1
ĐỀ TÀI:
CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
Lớp K09404A-Nhóm Tiền Tệ Thành viên
1Nguyễn Thị Hiếu K094040545
2.Nguyễn Hoàng Phú K094040588
3.Phạm Trần Thùy Phương K094040590
4.Nguyễn Thị Minh Thư K09404612
5.Đỗ Thị Trâm K094040624
6.Đinh Cao Hoàng Trang K094040616
7.Trần Cẩm Vân K094040634
2
-Cấu trúc hệ thống tài chính: tài chính doanh nghiệp, tài chính cá nhân, ngân sách nhà nước, tổ
chức quốc tế, thị trường tài chính và tổ chức trung gian tài chính. II.Thị trường tài chính
1.Khái niệm:
- Thị trường tài chính là một hệ thống phức tạp trong đó có hàng nghìn các tổ chức thành viên,
hàng triệu đơn vị tham gia và hàng tỉ giao dịch được thực hiện mỗi ngày. Hoạt động giao dịch
trên những thị trường tài chính vượt qua các giới hạn về địa lý và thời gian, những đơn vị giao
dịch (cá nhân và tổ chức) từ những điểm hoàn toàn khác xa nhau có thể trao đổi và giao dịch với
nhau vào bất kỳ thời điểm nào.
Hay:
-Thị trường tài chính là nơi diễn ra các hoạt đông mua bán, chuyển nhượng quyền sử dụng các
khoản vốn ngắn hạn hoặc dài hạn thông qua các công cụ tài chính.
- Các công cụ tài chính (financial instruments) được gọi là các chứng khoán (securities)
- Chứng khoán là những trái quyền đối với thu nhập hoặc tài sản tương lai người nắm giữ.
2. Chức năng thị trường tài chính
4
- Chức năng cơ bản nhất của thị trường tài chính là dẫn vốn từ nơi thừa vốn sang những nơi
thiếu vốn. Đây là chức năng khơi thông những nguồn vốn nhàn rỗi để đáp ứng những nhu cầu
đầu tư phát triển của nền kinh tế.
- Chức năng thứ hai của thị trường tài chính được thể hiện qua việc hình thành giá của các tài
sản tài chính. Thông qua quá trình trao đổi giữa người mua và người bán, giá của các tài sản tài
chính sẽ được xác định.
- Chức năng thứ ba của thị trường tài chính là tạo tính thanh khoản cho các tài sản tài chính.
- Chức năng thứ tư của thị trường tài chính là giảm thiểu chi phí tìm kiếm và chi phí thông tin
cho các bên giao dịch.
- Chức năng thứ năm của thị trường tài chính là ổn định và điều hòa lưu thông tiền tệ.
nhàn rỗi, chưa muốn đầu tư hoặc đang tìm kiếm các cơ hội đầu tư, do vậy họ chuyển
nhượng quyền sử dụng vốn của mình trong thời hạn ngắn để tranh thủ hưởng lãi. Đối với
họ, việc đầu tư vào thị trường tiền tệ chỉ mang tính nhất thời, họ không quan tâm nhiều tới
mức sinh lợi mà chủ yếu là vấn đề an toàn và tính thanh khoản để có thể rút vốn ngay khi
cần.
Trên thị trường tiền tệ, do khối lượng giao dịch chứng khoán thường có qui mô lớn
nên các nhà đầu tư (cho vay) thường là các ngân hàng, ngoài ra còn có các công ty tài
chính hoặc phi tài chính, còn những người vay vốn thường là chính phủ, các công ty và
ngân hàng.
Tuỳ theo phạm vi các chủ thể được tham gia giao dịch trên thị trường mà thị trường tiền tệ
còn được chia thành:
- Thị trường liên ngân hàng (Interbank Market) là thị trường tiền tệ mà các giao dịch về vốn chỉ
diễn ra giữa các ngân hàng (kể cả Ngân hàng Trung Ương).
- Thị trường mở (Open Market) là thị trường tiền tệ mà ngoài các ngân hàng ra còn có các tổ
chức phi ngân hàng tham gia.
Ngoài ra trong thị trường tiền tệ còn có một thị trường bộ phận chuyên giao dịch các chứng
khoán ngắn hạn được ghi bằng ngoại tệ, thị trường này được gọi là thị trường hối đoái (Foreign
Exchange Market). Thị trường hối đoái ngoài các chứng khoán còn mua bán cả ngoại tệ tiền
mặt và các phương tiện thanh toán ghi bằng ngoại tệ như séc ngoại tệ.
Ở Việt nam, thị trường tiền tệ được tổ chức dưới các hình thức: thị trường nội tệ liên ngân hàng
(đi vào hoạt động từ tháng 7 năm 1993) và thị trường ngoại tệ liên ngân hàng (đi vào hoạt động
từ tháng 10 năm 1994).
Theo tính chất hoạt động, thị trường tiền tệ được chia thành các thị trường bộ phận: thị trường
tín dụng, thị trường liên ngân hàng, thị trường chứng khoán ngắn hạn, thị trường ngoại hối…
6
3.2.2 Thị trường vốn (capital market)
Thị trường vốn là nơi các công cụ vốn, công cụ nợ trung và dài hạn ( do các chính
quyền Trung ương, chính quyền địa phương, các công ty cổ phần, doanh nghiệp phát hành
) được trao đổi mua bán, chuyển nhượng theo quy định của pháp luật. Thị trường vốn chủ
Hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán tại thị trường này chủ yếu diễn ra giữa các nhà
phát hành và các nhà đầu tư lớn như các công ty chứng khoán, ngân hàng đầu tư hay công
ty bảo hiểm theo hình thức bán buôn.
3.2.2 Thị trường thứ cấp (secondary market)
Thị trường thứ cấp là thị trường cấp 2 trong đó các chứng khoán đã được phát hành
trên thị trường sơ cấp được mua đi bán lại, làm thay đổi quyền sở hữu chứng khoán.
Thị trường thứ cấp được xem như thị trường bán lẻ các chứng khoán để phân biệt
với thị trường sơ cấp là thị trường bán buôn các chứng khoán.
Thị trường thứ cấp đảm bảo khả năng chuyển đổi chứng khoán thành tiền, cho phép
những người giữ chứng khoán có thể rút ra khỏi sự đầu tư tại thời điểm nào mà họ mong
muốn hoặc có thể thực hiện việc di chuyển đầu tư từ khu vực này sang khu vực khác.
Sự khác nhau chủ yếu giữa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp là ở chỗ hoạt
động của thị trường sơ cấp làm gia tăng thêm vốn cho nền kinh tế còn hoạt động của thị
trường thứ cấp chỉ làm thay đổi quyền sở hữu các chứng khoán đã phát hành, mà không
làm tăng thêm lượng vốn đầu tư cho nền kinh tế.
Giữa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp có mối liên hệ tác động qua lại lẫn
nhau. Thị trường sơ cấp đóng vai trò tạo cơ sở cho những hoạt động của thị trường thứ cấp
vì nó là nơi tạo ra hàng hoá để mua bán trên thị trường thứ cấp. Thị trường thứ cấp cũng có
tác dụng trở lại đối với thị trường sơ cấp, đóng vai trò tạo động lực cho sự phát triển của thị
trường này.
3.3 Căn cứ vào phương thức tổ chức giao dịch:
3.3.1.Thị trường tập trung (Exchanges)
Thị trường tập trung là thị trường mà việc giao dịch mua bán chứng khoán được thực
hiện có tổ chức và tập trung tại một nơi nhất định.
Ví dụ về thị trường tập trung là các Sở giao dịch chứng khoán như Sở giao dịch chứng
khoán New York, Sở giao dịch chứng khoán Tokyo, Sở giao dịch chứng khoán London, Sở
giao dịch chứng khoán Paris
- Sở giao dịch được tổ chức dưới hình thức một công ty cổ phần. Nơi đây sẽ cung cấp các
phương tiện và dịch vụ cần thiết để tiến hành giao dịch như: lưu ký chứng khoán, bảng báo giá
điện tử,…
3.4.2.Thị trường vốn cổ phần:
Thị trường vốn cổ phần là thị trường mua bán các cổ phần của công ty cổ phần.
Đặc trưng của thị trường cổ phần là các công cụ trên thị trường không có kỳ hạn mà
chỉ có thời điểm phát hành, không có ngày mãn hạn. Người mua cổ phiếu chỉ có thể lấy lại
tiền bằng cách bán lại cổ phiếu trên thị trường hoặc trường hợp công ty cổ phần mà họ nắm
giữ cổ phiếu tuyên bố phá sản.
Khác với thị trường nợ, hoạt động của thị trường vốn cổ phần chủ yếu phụ thuộc vào
hiệu quả kinh doanh của các công ty cổ phần. Giá trị cổ phiếu tăng khi công ty hoạt động
có hiệu quả cao và ngược lại.
9
Sơ đồ: cấu trúc thị trường tài chính
10
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. GS.TS Nguyễn Thị Cành, Sách chuyên khảo Tài chính phát triển, NXB ĐH Quốc Gia TP
HCM, 2009
2. PGS.TS Lê Văn Tề và ThS. Nguyễn Thị Xuân Liễu, Phân tích thị trường tài chính, NXB
Thống kê, 2000
3. PGS.TS Sử Đình Thành và TS. Vũ Thị Minh Hằng, Nhập môn Tài chính – Tiền tệ, NXB Lao
động Xã hội
4. Trần Viết Hoàng và Cung Trần Việt, Các nguyên lý tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính,
NXB Thống kê, 2009
5. PGS.TS Lê Văn Tề, Tiền tệ và ngân hàng, NXB Thống kê, 2003
6. David Blake, Phân tích thị trường tài chính, NXB Thống kê, 2001
Các trang web:
7. www.saga.vn
8. www.tailieu.vn
9. www.wikipedia.com