VIỆC PHÂN CẤP QUẢN LÝ TÀI CHÍNH & QUY MÔ CỦA CHÍNH PHỦ: PHÂN
TÍCH THỰC NGHIỆM TẠI 1 QUỐC GIA CHÂU ÂU
Aurélie Cassette · Sonia Paty
Tóm tắt:
Bài viết này là một đóng góp ban đầu cho sự hiểu biết về mối quan hệ giữa phân cấp
quản lý tài khóa và quy mô của chính phủ. Sử dụng một bộ dữ liệu bảng của 15 quốc gia
châu Âu, chúng tôi phân tích tác động của việc phân cấp trên tổng thể, quy mô của chính
phủ tầm quốc gia và địa phương , bằng cách tách biệt các tác động dài hạn của việc phân
cấp ra khỏi tác động ngắn hạn của nó. Trong dài hạn, thuế tự đinh làm giảm chi phí trung
ương nhưng làm cho chi tiêu công địa phương nhiều hơn, dẫn đến tổng chi tiêu công cao
hơn. Chúng tôi cũng tìm thấy rằng sự mất cân bằng theo chiều dọc có xu hướng làm tăng
quy mô của các chính quyền cả địa phương & trung ương.
1 Giới thiệu
Từ cuối những năm 80, phân cấp là việc chuyển giao quyền lực chính trị, tài chính và
hành chính cho chính quyền địa phương đã nổi lên như một trong những xu hướng quan
trọng nhất trong chính sách phát triển. Vì vậy, việc triển khai các mối quan hệ tài chính
giữa các cấp của chính phủ tại các nước thành viên Liên minh châu Âu đã thu hút ngày
càng nhiều sự quan tâm về năng lực quản lý và quyền hạn thuế được chuyển giao cho
cấp chính quyền địa phương. Các tổ chức thế giới, chẳng hạn như Ngân hàng Thế giới
(2000) hoặc các nước OECD (2002a, 2002b), về việc hỗ trợ tài chính cho việc phân cấp
tại các nước Đông Âu, cho rằng một đổi mới theo hướng phân cấp sẽ thúc đẩy phát triển
kinh tế cũng như hiệu quả của khu vực công. Bài báo “Bước vào thế kỷ 21 “của Ngân
hàng Thế giới chỉ ra rằng mong muốn tự quyết định và chuyển giao quyền lực là lực
lượng chính “định hình thế giới trong sự phát triển sẽ được xác định và thực hiện”
1
trong
thập niên đầu của thế kỷ này.
Một số giả thuyết khác về hành vi của chính phủ được đề xuất trong các tài liệu tài chính
công và các giả thuyết cho rằng phân cấp quản lý tài khóa có thể hạn chế quyền lực của
khu vực công. Oates (1972) lập luận rằng chính quyền địa phương nắm thông tin về
phần doanh thu / chi tiêu tổng hợp cho chính phủ. Tuy nhiên, các chỉ số tài chính thông
thường này đánh giá quá cao mức độ phân cấp tài khóa hoặc tự chủ tài chính trong hầu
hết các nước bởi vì chúng không được kiểm soát bởi chính quyền địa phương về căn cứ
tính thuế và thuế suất (Stegarescu 2004). Phân cấp chi tiêu cùng với ra quyền hạn thuế
địa phương tương ứng có thể không tạo ra sự cạnh tranh thuế làm hạn chế hành vi của
Leviathan. Phân cấp được tài trợ bởi nguồn lực chung, như khoản chuyển nhượng hoặc
chia sẻ doanh thu được kiểm soát bởi trung ương (tức là, sự mất cân bằng theo chiều
dọc), có thể có tác dụng ngược lại, bằng cách phá vỡ các liên kết giữa các loại thuế và lợi
ích. Phân cấp có thể hạn chế hoặc tăng cường sự phát triển của chính phủ, tùy thuộc vào
bản chất của việc phân cấp (Rodden 2003). Một vài bài báo dựa trên thông tin từ các
nước OECD (2001), có tính đến kiểm soát chính quyền địa phương về căn cứ tính thuế
hoặc tỷ lệ trong nước đang chuyển đổi ở Châu Âu (Ebel và Yilmaz 2002) và ở một số
nước OECD (Rodden năm 2003; Meloche et al. 2004). Một vài trong số những nghiên
cứu này kết luận rằng quyền tự chủ tài chính làm cho khu vực nhà nước trờ nên nhỏ hơn
trong khi các khoản tài trợ có tác động tích cực đối với quy mô của khu vực công. Tuy
nhiên, Jin và Zou (2002), trong một nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng trên 32 quốc gia,
cho thấy phân cấp tài tài khóa ảnh hưởng khác nhau đến quy mô của các chính quyền
trung ương, địa phương và tổng thể.
Dựa trên lý thuyết này, các bài nghiên cứu hiện nay tập trung vào những ảnh hưởng của
phân cấp tài khóa với quy mô chính phủ sử dụng một dữ liệu bảng được thiết lập từ các
nước châu Âu. Nhưng bài báo này là một đóng góp độc đáo cho sự hiểu biết về mối quan
hệ giữa phân cấp tài khóa và quy mô chính phủ liên quan đến một số khía cạnh cụ thể.
Theo chúng tôi, đây là bài báo đầu tiên kết hợp một chỉ báo về phân cấp thu nhập
2
của
các nước của OECD với một thước đo của sự mất cân bằng theo chiều dọc, cho một mẫu
của nhóm 15 các quốc gia EU. Chúng tôi sử dụng một mô hình dữ liệu bảng chuyển dịch
theo không gian để chứng minh cho việc chi tiêu chính phủ có thể thay đổi một cách
chậm chạp theo thời gian và rằng có thể có một số mối tương quan giữa chi tiêu công của
các nước. Chúng tôi ước lượng cả các mối quan hệ lâu dài giữa phân cấp và chi tiêu công
phân cấp. Edhaie tìm ra rằngvới một mẫu 30 quốc gia năm 1987 và 1977, sự phân cấp
2
Chúng tôi sử dụng dữ liệu của Stegarescu (2004) trong đó sử dụng cách phương pháp tiếp cận các nước OECD
(1999) trong tự chủ nguồn thu của chính quyền địa phương. Stegarescu mở rộng số lượng các quốc gia và mở rộng
dữ liệu để đạt được một bảng dữ liệu tập hợp đầy đủ.
đồng thời của thuế chính quyền trung ương và sức mua có xu hướng làm giảm quy mô
khu vực công. Tuy vậy, cũng có vài nghiên cứu đã tìm ra tác động tích cực có ý nghĩa
thống kê vềsự phân cấp đối với quy mô chính phủ: Stein (1999) nghiên cứu trên 19 quốc
gia Mỹ Latin từ 1990 -1995, và Heil (1991) với dữ liệu chéo của 22 quốc gia OECD và
39 quốc gia IMF.
Nhiều nghiên cứu lại cho rằng phân cấp tài khóa có thể kiềm hãm hoặc thúc đẩy sự tăng
trưởng của chính phủ, phụ thuộc vào cách thức phân cấp. Phân cấp chi tiêu mà không đi
kèm với mức thuế hợp lý tại địa phương sẽ không tạo ra sự cạnh tranh về thuế nhằm hạn
chế hạn chế hành vi Leviathan. Và phân cấp quản lý được tài trợ bởi nguồn chung, chẳng
hạn như tiền trợ cấp hoặc một phần doanh thu được cấp từ trung ương, có thể gây ra tác
dụng ngược lại bằng việc phá vỡ mối liên hệ giữa các loại thuế và lợi ích. Hơn nữa, theo
Brennan và mô hình Leviathan Buchanan, hệ thống trợ cấp có thể được hiểu như là một
hình thức thông đồng giữa các chính quyền địa phương để phá vỡ những tác động kìm
hãm của phân cấp quản lý tài khóa (Feld et al. 2003). Dựa vào số liệu IMF GFS (thống kê
tài chính của Chính phủ) của 17 nước công nghiệp và 15 nước đang phát triển Jin và Zou
(2002) cho thấy rằng phân cấp quản lý chi tiêu và sự mất cân bằng theo chiều dọc làm
tăng quy mô của khu vực công trên tổng thể, trong khi phân cấp doanh thu tạo ra kết quả
ngược lại. Họ cũng chỉ ra rằng phân cấp tài khóa có ảnh hưởng khác nhau đối với quy
mô chính phủ ở mức độ trung ương, địa phương và tổng thể. Phân cấp doanh thu cho thấy
rằng việc gia tăng quy mô chính quyền địa phương ít hơn so với giảm quy mô chính
quyền trung ương dẫn đến chính phủ xét trên tổng thể sẽ nhỏ hơn. Ebel và Yilmaz (2002)
và Fiva (2006) sử dụng chỉ số mới của phân cấp tài khóa dựa trên phân loại nhóm các
nước OCED (1999) , cung cấp thông tin bổ sung thêm về doanh thu thuế và về tỷ lệ mà
chính quyền địa phương có quyền kiểm soát đáng kể. Ebel và Yilmaz (2002) tìm ra rằng
(W
Dist
) và một phương pháp định
lượng tương tự nhau cho tất cả các quốc gia không xét đến khoảng cách địa lý (W
NW
). Cả
hai ma trận định lượng được chuẩn hóa để tổng các nhân tố cuả từng dòng tiến đến 1.
Nếu mỗi nước đều phản ứng lại với những lựa chọn chi tiêu của nước khác, thì quyết
định chi tiêu của các nước láng giềng là nội suy và tương quan với sai số (ε). Chúng tôi
chọn sử dụng phương pháp tiếp cận dựa vào các biến công cụ (IV),
4
là phương pháp sử
dụng trung bình có trọng số của các biến ngoại suy hoặc biến kiểm soát liên quan, (WX),
như là một công cụ (Kelejian và Robinson năm 1993; Kelejian và Prucha 1998). Hơn
nữa, vì có một số sự tồn tại của chi phí, nên nó có thể phù hợp trong hệ thống ước lượng -
GMM (Veiga và Veiga 2007).
Với việc có hoặc không có sự phụ thuộc không gian, chúng tôi sử dụng việc ước lượng hệ
thống GMM phát triển bởi Blundell và Bond (1998).
5
Giá trị của các công cụ sử dụng để
hồi quy được đánh giá sử dụng hai phương pháp kiểm định khác nhau. Kiểm định Sargan
(hoặc kiểm định overidentifying restriction test) kiểm tra giả thuyết rằng các công cụ
không tương quan với các số dư. Phương pháp kiểm định thứ hai được đề xuất bởi
Arellano và Bond (1991). Kiểm định này xem xét các giả thuyết cho rằng các số dư từ
phương trình ước lượng sai số bậc một không phải là tương quan bậc hai. Một N nhỏ
(như trong trường hợp của chúng tôi) giới hạn số lượng các công cụ có thể được sử dụng
để ước lượng, nhưng có thể để lại hậu quả cho các thuộc tính của các ước lượng. Tuy
nhiên, Soto (2007), phân tích hiệu suất của các hệ thống GMM khi số lượng các đơn vị
chéo là nhỏ đã sử dụng mô phỏng Monte Carlo. Ông ta chỉ ra rằng một số lượng nhỏ các
đơn vị chéo dường như không ảnh hưởng quan trọng đến các thuộc tính đã được xác định
phần trăm của GDP). Vì chúng tôi cũng muốn phân tích phân cấp ảnh hưởng đến chính
quyền địa phương và trung ương như thế nào, nên chúng tôi sử dụng chi tiêu khu vực
công của địa phương (như là một tỷ lệ phần trăm của GDP) và chi tiêu khu vực công của
trung ương (như là một tỷ lệ phần trăm của GDP).
Tất cả các biến được tính theo % trừ GDP Bình quân đầu người và mật độ dân số
(người/km
2
). Số quan sát: 495. TDEC: tỷ lệ thuế tự quản của chính quyền địa phương với
tổng doanh thu thuế của chính phủ. VI: chuyển nhượng liên chính phủ như là một phần
trong chi tiêu chính quyền địa phương. AMECO: dữ liệu hằng năm về tình hình kinh tế vĩ
mô của Ủy ban Châu Âu
3.2.2 Phân cấp tài khóa
Rất khó để xác định và đo lường mức độ phân cấp vì bản thân khái niệm rất rộng, và
cũng phức tạp về số lượng các chỉ số định lượng (Ngân hàng Thế giới 2004). Thật vậy,
phân cấp quản lý bao gồm các lĩnh vực như chính trị, hành chính và ngân sách. Tuy
nhiên, các biện pháp thông thường đo lường mức độ phân cấp quản lý tài khóa trong các
tài liệu sử dụng doanh thu của chính quyền địa phương (hoặc chi tiêu) để hợp nhất tính
toán doanh thu chung của chính phủ (hoặc chi tiêu), như cách tính theo IMF GFS. Tuy
nhiên, các chỉ số tài chính chung có xu hướng đánh giá quá cao mức độ phân cấp quản lý
tài khóa, đặc biệt là ở các quốc gia liên bang so với các nước đơn nhất, vì nó không cung
cấp bất kỳ thông tin nào dựa trên tỷ lệ sở hữu mà chính quyền địa phương có quyền kiểm
soát đáng kể. Do đó, họ xuyên tạc mức độ thực tế của phân cấp quản lý tài khóa ở một số
nước (như Áo và Đức) và dẫn đến sai lệch trong kết quả nghiên cứu thực nghiệm
(Stegarescu 2004). Dựa theo nghiên cứu gần đây về chủ đề này, chúng tôi sử dụng hai chỉ
số đại diện cho các khía cạnh khác nhau của phân cấp. Để kiểm tra giả thuyết cho rằng
quyền tự chủ tài chính dẫn đến một nhà nước nhỏ hơn, đầu tiên chúng tôi sử dụng thước
đo sự phân cấp quản lý doanh thu đó là dựa trên một khung phân tích được cung cấp bởi
các nước OECD (1999), trong đó phân loại thuế theo mức độ tự chủ của địa phương.
Chúng tôi cũng sử dụng thước đo sự mất cân bằng theo chiều dọc, có nghĩa là, mức độ
(GDPCAP). Biến này có thể được sử dụng để tính toán thu nhập quốc gia. Tập dữ liệu
thứ hai bao gồm các biến nhân khẩu-xã hội, chẳng hạn như tỷ lệ thất nghiệp (UNEMP),
mật độ dân số (DENS), và tỷ lệ dân số trên 65 tuổi (PP65). Các biến này có thể được coi
là chỉ số đại diện cho nhu cầu chi tiêu và có thể biểu hiện một dấu hiệu tích cực. Biến
PP65 được đưa ra nhằm đại diện cho nhu cầu về chính trị với các dịch vụ công của những
người già trong cộng đồng. Phân khúc này của dân số tạo thành một nhóm lợi ích với
quyền lực chính trị ngày càng tăng, và PP65 dự kiến sẽ ảnh hưởng lớn đến quy mô thực
củachính phủ.
Theo như Persson et al. (2005), chúng tôi đã cố gắng đưa vào một số biến chính trị để
kiểm soát (định hướng chính trị, hệ thống đa nguyên, phân chia đảng phái). Nhưng không
có biến nào trong số các biến chính trị là quan trọng. Chúng tôi quyết định không đưa
chúng vào trong các cơ sở hồi quy để hạn chế số lượng các công cụ.
Mức độ mở cửa của một nền kinh tế cho thương mại quốc tế (OPEN) có thể sẽ có ảnh
hưởng đến quy mô của chính phủ. Tỷ lệ thương mại quốc tế đóng góp vào GDP càng
nhiều thì thu nhập nội địa càng không ổn định và chắc chắn, và cần hiểu rằng tình trạng
bấp bênh không chắc chắn này càng nhiều sẽ dẫn đến sự lệ thuộc lớn hơn của cộng đồng
vào chính phủ, làm tăng quy mô của chính phủ (Rodrik, 1998). Xem xét quyết định của
khu vực công từ góc nhìn mang tình truyền thồng hơn thì việc mở cửa gây nên cạnh tranh
nước ngoài và làm tăng khó khăn của chính phủ trong việc điều tiết mối quan hệ về thuế
với các nước láng giềng (Ferris và Tây năm 1996). Điều này làm giảm đi chứ không phải
là làm tăng tốc độ mà chính phủ có thể mở rộng.
6
Tuy nhiên, biện pháp này không phân biệt giữa việc chuyển đổi mục đích và điều kiện chung. Tài trợ mục đích
chung có thể được sử dụng như là thu nhập riêng, nhưng có thể được phân bổ dựa trên các tiêu chí khách quan hoặc
theo quyết định của chính quyền trung ương. Các khoản tài trợ cụ thể, mặt khác, được sử dụng cho các mục đích chi
tiêu nhất định và có thể có điều kiện qua chính quyền địa phương
Chúng tôi đưa vào một biến đại diện cho tỷ lệ lực lượng lao độnglàm việc tự do. Vì nó có
thể dễ dàng hơn cho lực lượng lao động làm việc tự do che giấu thu nhập của mình (Kau
và Rubin 1981), một tỷ lệ lớn hơn của người lao động tự do dự kiến sẽ làm tăng các chi
Một cách lý giải khác có thể dựa trên tiêu chuẩn đánh giá sự cạnh tranh giữa các chính
phủ.Các chính phủ xem xét áp dụng những sự lựa chọn chi tiêu của các nước láng giềng,
là điều mà các cử tri biết rất rõ, điều này dễ dàng hơn so với các lựa chọn chi tiêu của
mình. Một lời giải thích thứ ba được đề xuất bởi Feld et al. (2003): các nước không cạnh
tranh trực tiếp về chi tiêu công, nhưng sự cạnh tranh thuế suất sẽ ảnh hưởng đến doanh
thu thuế và cuối cùng tác động đến chi tiêu công.
Kết quả quan trọng nhất trong bảng 2 là các ước lượng tham số cho hai chỉ số phân cấp
của chúng tôi. Theo dự kiến, phân cấp quản lý doanh thu có thể làm tăng quy mô của các
chính phủ tại địa phương và giảm quy mô của các chính phủ tại trung ương. Tuy nhiên,
quy mô của chính phủ hợp nhất không thu nhỏ: kết quả này cho thấy rằng phân cấp
doanh thu tăng quy mô của chính phủ ở địa phương ở một mức độ lớn hơn nó làm giảm
quy mô của chính phủ ở trung ương.
Chúng tôi tìm thấy những dấu hiệu kỳ vọng tích cực và quan trọng cho chỉ số về phân cấp
dựa trên những khoản chi chuyển nhượng liên chính phủ (VI), trong các hồi quy về quy
mô chính quyền địa phương và chính quyền trung ương. Điều này có lẽ có thể được giải
thích bởi sự tồn tại của hiệu ứng fly - paper ở cấp chính quyền địa phương. Chính quyền
địa phương sẽ chi tiêu bất kỳ khoản chuyển nhượng nhận được nào dễ dàng hơn so với
chi tiêu doanh thu thuế địa phương. Theo đề nghị của Jin và Zou (2002) và Stein (1999),
phân cấp tài trợ từ các nguồn phổ biến, chẳng hạn như tiền trợ cấp hoặc lợi nhuận được
chia kiểm soát bởi trung ương, có thể làm trầm trọng thêm vấn đề về tài sản chung. Sự
thiếu kết nối giữa những người hưởng lợi các dịch vụ công và những người trả tiền cho
họ sẽ tăng quy mô của chính quyền địa phương. Kết quả này hoàn toàn phù hợp với kết
quả của Oates (1985), Grossman (1989), Edhaie (1994), Stein (1999) và Jin và Zou
(2002). Sự mở rộng của khu vực công ở cấp địa phương do những khoản chi chuyển
nhượng từ trung ương này sẽ buộc chính quyền trung ương phải tăng trưởng tương ứng
(Jin và Zou 2002). Do đó phần chi chuyển nhượng liên chính phủ trong chi tiêu công tại
địa phương càng lớn sẽ dẫn đến quy mô của chính quyền trung ương càng lớn: sự mất
cân bằng theo chiều dọc là có quan hệ đồng biến với quy mô của chính quyền trung
ương.
Về các biến kiểm soát, với ngoại lệ của hệ số trong mô hình hồi quy địa phương dự kiến
tài sản thuộc sở hữu tư nhân. Bốn mươi hai biến được sử dụng để xây dựng một chỉ số
tóm tắt và để đo lường mức độ tự do kinh tế trong năm lĩnh vực chính: (1) quy mô của
chính phủ,
7
(2) cơ cấu pháp lý và an ninh của quyền sở hữu, (3) truy cập vào tiền tín dụng
(4) tự do thương mại quốc tế, và (5) quy định về tín dụng, lao động và kinh doanh
(Gwartney và Lawson 2008). Cụ thể hơn, các nước có tỷ lệ thấp của chi tiêu chính phủ
trong tổng số chi tiêu chính phủ, khu vực doanh nghiệp nhà nước nhỏ hơn, và thuế suất
cận biên thấp hơn kiếm được xếp hạng cao nhất trong khu vực này. Chỉ số này có sẵn cho
các năm 1970, 1975, 1980, 1985, 1990, 1995, và 2000 - 2006.
8
Chúng tôi trình bày các
kết quả ước lượng trong cột 7 và 8.
Như trong các dự đoán trước đây, chúng ta có thể thấy rằng chỉ số tự do kinh tế chỉ thay
đổi chậm theo thời gian. Chúng tôi tìm thấy một hệ số tích cực nhưng không có ý nghĩa
liên quan đến chỉ số tự do kinh tế bình quân gia quyền của các nước láng giềng (sử dụng
cả hai phương pháp lấy trọng số). Nó có thể khó khăn cho các chính phủ trong việc bắt
chước nhau sử dụng chỉ số tổng hợp này dựa trên 42 biến. Phương pháp đo lường mở
rộng hơn này của chính phủ mang lại kết quả tương tự cho các tác động của việc phân
cấp quản lý thuế .Chúng tôi thấy rằng phân cấp quản lý thuế có tác động tích cực và có ý
nghĩa về tự do kinh tế. Tuy nhiên, sự mất cân bằng theo chiều dọc không có tác động
đáng kể vào chỉ số. Cuối cùng, các biến kiểm soát là không bao giờ có ý nghĩa.
5. Những động lực ngắn hạn và dài hạn:
Chúng tôi kiểm nghiệm những động lực trong ngắn hạn và dài hạn của mối liên quan
giữa sự phân quyền và quy mô của khu vực công thông qua sử dụng sử dụng khái quát
đơn ECM được ước tính bởi ước lượng LSDVC. Trước hết chúng tôi cần kiểm tra sự c61
định của các biến. Sau đó, nếu các biến này được tích hợp theo I(1) chúng tôi tiến hành
các kiểm định sự hội tụ bảng Pedroni để kiểm tra trạng thái cân bằng dài hạn giữa các
biến.
5.1 Kết quả sơ bộ: Bảng đơn vị gốc và sự hội tụ
tích cực được mong đợi và là có ý nghĩa to lớn. Hơn nữa, kết quả này đúng cho tổng chi
tiêu công và chi tiêu trung ương. Về dài hạn, tự chủ thuế sẽ làm giảm chi tiêu trung ương,
tăng chi tiêu địa phương ở mức độ lớn hơn. Hệ quả là dẫn đến sự gia tăng trong tổng chi
tiêu công.
Khi xem xét ước lượng trung bình nhóm, sự co giãn của chi tiêu công ở các mức độ địa
phương, trung ương và tổng thể với sự mất cân đối theo chiều dọc (VI) là có ý nghĩa và
đồng biến. Tuy nhiên, có những sự khác biệt lớn giữa sự co giãn từng quốc gia tại mỗi
mức độ.
Bảng 3: Ước lượng về sự hội tụ vector
Kiểm định t-student trong ngoặc, các biến đưa về logarit.* Mức ý nghĩa 10% ** Mức ý
nghĩa 5%; *** Mức ý nghĩa 1%
5.2 Hiệu ứng của sự phân quyền trong ngắn hạn và dài hạn
ECM dựa vào giả định rằng nền kinh tế có thể tự điều chỉnh theo thời gian. Chúng tôi bắt
đầu với mô hình tự hồi quy phân phối trễ:
Trong đó:
+ i: đơn vị dữ liệu chéo
+ t: thời gian
+ GOVSIZE: quy mô khu vực công
+ DEC: biến phân quyền
+ X: vector của biến điều khiển
+ Các hiệu ứng thời gian cụ thể, ψ
t
, được bao gồm để nắm bắt những cú sốc tổng hợp, có
thể xuất hiện trong bất kỳ năm nào. Giả sử hiệu ứng cố định, phần sai số chéo, v
i;t
, có hai
tác dụng sau: hiệu ứng bất biến theo thời gian không quan sát được, hiệu ứng quốc gia ε
i
nhất là như nhau. Mô hình này hội tụ môt cách nhanh chóng đến trạng thái cân bằng, với
sự khác biệt khoảng 12% được hiệu chỉnh cho mỗi thời kỳ. Hệ số trong dài hạn được tính
cho thấy sự tự chủ về thuế hơn dẫn đến sự gia tăng dài hạn cho chi tiêu công địa phương.
Một lần nữa, chúng tôi tìm thấy sự gia tăng này không được bù hoàn toàn bởi sự giảm đi
trong dài hạn của chi tiêu quốc gia, dẫn đến sự tăng trong dài hạn của tổng chi tiêu công.
Tiếp theo, chúng tôi nhìn vào kết quả mất cân đối theo chiều dọc. Bảng 4 chỉ ra rằng hệ
số hiệu chỉnh sai số có ý nghĩa thống kê, dương trong tất cả các phương trình hồi quy và
mức độ của hệ số là như nhau: 12% - 14% sự khác biệt được hiệu chỉnh trong mỗi thời
kỳ. Về dài hạn, sự mất cân đối theo chiều dọc có xu hướng tăng theo quy mô của địa
phương, quốc gia và chính phủ trong khi nó không tác động trong ngắn hạn.
Đối với biến điều khiển, kết quả này cũng như nhau. Một sự gia tăng trong GDP trên đầu
người thì không có ý nghĩa đến quy mô khu vực công. Kết quả cho 1 hệ số dương và hệ
số ý nghĩa của sự thay đổi tỷ lệ thất nghiệp với chi tiêu công trung ương và hợp nhất.
Nhưng hệ số về sự thay đổi tỷ lệ thất nghiệp thì không ảnh hưởng đến chi tiêu công địa
phương. Cuối cùng, một tỷ lệ người già cao hơn trong dân số sẽ dẫn đến một sự gia tăng
khá đáng kể trong mỗi sự chi tiêu công, trong khi mật độ dân số không ảnh hưởng lớn
đến mức độ chi tiêu của chính phủ. Bảng 4: Mô hình sửa lỗi
6. Kết luận
Mục đích của chúng tôi là đóng góp cho việc tranh luận về sự tác động của phân cấp tài
khóa đối với quy mô chi tiêu của chính phủ, trong phạm vi châu Âu, một số tổ chức siêu
quốc gia chỉ ra rằng các quốc gia tập quyền như các nước ở khu vực Trung và Tây Âu
nên chuyển dịch theo hướng phân cấp nhiều hơn nữa.
Chúng tôi đã phân tích thực nghiệm xem liệu phân cấp tài khóa có tác động hay không