phải xem xét cơ cấu chi phí và
bản chất việc giảm lợi nhuận là do giá vốn tăng hay do doanh nghiệp quản lý tài chính, quản lý
hoạt động không tốt dẫn đến các chi phí hoạt động quá cao so với quy mô tăng trưởng doanh
thu.
- Ngay cả khi doanh thu và lợi nhuận đều giảm cũng không phải là dấu hiệu kinh doanh
của công ty đang xấu nếu do doanh nghiệp đang thu hẹp hoạt động, chuyển hướng đầu tư vào
các lĩnh vực hiệu quả, dừng hoạt động những lĩnh vực, mặt hàng kém hiệu quả.
o Việc giảm tỷ suất lợi nhuận/doanh thu là một dấu hiệu chứng tỏ hoạt động kinh doanh
của đơn vị đang có chiều hướng xấu nếu:
- Doanh thu và lợi nhuận đều giảm do công ty kinh doanh không tốt, sản phẩm không
bán được, khả năng cạnh tranh giảm sút
23
- Lợi nhuận giảm thì dù doanh thu tăng cũng không phải là dấu hiệu tốt mà ngược lại nó
còn cho thấy công ty đang đầu tư vào những mảng kinh doanh kém hiệu quả.
Tỷ suất sinh lời tổng tài sản (ROA): Lợi nhuận sau thuế/tổng tài sản
Khi xem xét chỉ tiêu này cần chú ý rằng: đối với doanh nghiệp có quy mô tài sản lưu
động quá lớn, hoặc tỷ trọng vốn vay cao thì tỷ số này thường rất thấp do chi phí lãi vay cao làm
lợi nhuận thấp.
o Tỷ suất sinh lời tổng tài sản tăng là tốt nếu: doanh nghiệp tăng vốn chủ sở hữu, giảm
nợ vay làm giảm chi phí lãi vay nên lợi nhuận đạt được cao hơn.
o Tỷ suất sinh lời tổng tài sản tăng là dấu hiệu thể hiện doanh nghiệp làm ăn không hiệu
Tuy nhiên tỷ số này sẽ không phản ánh đúng thực chất doanh nghiệp nếu doanh nghiệp
hoạt động bằng vốn vay là chủ yếu, vốn chủ sở hữu quá thấp.
Ngoài ra khi phân tích cần so sánh với tỷ số này năm trước.
Tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu tăng hay giảm chưa thể hiện hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp tốt hay không mà quan trọng là xác định lý do làm tỷ số này tăng hay giảm để từ
đó có kết luận phù hợp.
o ROE tăng là tốt nếu lợi nhuận tăng, vốn chủ sở hữu không bị giảm đi, thậm chí còn
tăng lên.
o ROE tăng là xấu nếu công ty kinh doanh thua lỗ, phải thu hẹp hoạt động, doanh thu
giảm, lỗ vốn nên vốn chủ sở hữu giảm và vốn chủ sở hữu giảm nhiều hơn lợi nhuận.
o ROE giảm là tốt nếu cả lợi nhuận và vốn chủ sở hữu đều tăng nhưng vốn chủ sở hữu
tăng nhanh hơn tốc độ tăng lợi nhuận.
o ROE giảm là xấu nếu cả lợi nhuận và vốn chủ sở hữu đều giảm do kinh doanh thua lỗ,
thu hẹp quy mô …
2.2.2.5 Hiệu quả hoạt động kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn nhân
tài, vật lực của doanh nghiệp để đạt kết quả cao nhất trong quá trình kinh doanh với chi phí thấp
nhất.
25
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là một vấn đề phức tạp, có quan hệ với tất cả các
quan hệ với tất cả các yếu tố trong quá trình kinh doanh (lao động, tư liệu lao động, đối tượng
lao động) nên doanh nghiệp chỉ đạt được hiệu quả kinh doanh khi việc sử dụng các yếu tố cơ
bản của quá trình kinh doanh có hiệu quả.
Để đánh giá chính xác, có cơ sở khoa học hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, cần
phải xây dựng hệ thống chỉ tiêu phù hợp bao gồm các chỉ tiêu tổng quát và các chỉ tiêu cụ thể.
Các chỉ tiêu phải phản ánh được sức sản xuất, sinh lợi và suất hao phí của từng yếu tố, từng loại
vốn và phải thống nhất với công thức tính hiệu quả chung.
Hiệu quả kinh doanh = (Kết quả đầu ra) / (Kết quả đầu vào) (1)
Kết quả đầu ra được xác định bằng các chỉ tiêu như: Tổng sản lượng, doanh thu thuần, lãi