QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN LẬP VÀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH VỚI VIỆC TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÁC CÔNG TY XỔ SỐ KIẾN THIẾT - Pdf 30

lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực,
có nguồn gốc rõ ràng và cha từng đợc ai công bố trong
bất cứ công trình nào khác.
Ngời cam đoan
Trần Thị Cẩm Thanh
2
mục lục
Trang
Trang phụ bìa................................................................................................1
Lời cam đoan.................................................................................................2
Mục lục..........................................................................................................3
Danh mục bảng, biểu, sơ đồ.........................................................................4
Danh mục các chữ viết tắt ..........................................................................5
mở đầu ..........................................................................................................6
Chơng 1:
Cơ sở lý luận về lập và phân tích báo cáo tài chính với việc tăng c-
ờng quản lý tài chính tại các công ty xổ số kiến thiết
..............11
1.1. Quản lý tài chính với nhu cầu thông tin trên báo cáo tài chính........................11
1.2. Yêu cầu, nguyên tắc và phơng pháp lập báo cáo tài chính.............................26
1.3. Phơng pháp và nội dung chủ yếu về phân tích báo cáo tài chính....................43
1.4. Đặc điểm lập và phân tích báo cáo tài chính tại các công ty xổ số kiến thiết..........57
Chơng 2:
Thực trạng lập và phân tích báo cáo tài chính tại các công
ty xổ số kiến thiết
................................................................65
2.1. Tổng quan về hệ thống các công ty xổ số kiến thiết Việt Nam ......................65
2.2. Tình hình thực tế về lập và phân tích báo cáo tài chính tại các công ty xổ số

Sơ đồ 2.6: Qui trình lập báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh tại các công ty xổ số
kiến thiết ..................................................................................................87
Sơ đồ 2.7: Qui trình lập báo cáo lu chuyển tiền tệ tại các công ty xổ số kiến thiết..........89
Sơ đồ 2.8: Qui trình lập thuyết minh báo cáo tài chính tại các công ty xổ số kiến thiết........90
Bảng 2.1: Tổng hợp kết quả hoạt động xổ số kiến thiết từ năm 2003 - 2005...........81
Bảng 2.2: Phân tích cơ cấu tài sản của Công ty Xổ số kiến thiết .............................92
Bảng 2.3: Phân tích cơ cấu nguồn vốn của Công ty Xổ số kiến thiết.......................94
Bảng 2.4: Phân tích tổng quát báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty Xổ
số kiến thiết...............................................................................................96
Bảng 2.5: Phân tích báo cáo lu chuyển tiền tệ của Công ty Xổ số kiến thiết............99
Bảng 2.6: Phân tích thuyết minh báo cáo tài chính của Công ty Xổ số kiến thiết..........102
Bảng 2.7: Phân tích chỉ tiêu 3.6 Các khoản phải thu và nợ phải trả của Công ty Xổ
số kiến thiết.............................................................................................104
Bảng 2.8: Phân tích chỉ tiêu 5 Một số chỉ tiêu đánh giá khái quát thực trạng tài chính và
kết quả kinh doanh của doanh nghiệp của Công ty Xổ số kiến thiết............105
Bảng 3.1: Bảng cân đối kế toán ............................................................................132
Bảng 3.2 : Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh .................................................137
4
B¶ng 3.3 : B¸o c¸o chi tiÕt kÕt qu¶ ho¹t ®éng xæ sè...............................................139
5
Danh mục các chữ viết tắt
1. BHXH : Bảo hiểm xã hội
2. CCDC : Công cụ, dụng cụ
3. ĐTDH : Đầu t dài hạn
4. ĐTNH : Đầu t ngắn hạn
5. GTGT : Giá trị gia tăng
6. LKTĐN : Luỹ kế từ đầu năm
7. NSNN : Ngân sách Nhà nớc
8. QTKD : Quản trị kinh doanh
9. TK : Tài khoản

có những giải pháp hữu hiệu để tăng cờng hiệu quả sản xuất kinh doanh. Nh vậy, lập
và phân tích báo cáo tài chính thực sự là một công cụ quan trọng cho công tác quản
lý tài chính của chủ doanh nghiệp nói riêng và cho hoạt động sản xuất kinh doanh
nói chung.
7
Tuy nhiên, trong thực tế tại các doanh nghiệp nói chung và các công ty xổ số
kiến thiết nói riêng, việc lập và phân tích báo cáo tài chính nhiều khi mang tính hình
thức. Để góp phần khắc phục tồn tại hiện nay và từng bớc đáp ứng tốt hơn yêu cầu
quản lý trong các công ty xổ số kiến thiết nói riêng và các doanh nghiệp khác nói
chung, tôi đã chọn đề tài: "Hoàn thiện lập & phân tích báo cáo tài chính với việc
tăng cờng quản lý tài chính tại các công ty xổ số kiến thiết" làm đề tài luận án tiến
sĩ.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài này đợc nghiên cứu nhằm vào các mục đích sau:
- Góp phần làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về lập và phân tích báo cáo tài
chính cùng với việc tăng cờng quản lý tài chính tại các công ty xổ số kiến thiết.
- Đánh giá thực trạng việc lập, phân tích báo cáo tài chính của các công ty xổ
số kiến thiết, đề xuất các quan điểm có tính nguyên tắc cho việc hoàn thiện lập &
phân tích báo cáo tài chính, nâng cao chất lợng của việc quản lý tài chính, nâng cao
hiệu quả kinh doanh của các công ty xổ số kiến thiết.
- Đa ra các giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện lập và phân tích báo cáo tài chính
với việc tăng cờng quản lý tài chính tại các công ty xổ số kiến thiết.
3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu của luận án là lập & phân tích báo cáo tài chính trong các
công ty xổ số kiến thiết cả về lý luận, thực trạng và phơng hớng hoàn thiện với việc
tăng cờng quản lý tài chính. Do vậy, phạm vi nghiên cứu của luận án chỉ giới hạn ở
những nội dung liên quan đến lập và phân tích báo cáo tài chính trong các công ty
xổ số kiến thiết ở Việt Nam.
Số liệu minh hoạ thực tế đợc lấy ở một số công ty điển hình nh Công ty xổ số
kiến thiết Thủ Đô (khu vực miền Bắc), Công ty xổ số kiến thiết Bình Định, Công ty

kiến thiết.
9
7. tổng quan về các công trình đã nghiên cứu liên quan đến
đề tài
Báo cáo tài chính, lập và phân tích báo cáo tài chính là những nội dung đã đợc
nhiều tác giả nghiên cứu.
Báo cáo tài chính là hình thức biểu hiện của phơng pháp tổng hợp - cân đối kế
toán, nội dung này đã đợc nghiên cứu thông qua các giáo trình thuộc chuyên ngành
Kế toán nh: Lý thuyết hạch toán kế toán (PGS.TS. Nguyễn Thị Đông chủ biên, xuất
bản năm 2004, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội); Kế toán tài chính trong các doanh
nghiệp (TS. Đặng Thị Loan, xuất bản năm 2001, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội)
Việc lập báo cáo tài chính cũng đợc nghiên cứu thông qua các giáo trình thuộc
chuyên ngành Kế toán nh trên, đồng thời cũng đã đợc công bố trên các tài liệu: Lập,
đọc, kiểm tra và phân tích báo cáo tài chính (PGS.TS. Nguyễn Văn Công (Chủ biên)
(2002), Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội); Chuyên khảo về Báo cáo tài chính và lập,
đọc, kiểm tra, phân tích báo cáo tài chính (Nguyễn Văn Công (2005), Nhà xuất bản
Tài chính, Hà Nội); Hớng dẫn lập, đọc, phân tích báo cáo tài chính và báo cáo kế
toán quản trị (Võ Văn Nhị, Đoàn Ngọc Quế, Lý Thị Bích Châu (2001), Nhà xuất
bản Thống kê, TP Hồ Chí Minh)
Cách lập và trình bày báo cáo tài chính đợc công bố thông qua các Chuẩn mực
kế toán Quốc tế và Chuẩn mực kế toán Việt Nam cũng nh các Chế độ kế toán doanh
nghiệp của Việt Nam qua các thời kỳ.
Phân tích báo cáo tài chính đợc nghiên cứu thông qua việc công bố trên các
giáo trình: Giáo trình phân tích hoạt động kinh doanh (Phạm Thị Gái (1997), Nhà
xuất bản Giáo dục, Hà Nội); Giáo trình Tài chính doanh nghiệp (Lu Thị Hơng (Chủ
biên) (1998), Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội); Phân tích hoạt động kinh doanh
(Phạm Văn Dợc, Đặng Kim Cơng (1999), Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội); Phân
tích tài chính doanh nghiệp (Josette Peyrard (1999), Nhà xuất bản Thống kê, Hà
10
Nội); Những vấn đề cơ bản về Quản trị tài chính doanh nghiệp (Vũ Duy Hào (Chủ

1.1.1. Hoạt động tài chính trong các doanh nghiệp
Hoạt động tài chính doanh nghiệp là một trong những nội dung cơ bản của hoạt
động sản xuất kinh doanh. Hoạt động này nhằm thực hiện các mục tiêu của doanh
nghiệp nh: tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hóa giá trị doanh nghiệp hay mục tiêu tăng tr-
ởng phát triển. Hoạt động tài chính doanh nghiệp giải quyết các vấn đề sau:
Thứ nhất, doanh nghiệp nên huy động nguồn vốn tài trợ của mình ở đâu, vào
thời điểm nào với một cơ cấu vốn tối u và chi phí vốn thấp nhất.
Thứ hai, doanh nghiệp nên đầu t vào đâu và nh thế nào cho phù hợp với hình
thức kinh doanh đã chọn nhằm đạt tới mục tiêu của mình.
Thứ ba, doanh nghiệp quản lý vốn và tài sản nh thế nào để tiết kiệm và nâng
cao hiệu quả vốn kinh doanh.
Thứ t, doanh nghiệp phải phân tích, đánh giá, kiểm tra các hoạt động tài chính
để thờng xuyên đảm bảo trạng thái cân bằng tài chính.
Thứ năm, doanh nghiệp quản lý các hoạt động tài chính ngắn hạn và dài hạn để
đa ra các quyết định thu, chi phù hợp.
Mỗi doanh nghiệp cũng giống nh con ngời, đều có cuộc đời riêng của mình,
đều phải trải qua các giai đoạn ra đời, phát triển, trởng thành và suy thoái. Nội lực
của mỗi doanh nghiệp cùng với sự tác động mạnh mẽ của môi trờng xung quanh, có
nhiều doanh nghiệp vẫn tồn tại và phát triển không ngừng, bên cạnh đó có nhiều
doanh nghiệp không tránh khỏi sự giải thể, phá sản. Do đó, trên phơng diện tài
chính, các doanh nghiệp thông qua việc lập cũng nh phân tích báo cáo tài chính để
12
đa ra các quyết định quản lý tài chính phù hợp nhất cho sự tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp mình.
1.1.2. Vai trò và mục đích sử dụng báo cáo tài chính
Xã hội càng phát triển thì nhu cầu thông tin càng trở nên đa dạng và bức
thiết. Hiện nay, thông tin đợc xem nh là một yếu tố trực tiếp của quá trình sản
xuất kinh doanh.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp đều tìm mọi biện pháp
để sản xuất ra sản phẩm với số lợng nhiều nhất, chất lợng cao nhất, chi phí thấp nhất

doanh nghiệp mình.
- Đối với các nhà đầu t, các chủ nợ: Nhìn chung, các nhà đầu t và các chủ nợ
đòi hỏi báo cáo tài chính vì hai lý do: họ cần các thông tin tài chính để giám sát và
bắt buộc các nhà quản lý phải thực hiện theo đúng hợp đồng đã ký kết và họ cần các
thông tin tài chính để thực hiện các quyết định đầu t và cho vay của mình.
- Đối với các kiểm toán viên độc lập: Các nhà đầu t và cung cấp tín dụng có lý
do để mà lo lắng rằng các nhà quản lý có thể bóp méo các báo cáo tài chính do họ
cung cấp nhằm mục đích tìm kiếm nguồn vốn hoạt động. Vì vậy, các nhà đầu t và
tín dụng đòi hỏi các nhà quản lý phải bỏ tiền ra thuê các kiểm toán viên độc lập để
kiểm toán báo cáo tài chính, các nhà quản lý đơng nhiên phải chấp thuận vì họ cần
vốn. Nh vậy, báo cáo tài chính đóng vai trò nh là đối tợng của kiểm toán độc lập.
Mục đích của báo cáo tài chính sử dụng ở nớc ta về cơ bản có sự tơng đồng với
chuẩn mực kế toán quốc tế. Mục đích của báo cáo tài chính đợc xác định là cung
cấp những thông tin về tình hình tài chính, kết quả kinh doanh và những biến động
về tình hình tài chính của doanh nghiệp để giúp cho ngời sử dụng ra các quyết định
kinh tế một cách kịp thời.
Thông tin về tình hình tài chính chủ yếu đợc cung cấp qua hệ thống báo cáo tài
chính. Tình hình tài chính của doanh nghiệp chịu ảnh hởng của các nhân tố: Các
nguồn lực kinh tế do doanh nghiệp kiểm soát, cơ cấu tài chính và khả năng thanh
toán. Vì vậy, khi nghiên cứu các thông tin về tình hình tài chính sẽ giúp cho ngời sử
dụng những vấn đề sau:
- Đánh giá năng lực của doanh nghiệp trong việc tạo ra các nguồn tiền và các
khoản tơng đơng tiền trong tơng lai.
14
- Dự đoán nhu cầu đi vay trong tơng lai và phơng thức phân phối lợi nhuận.
- Dự đoán khả năng thành công của doanh nghiệp trong việc huy động các
nguồn tài chính.
- Đánh giá khả năng của doanh nghiệp trong việc thực hiện các cam kết tài
chính khi đến hạn.
- Đánh giá các thay đổi tiềm tàng của các nguồn lực kinh tế mà doanh nghiệp

vốn và khả năng huy động nguồn vốn vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Các chỉ tiêu, các số liệu trên các báo cáo tài chính là những thông tin quan
trọng về tình hình sử dụng vốn nh: phân bổ vốn, hiệu quả sử dụng vốn, bảo toàn vốn
của doanh nghiệp.
- Những thông tin trên báo cáo tài chính cung cấp về tình hình bảo đảm vốn
cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, giúp các nhà quản lý nắm đợc tình
hình phân bổ tài sản, các nguồn tài trợ tài sản.
- Thông tin trên báo cáo tài chính cung cấp cho các nhà quản lý tài chính về
tình hình thanh toán, về nhu cầu và khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
- Thông tin trên báo cáo tài chính cũng giúp cho các nhà quản lý dự báo đợc
những rủi ro tài chính tiềm ẩn, từ đó có kế hoạch và các quyết định kịp thời, phù hợp
để ngăn ngừa và hạn chế tối đa các rủi ro ấy.
- Báo cáo tài chính cũng đa ra các thông tin về dự báo nhu cầu tài chính cho
hoạt động của doanh nghiệp.
- Những thông tin của báo cáo tài chính là những căn cứ quan trọng trong việc
phân tích, nghiên cứu, phát hiện những khả năng tiềm tàng, là những căn cứ quan
trọng đề ra các quyết định về quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh
hoặc đầu t vào doanh nghiệp của chủ sở hữu, các nhà đầu t, các chủ nợ hiện tại và t-
ơng lai của doanh nghiệp nhằm mục tiêu tăng cờng lợi nhuận và hiệu quả kinh
doanh.
1.1.4. Cơ chế quản lý kinh tế - cơ sở chi phối trực tiếp đến những
thông tin trình bày trên báo cáo tài chính
Quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang
cơ chế thị trờng theo định hớng XHCN đã đặt ra yêu cầu bức bách là phải đổi mới
hệ thống quản lý kinh tế, trong đó có nhiệm vụ đổi mới hệ thống thông tin kế toán
nhằm cung cấp những thông tin đáng tin cậy cho việc điều hành nền kinh tế vĩ mô
16
và kiểm tra của Nhà nớc đối với các doanh nghiệp, điều hành hoạt động sản xuất
kinh doanh trong từng doanh nghiệp của nhà quản lý, phục vụ cho các cổ đông, nhà
đầu t, nhà cung cấp tín dụng... đa ra các quyết định kinh tế.

Khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo
định hớng XHCN, mô hình nền kinh tế phát triển theo hớng có nhiều thành phần,
trong đó kinh tế Nhà nớc đóng vai trò chủ đạo. Các cơ quan Nhà nớc thực hiện chức
năng quản lý Nhà nớc về kinh tế, không can thiệp vào chức năng quản trị kinh
doanh của các doanh nghiệp.
Trong cơ chế thị trờng, các doanh nghiệp xây dựng kế hoạch sản xuất đầu t
theo nhu cầu thị trờng. Thị trờng có vai trò trực tiếp hớng dẫn các đơn vị kinh doanh
lựa chọn lĩnh vực hoạt động và phơng án tổ chức sản xuất kinh doanh, đồng thời
cũng đặt ra cho doanh nghiệp những điều kiện ràng buộc khi đa ra những quyết định
sản xuất kinh doanh liên quan đến quá trình thực hiện kế hoạch. Thị trờng là nơi
doanh nghiệp thể hiện sức mạnh cũng nh những hạn chế của mình trớc các đối thủ
kinh doanh, và cũng chính thị trờng sẽ phán quyết về khả năng tồn tại và phát triển
của doanh nghiệp. Hoạt động trong môi trờng kinh doanh nh vậy thì việc đánh giá
kết quả hoạt động của doanh nghiệp chủ yếu dựa vào chỉ tiêu lợi nhuận và tỷ suất lợi
nhuận của doanh nghiệp.
Từ những vấn đề trên, ta có thể thấy trong cơ chế thị trờng tại Việt Nam, báo
cáo tài chính phải cung cấp những thông tin hữu ích nhất đáp ứng đợc nhu cầu thông
tin của bản thân doanh nghiệp và của các đối tợng bên ngoài doanh nghiệp, trong đó
Nhà nớc vẫn là đối tợng chủ yếu sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính (với vai trò
là chủ sở hữu vốn của các doanh nghiệp Nhà nớc). Thông tin trên báo cáo tài chính
lúc này đợc chia làm hai loại: Thông tin tài chính và thông tin dùng trong việc quản
lý nội bộ doanh nghiệp.
Thông tin tài chính trên báo cáo tài chính đợc lập chủ yếu là phục vụ cho nhu
cầu thông tin của các đối tợng bên ngoài doanh nghiệp. Xuất phát từ mối quan hệ về
pháp lý và lợi ích kinh tế giữa doanh nghiệp với các đối tợng khác ở bên ngoài
doanh nghiệp đã nảy sinh sự ràng buộc về nhu cầu thông tin tài chính mà doanh
nghiệp phải cung cấp cho những đối tợng này.
Thông tin tài chính cung cấp cho các đối tợng bên ngoài theo những hình thức
và nội dung nhất định tùy theo quy định của mỗi quốc gia. Thông tin trình bày trên
18

19
ánh các quỹ xí nghiệp, tiền mặt và thanh toán. Trong số 13 biểu báo cáo kế toán
theo Quyết định này, hàng tháng xí nghiệp chỉ phải lập và gửi một biểu số 23/CN -
Bảng tổng kết tài sản. Hàng quý, xí nghiệp phải lập và gửi 8 biểu; 6 tháng đầu năm
phải lập và gửi thêm biểu số 26/CN - Chi phí phục vụ và quản lý sản xuất và biểu số
27/CN - Chi phí sản xuất theo yếu tố. Cuối năm, xí nghiệp phải lập và nộp đủ 13 báo
cáo theo quy định.
Trong giai đoạn từ năm 1971 đến năm 1989, nền kinh tế nớc ta gặp phải vô
vàn khó khăn do trong những năm đầu tiên của giai đoạn này vẫn còn chiến tranh ở
miền Nam, đồng thời sau khi thống nhất đất nớc (năm 1975) thì nền kinh tế khởi
đầu bằng nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, các cơ sở công nghiệp, giao thông bị tàn
phá nặng nề trong chiến tranh, các nguồn viện trợ bị cắt giảm, cơ chế quản lý bao
cấp kéo dài, các cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc xảy ra,...
Hệ thống kế toán trớc đây đã bắt đầu bộc lộ những khiếm khuyết nhất định. Do vậy,
trong giai đoạn này, các chế độ kế toán mới liên tục đợc sửa đổi, bổ sung hay ban
hành cho phù hợp. Cũng trong giai đoạn này, nhiều văn bản kế toán có giá trị đợc
ban hành nh: Pháp lệnh kế toán và thống kê, Điều lệ tổ chức kế toán Nhà nớc, Chế
độ báo cáo kế toán định kỳ áp dụng cho xí nghiệp công nghiệp quốc doanh, Hệ
thống chế độ ghi chép ban đầu, Chế độ kế toán hành chính sự nghiệp, Chế độ kế
toán sản xuất kinh doanh ngoài quốc doanh,...
Những điểm khác căn bản của cơ chế quản lý trong thời kỳ này so với thời kỳ
trớc đợc thể hiện trong Quyết định của Chính phủ số 25 - CP ngày 21/01/1981 về
một số chủ trơng và biện pháp nhằm phát huy quyền chủ động sản xuất kinh doanh
và quyền tự chủ về tài chính của các xí nghiệp quốc doanh và Nghị quyết của Hội
đồng Bộ trởng số 156 - HĐBT ngày 30/11/1984 về một số vấn đề cải tiến quản lý
công nghiệp quốc doanh.
Để phù hợp với sự vận động khách quan của nền kinh tế, cơ chế quản lý kế
hoạch hóa tập trung đã có những thay đổi nhất định. Hội nghị Trung ơng Đảng lần
thứ 8, khóa V, tháng 6/1985 đã chỉ ra bài học bao trùm là: Phải dứt khoát xóa bỏ
tập trung, quan liêu, bao cấp, thực hiện đúng chế độ tập trung - dân chủ và hạch toán

quốc doanh theo Quyết định số 598-TC/CĐKT ngày 8/12/1990.
Đối với các doanh nghiệp quốc doanh, Quyết định 224-TC/CĐKT quy định chỉ
21
còn 4 báo cáo định kỳ. Đó là: Bảng tổng kết tài sản (đợc lập theo quý, năm), Báo
cáo kết quả kinh doanh (lập theo năm), Chi phí sản xuất theo yếu tố (lập theo năm)
và Bản giải trình kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh (năm). Các doanh nghiệp
quốc doanh cũng phải nộp báo cáo tài chính cho cơ quan tài chính, cơ quan chủ
quản, cơ quan thống kê và cơ quan ngân hàng liên quan. Các chỉ tiêu trong từng báo
cáo đã đợc đơn giản hóa, phục vụ thiết thực hơn cho việc quản trị doanh nghiệp.
Thời gian lập, nộp báo cáo tài chính theo quy định cũng đã thoáng hơn, trừ Bảng
tổng kết tài sản phải lập và nộp hàng quý, còn lại các báo cáo khác (báo cáo kết quả
kinh doanh, Chi phí sản xuất theo yếu tố, Bản giải trình kết quả hoạt động sản xuất,
kinh doanh) chỉ phải lập và nộp hàng năm.
Với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, theo Quyết định 598-TC/CĐKT ngày
8/12/1990 của Bộ trởng Bộ Tài chính, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh chỉ phải
lập và nộp 3 báo cáo định kỳ là: Bảng tổng kết tài sản, Kết quả kinh doanh và Báo
cáo tồn kho vật liệu, sản phẩm, hàng hóa.
Sau một thời gian vận dụng vào thực tế, hệ thống báo cáo kế toán ban hành
theo Quyết định số 224 TC/QĐ/CĐKT ngày 18/4/1990 của Bộ Tài chính đã bộc lộ
khá nhiều khiếm khuyết, cha thực sự đáp ứng đợc yêu cầu hội nhập của nền kinh tế.
Đứng trớc thực trạng đó, Bộ Tài chính tiến hành nghiên cứu, xây dựng và ban hành
hệ thống kế toán doanh nghiệp cải cách theo cơ chế thị trờng (trong đó có hệ thống
báo cáo tài chính) theo Quyết định số 1206 QĐ/CĐKT ngày 14/12/1994 và thực
hiện thí điểm ở một số đơn vị rồi tổng kết và ban hành chính thức theo Quyết định
số 1141 TC/QĐ/CĐKT ngày 01/11/1995, áp dụng cho các doanh nghiệp (trong đó
có chế độ báo cáo tài chính). Theo Quyết định này, hệ thống báo cáo tài chính
doanh nghiệp bao gồm 4 biểu mẫu là: Bảng cân đối kế toán (Mẫu số B-01 DN), Báo
cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Mẫu số B-02 DN), Báo cáo lu chuyển tiền tệ
(Mẫu số B-03 DN) và Thuyết minh báo cáo tài chính (Mẫu số B-09 DN).
Có thể nói, so với trớc, chế độ báo cáo theo Quyết định số 1141 TC/QĐ/CĐKT

đợc chứ cha nói đến báo cáo tài chính đó có chính xác hay không. Một thực tế đau
lòng mà chúng ta phải thẳng thắn thừa nhận là hệ thống báo cáo tài chính hiện hành
đang là một bài toán đố khó so với trình độ của hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ
ở nớc ta. Và trên thực tế, để có báo cáo tài chính nộp cho các cơ quan quản lý, tránh
bị thu hồi giấy phép kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp, các doanh nghiệp vừa và
23
nhỏ phải chọn một trong hai cách: Hoặc phải thuê các chuyên gia lập báo cáo tài
chính hoặc phải tự lập cho có để nộp, còn chính xác hay không - không quan trọng.
Trớc thực tế đó, ngày 21/12/2001, Bộ trởng Bộ Tài chính đã ký Quyết định số
144/2001/QĐ-BTC nhằm thay thế, sửa đổi Quyết định 1177 TC/QĐ/CĐKT về Chế
độ kế toán doanh nghiệp vừa và nhỏ. Quyết định này cho phép các doanh nghiệp vừa
và nhỏ đợc áp dụng Chế độ kế toán riêng (trong đó có Chế độ báo cáo tài chính) phù
hợp với loại hình doanh nghiệp của mình. Theo Quyết định 144/2001/QĐ-BTC, các
doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ phải lập và gửi các báo cáo tài chính hàng năm nh:
Bảng cân đối kế toán, Kết quả hoạt động kinh doanh, Thuyết minh báo cáo tài
chính. Ngoài ra, các doanh nghiệp còn phải lập và gửi kèm cho cơ quan thuế 02 phụ
biểu là: Bảng cân đối tài khoản, Tình hình thực hiện nghĩa vụ với Ngân sách Nhà n-
ớc. Quyết định này đã phần nào tháo gỡ bớt khó khăn cho phần đông các doanh
nghiệp vừa và nhỏ, tránh cho khá nhiều doanh nghiệp bị thu hồi giấy phép kinh
doanh. Tuy nhiên, nói nh vậy không có nghĩa là hệ thống báo cáo tài chính theo
Quyết định số 144/2001/QĐ-BTC đã hoàn thiện và phù hợp với trình độ quản lý và
phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Từ sau khi ban hành Quyết định 167/2000/QĐ-BTC, và Thông t số
23/2005/TT-BTC ngày 30/3/2005 của Bộ Tài chính đến nay, cùng với quá trình xây
dựng và lần lợt ban hành các Chuẩn mực kế toán, hệ thống báo cáo tài chính cũng
không ngừng đợc sửa chữa, bổ sung và hoàn thiện. Các Chuẩn mực kế toán Việt
Nam số 01 Chuẩn mực chung, số 21 Trình bày báo cáo tài chính, số 24 Báo
cáo lu chuyển tiền tệ, số 25 Báo cáo tài chính hợp nhất và kế toán các khoản đầu
t vào công ty con, số 27 Báo cáo tài chính giữa niên độ,... và các Thông t hớng
dẫn kế toán thực hiện các Chuẩn mực kế toán đều đề cập đến hệ thống báo cáo tài

doanh nghiệp về:
- Tài sản;
- Nợ phải trả và vốn chủ sở hữu;
- Doanh thu, thu nhập khác, chi phí kinh doanh và chi phí khác;
- Lãi, lỗ và phân chia kết quả kinh doanh;
- Thuế và các khoản nộp Nhà nớc;
- Tài sản khác có liên quan đến đơn vị kế toán;
- Các luồng tiền.
25
Các báo cáo tài chính phác hoạ những ảnh hởng tài chính của các giao dịch,
các sự kiện bằng cách tập hợp chúng lại thành các khoản mục lớn theo tính chất
kinh tế của chúng. Những khoản mục này đợc gọi là các yếu tố của báo cáo tài
chính, và cũng chính là những thông tin cơ bản cần phải trình bày trên các báo cáo
tài chính. Cụ thể:
+ Thông tin chủ yếu trên Bảng cân đối kế toán là tài sản và nguồn vốn. Trong
đó, tài sản bao gồm tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn, nguồn vốn bao gồm nợ phải
trả và nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp.
+ Thông tin chủ yếu trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh gồm có thu
nhập (bao gồm cả doanh thu và lãi), chi phí (bao gồm các khoản lỗ cũng nh các chi
phí phát sinh trong chu kỳ hoạt động kinh doanh bình thờng của doanh nghiệp: giá
vốn hàng bán, tiền lơng, chi phí khấu hao).
+ Các thông tin trên Báo cáo lu chuyển tiền tệ chính là các yếu tố của Báo cáo
kết quả hoạt động kinh doanh và sự biến động của các yếu tố trên Bảng cân đối kế
toán. Báo cáo lu chuyển tiền tệ trình bày các luồng tiền trong kỳ đợc phân loại thành
các hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu t, hoạt động tài chính theo cách thức phù
hợp nhất với đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Những thông tin chủ yếu của Bản thuyết minh báo cáo tài chính là phần trình
bày khái quát về đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; niên độ
kế toán, đơn vị tiền tệ sử dụng trong kế toán; chế độ kế toán áp dụng; tuyên bố về
việc tuân thủ Chuẩn mực kế toán, Chế độ kế toán Việt Nam; các chính sách kế toán


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status