i
MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ v
LỜI CẢM ƠN 1
PHẦN MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG I:TỔNG QUAN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH
NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 4
1.1. Tổng quan về cạnh tranh của doanh nghiệp 4
1.1.1. Khái niệm cạnh tranh 4
1.1.2. Phân loại cạnh tranh 5
1.1.3. Các công cụ cạnh tranh 6
1.1.4.Vai trò của cạnh tranh 11
1.2. Tổng quan về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 13
1.2.1. Khái niệm về năng lực cạnh tranh 13
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 18
1.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
trong nền kinh tế thị trường 22
1.2.3.1. Các nhân tố môi trường vĩ mô 22
1.2.3.2. Các nhân tố thuộc môi trường vi mô 25
1.2.3.3. Các nhân tố thuộc môi trường nội bộ doanh nghiệp 28
1.2.4. Vai trò của việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 30
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG
TY CỔ PHẦN CÀ PHÊ MÊ TRANG 31
2.1. Giới thiệu về Công ty 31
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển 31
2.1.2. Chức năng và nhiệm vụ của doanh nghiệp 33
2.1. 2.1. Chức năng của doanh nghiệp 33
ii
iii
2.2.3.2. Những hạn chế 85
CHƯƠNG III MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC
CẠNH TRANH TẠI THỊ TRƯỜNG NHA TRANG 87
3.1. Dự báo về nhu cầu tiêu thụ sản phẩm cà phê tại thị trường Nha Trang
nói riêng và thị trường Việt Nam nói chung 87
3.2. Cơ hội và thách thức đối với năng lực cạnh tranh của Công ty. 88
3.3. Mục tiêu của Công ty 88
3.4. Các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần
cà phê Mê Trang 89
3.4.1 Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu thị trường 89
3.4.2. Tuyển chọn, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 92
3.4.3. Đẩy mạnh chuyển giao công nghệ và đầu tư máy móc trang thiết
bị hiện đại 95
3.4.4. Tăng cường việc huy động vốn 96
3.4.5. Đảm bảo nguồn cung nguyên liệu ổn định 98
3.4.6. Không ngừng cao chất lượng sản phẩm 99
3.4.7 . Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại, và phát triển thương
hiệu của Công ty 100
2.4.8. Một số kiến nghị 103
KẾT LUẬN 105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
iv
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh 2007-2009 40
Bảng 2.2: Tình hình tài sản của Công ty 2007-2009 42
Bảng 2.3: Tình hình nguồn vốn của Công ty 2007-2009 45
Sau gần hơn 3 tháng thực hiện đề tài tốt nghiệp với sự cố gắng của mình
cùng sự giúp đỡ nhiệt tình của quí thầy cô và mọi người xung quanh.Cuối cùng
tôi đã hoàn thành xong đề tài thực tập của mình.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cô giáo Mai Thị Linh đã tận tình giúp
đỡ tôi trong quá trình làm đề tài, ban giám hiệu trường Đại học Nha Trang, các
thầy cô khoa Kinh Tế, đặc biệt các thầy cô trong Bộ môn Kinh Tế Thương Mại,
các bạn sinh viên khóa 48, đặc biệt lớp 48KTTM cùng toàn thể các Anh/Chị
trong Công ty cổ phần cà phê Mê Trang, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi có
thể hoàn thành tốt đề tài của mình.
Mặc dù được sự giúp đỡ tận tình của thầy cô, Anh/Chị và bạn bè nhưng do
hạn chế về trình độ chuyên môn, kinh nghiệm thực tế và tài liệu tham khảo nên
nội dung đề tài còn nhiều vấn đề thiếu sót. Rất mong sự góp ý kiến của các thầy
cô, Anh/Chị và bạn bề để nội dung đề tài được hoàn thiện hơn. Tôi xin chân
thành cảm ơn.
Nha Trang, ngày…., tháng……,năm ……
Sinh viên thực hiện
Phạm Thị Duyên 2PHẦN MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài:
Cạnh tranh là quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trường, trong một thị
pháp nghiên cứu trong đó có các phương pháp sau: phương pháp phân tích thống
kê, phương pháp so sánh, phân tích logic, phương pháp phân tích tổng hợp, kết
hợp giữa lý luận và thực tiễn để phân tích và lý giải…
6. Kết cấu đề tài: Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham
khảo, đề tài gồm ba chương.
Chương 1: Tổng quan về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền
kinh tế thị trường.
Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần cà phê
Mê Trang.
Chương 3: Một số biện pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của
Công ty cổ phần cà phê Mê Trang.
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn chỉ bảo tận tình của giảng viên
Mai Thị Linh, cùng sự giúp đỡ nhiệt tình của các cô chú, anh chị cán bộ công
nhân viên trong Công ty cổ phần cà phê Mê Trang đã giúp đỡ em trong quá trình
thực hiện đề tài này. 4CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1. Tổng quan về cạnh tranh của doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm cạnh tranh
Cạnh tranh nói chung, cạnh tranh trong nền kinh tế nói riêng là một khái
niệm có nhiều cách hiểu khác nhau. Khái niệm này được sử dụng cho cả phạm vi
doanh nghiệp, phạm vi ngành, phạm vi quốc gia hoặc phạm vi khu vực liên quốc
gia… Ở đây, khái niệm cạnh tranh trong kinh tế chỉ xem xét trong phạm vi giữa
các doanh nghiệp. Với mỗi góc độ tiếp cận khác nhau thì khái niệm cạnh tranh
- Cạnh tranh giữa những người mua với nhau: mức độ cạnh tranh phụ
thuộc vào quan hệ cung- cầu trên thị trường. Khi cung nhỏ hơn cầu thì cuộc cạnh
tranh trở nên gay gắt, giá cả hàng hóa và dịch vụ sẽ tăng lên, người mua phải
chấp nhận giá cao để mua được hàng hóa mà họ cần.
- Cạnh tranh giữa những người bán với nhau: là cuộc cạnh tranh nhằm
giành giật khách hàng và thị trường, kết quả là giá cả giảm xuống và có lợi cho
người mua. Trong cuộc cạnh tranh này, doanh nghiệp nào tỏ ra đuối sức, không
chịu được sức ép sẽ phải rút lui khỏi thị trường, nhường thị phần của mình cho
các đối thủ mạnh hơn.
Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế
- Cạnh tranh trong nội bộ ngành: là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
trong cùng một ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hóa hoặc dịch vụ. Kết quả
của cuộc cạnh tranh này làm cho kỹ thuật phát triển.
- Cạnh tranh giữa các ngành: là cuộc cạnh tranh cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp trong các ngành kinh tế với nhau nhằm thu được lợi nhuận cao nhất.
Trong quá trình này có sự phân bố vốn đầu tư một cách tự nhiên giữa các ngành,
kết quả là hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân.
Căn cứ vào tính chất cạnh tranh
Cạnh tranh được phân làm 3 loại:
- Cạnh tranh hoàn hảo ( Perfect Competition): là hình thức cạnh tranh giữa
nhiều người bán trên thị trường trong đó không người nào có đủ ưu thế để khống 6chế giá cả trên thị trường. Các sản phẩm bán ra đều được người mua xem là đồng
nhất, tức là không khác nhau về quy cách, phẩm chất và mẫu mã.
- Cạnh tranh không hoàn hảo ( Imperfect competition): là hình thức cạnh
tranh giữa những người bán có các sản phẩm không đồng nhất với nhau. Mỗi sản
Nâng cao chất lượng sản phẩm có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc
tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, thể hiện trên các góc độ:
- Chất lượng sản phẩm tăng lên sẽ thu hút được khách hàng, tăng được
khối lượng hàng hóa tiêu thụ, tăng uy tín của sản phẩm, mở rộng được thị trường,
từ đó tăng doanh thu, tăng lợi nhuận, đảm bảo hoàn thành các mục tiêu mà doanh
nghiệp đề ra.
- Nâng cao chất lượng sản phẩm có nghĩa là nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh.
Giá bán sản phẩm
Giá cả được sử dụng làm công cụ cạnh tranh thông qua các chính sách
định giá bán sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường. Một doanh nghiệp có
thể có các chính sách định giá sau:
- Chính sách định giá thấp.
Đây là cách định giá bán thấp hơn mức giá thị trường. Chính sách định giá
thấp có thể hướng vào các mục tiêu khác nhau, tùy theo tình hình sản xuất và thị
trường và được chia ra các cách khác nhau:
+ Định giá thấp so với thị trường nhưng cao hơn giá trị sản phẩm; doanh
nghiệp chấp nhận mức lãi thấp. Nó được ứng dụng trong trường hợp sản phẩm
mới thâm nhập thị trường, cần bán hàng nhanh với khối lượng lớn, hoặc dùng giá
để cạnh tranh với đối thủ.
+ Định giá bán thấp hơn giá thị trường và cũng thấp hơn giá trị sản phẩm:
doanh nghiệp bị lỗ. Cách này được áp dụng trong trường hợp bán hàng trong thời
kỳ khai trương hoặc muốn bán nhanh để thu hồi vốn ( tương tự bán phá giá).
- Chính sách định giá cao.
Định giá bán cao hơn mức giá thống trị trên thị trường và cao hơn giá trị
sản phẩm. Được áp dụng trong các trường hợp sau:
+ Sản phẩm mới tung ra thị trường, người tiêu dùng chưa biết rõ chất lượng
của nó, chưa có cơ hội để so sánh về giá, áp dụng giá bán cao sau đó giảm dần.
xuất. Mục tiêu của bán phá giá là tối thiểu hóa rủi ro hay thua lỗ hoặc để tiêu diệt
đối thủ cạnh tranh. Muốn đạt được mục tiêu này đòi hỏi doanh nghiệp phải có 9tiềm lực tài chính, về khoa học công nghệ, sản phẩm đã có uy tín trên thị trường.
Bán phá giá chỉ nên áp dụng khi sản phẩm bị tồn đọng quá nhiều, bị cạnh tranh
gay gắt, sản phẩm lạc hậu không phù hợp với nhu cầu người tiêu dùng, sản phẩm
mang tính thời vụ, dễ hư hỏng, càng để lâu càng lỗ lớn.
Ngày nay cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội, mức sống của
người dân không ngừng được nâng cao, giá cả không còn là công cụ quan trọng
nhất của doanh nghiệp nữa nhưng doanh nghiệp biết kết hợp công cụ giá với các
công cụ khác thì kết quả thu lại rất to lớn.
Xúc tiến bán hàng
Theo quan niệm của marketing, đây là một trong 4 nhóm công cụ chủ yếu
của marketing - mix mà doanh nghiệp có thể sử dụng để tác động vào thị trường
mục tiêu nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp. Xúc tiến bán
hàng được hiểu là: các hoạt động có chủ đích trong lĩnh vực marketing của các
doanh nghiệp nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội bán hàng hoá và cung ứng dịch vụ.
Nội dung của xúc tiến bán hàng được xác định bao gồm các nội dung chủ yếu:
quảng cáo bán hàng, khuyến mại, tham gia hội chợ triển lãm, bán hàng trực tiếp
và quan hệ công chúng.
Xúc tiến bán hàng là công cụ hữu hiệu trong việc chiếm lĩnh thị trường và
tăng tính cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ của các doanh nghiệp trên thị trường.
Thông qua xúc tiến, các doanh nghiệp tiếp cận được với thị trường tiềm năng của
mình, cung cấp cho khách hàng tiềm năng những thông tin cần thiết, những dịch
vụ ưu đãi để tiếp tục chinh phục khách hàng của doanh nghiệp và lôi kéo khách
hàng của đối thủ cạnh tranh. Hoạt động xúc tiến sẽ tạo ra hình ảnh đẹp về doanh
- Phân phối vật chất: vận chuyển, bảo quản, dự trữ hàng hoá.
- Thiết lập các mối quan hệ: tạo dựng và duy trì mối liên hệ với những
người mua tiềm năng.
Hiện nay, các doanh nghiệp sử dụng nhiều hình thức khác nhau để phân
phối hàng hoá tới người tiêu dùng nhưng về lý thuyết có hai loại kênh phân phối
cơ bản đó là:
Kênh trực tiếp: là loại kênh phân phối trong đó hàng hoá được chuyển
đưa thẳng từ người sản xuất tới người tiêu dùng. 11 Kênh gián tiếp: là loại kênh trong đó có sự tham gia của các trung gian
phân phối.
Căn cứ vào ưu nhược điểm của từng loại kênh phân phối, tình hình thị
trường và đặc điểm hàng hoá của mình mà doanh nghiệp ra quyết lựa chọn loại
kênh nào hoặc là sử dụng kết hợp với nhau.
Việc tổ chức mạng lưới cửa hàng để đưa hàng hoá đến người tiêu dùng
trong các kênh phân phối cũng ảnh hưởng lớn tới khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp. Mạng lưới cửa hàng rộng rãi trên nhiều khu vực, có vị trí ở những nơi
giao thông thuận tiện sẽ tạo ra sự tiện lợi khi mua sắm của khách hàng. Các cửa
hàng có không gian rộng, nội thất trang trí đẹp, hàng hoá bày biện nhiều, đa
dạng, đẹp mắt sẽ thu hút được khách hàng vào mua. Nhờ đó, nó góp phần làm
tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp lên.
Các dịch vụ kèm theo
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh mang tính cạnh tranh cao như hiện
nay, vai trò của các dịch vụ kèm theo hàng hoá ngày càng quan trọng. Nó bao
gồm các hoạt động trong và sau bán hàng như vận chuyển, bao gói, lắp đặt, bảo
dưỡng, bảo hành, tư vấn Cải tiến dịch vụ cũng chính là nâng cao chất lượng
các doanh nghiệp làm cho xã hội ngày càng văn minh, hiện đại, làm phong phú
thêm đời sống vật chất và tinh thần của con người.
Để cạnh tranh lành mạnh và giúp doanh nghiệp phát triển bền vững đòi
hỏi các doanh nghiệp phải quan tâm nhiều hơn đến vấn đề bảo vệ môi trường, tạo
mọi điều kiện thuận lợi để cá nhân ngày càng phát triển toàn diện, xây dựng tác
phong làm việc công nghiệp, nâng cao mức sống của cá nhân và xã hội.
Bên cạnh những mặt tích cực đó thì cạnh tranh cũng có những mặt trái
làm cho môi trường kinh doanh ít an toàn và tình hình xã hội ngày càng phức tạp.
Trong thực tế, để chiếm đoạt được mục đích của mình một số doanh nghiệp đã
dùng nhiều thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh vi phạm đạo đức, pháp luật
nhằm thu được nhiều lợi ích cho mình hoặc làm hàng giả, buôn lậu, trốn thuế, ăn
cắp bản quyền, tung tin giả phá hoại đối thủ cạnh tranh, đồng thời đó là tác nhân
làm phân hóa giàu nghèo ngày càng sâu sắc, phá hủy môi trường.
131.2. Tổng quan về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.2.1. Khái niệm về năng lực cạnh tranh
Thuật ngữ năng lực cạnh tranh được sử dụng rộng rãi trong phạm vi toàn
cầu nhưng cho tới nay vẫn chưa có sự nhất trí cao giữa các học giả, các nhà
chuyên môn về khái niệm cũng như cách đo lường, phân tích năng lực cạnh tranh
ở cấp độ quốc gia, cấp ngành và cấp doanh nghiệp.
Theo từ điển thuật ngữ chính sách thương mại, năng lực cạnh tranh là
năng lực của một doanh nghiệp hoặc một ngành, thậm chí một quốc gia không bị
doanh nghiệp khác, ngành khác hoặc nước khác đánh bại về năng lực kinh tế.
Tổ chức UNCTAD thuộc Liên hiệp quốc cho rằng năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp trong việc giữ vững hoặc tăng thị phần của mình một cách vững chắc
vị trong các đoạn thị trường mục tiêu nhất định (Xem Hình 1.1).
Hình1.1: Khung 7-S theo Mc. Kinsey Nguồn: The 7-S-Model, www.themanager.org
Một ý tưởng khác nhìn nhận năng lực cơ bản theo lý thuyết của chuỗi giá
trị (Xem Hình 1.2), trong đó chỉ rõ giá trị gia tăng mà mỗi tổ chức/ công ty cung
ứng cho khách hàng của mình là sự hợp nhất đầy đủ nỗ lực của các bộ phận chức
năng cơ sở và chức năng hỗ trợ.
Những giá trị
được chia sẻ
(Shared value)
Chiến lược
(Strategy)
Cấu trúc
(Structure)
Hệ thống
- Thứ nhất, các yếu tố sản xuất: bao gồm nhóm các yếu tố cơ bản (nguồn
tài nguyên thiên nhiên, khí hậu, vị trí địa lý, nguồn lao động chưa qua đào tạo
hoặc đào tạo giản đơn, nguồn vốn) và nhóm các yếu tố tiên tiến (các yếu tố
chuyên sâu, bao gồm: cơ sở hạ tầng, thông tin liên lạc, kỹ thuật số hiện đại,
nguồn nhân lực chất lượng cao). Trong hai nhóm yếu tố đó, mô hình chú trọng và
đề cao nhóm yếu tố thứ hai và coi đây là nhóm yếu tố cốt lõi quyết định đến khả
năng cạnh tranh của quốc gia cũng như của các doanh nghiệp.
- Thứ hai, điều kiện về cầu: điều kiện về cầu được thể hiện trực tiếp ở tiềm
năng của thị trường. Thị trường trong nước và thị trường quốc tế ngày càng có
những đòi hỏi cao về chất lượng sản phẩm, dịch vụ và đang có xu hướng quốc tế
hóa, tiêu chuẩn hóa quốc tế về chất lượng hàng hóa, dịch vụ. Do đó, các doanh
nghiệp muốn thành công thì phải tìm cách nâng cao năng lực cạnh tranh của
mình thông qua nâng cao chất lượng đạt tiêu chuẩn quốc tế, nhằm thỏa mãn tối
đa nhu cầu của khách hàng trong và ngoài nước.
Hạ tầng cơ sở của công ty
Quản trị nguồn nhân lực
Phát triển công nghệ
Tổ chức nguồn cung ứng Giá
Hậu Tổ chức Hậu Marketing Dịch Trị
cần sản xuất cần và bán vụ
nội kinh bên hàng
bộ doanh ngoài
Khách
hàng
cạnh tranh của từng ngành trong cụm công nghiệp đó.
- Thứ tư, chiến lược, cơ cấu và mức độ cạnh tranh nội bộ ngành: chiến
lược của công ty có ảnh hưởng lâu dài đến khả năng cạnh tranh của nó trong
Khả năng cạnh tranh của
một ngành/doanh nghiệp
Điều kiện về cầu
Chiến lược cơ cấu và cạnh
tranh nội bộ ngành
Các yếu tố đầu vào
Các ngành công nghiệp
hỗ trợ 17tương lai, bởi vì, các mục tiêu, chiến lược và cách thức tổ chức các công ty trong
các ngành công nghiệp khác nhau rất lớn giữa các quốc gia. Yếu tố này chi phối
đến hoạt động đầu tư, đào tạo nguồn nhân lực, đổi mới công nghệ, phát triển sản
phẩm và thị trường của từng công ty và cả ngành. Để nâng cao năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp, M. Porter đưa ra ba loại chiến lược cạnh tranh như sau:
chiến lược đứng đầu về chi phí, chiến lược khác biệt hóa sản phẩm và chiến lược
tập trung.
+ Với chiến lược dẫn đầu về chi phí: doanh nghiệp sẽ cố gắng để có chi
phí thấp nhất trong ngành kinh doanh của mình và sản xuất những sản phẩm có
cơ sở khách hàng rộng. Chiến lược này đặc biệt phát huy hiệu quả khi yếu tố
quyết định năng lực cạnh tranh dựa trên giá cả. Nhưng một khi các đối thủ cạnh
tranh cũng nỗ lực giảm chi phí thì lợi thế này sẽ có xu hướng bị giảm sút. Hơn
nữa trong khi nỗ lực giảm chi phí, doanh nghiệp có thể bỏ qua những thay đổi về
sở thích, mong muốn và nhu cầu của khách hàng.
giá bằng cả định tính và định lượng.
Sản lượng, doanh thu
Đánh giá kết quả hoạt động của doanh nghiệp thể hiện năng lực đầu ra của
doanh nghiệp. Sản lượng tiêu thụ sản phẩm cao, doanh thu tăng trưởng cao và ổn định
qua các năm chứng tỏ khả năng duy trì và giữa vững thị phần của doanh nghiệp.
Thị phần
Đây là chỉ tiêu cơ bản đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Nó
cho biết khả năng chấp nhận của thị trường với sản phẩm doanh nghiệp cung cấp.
Thị phần sản phẩm dịch vụ của doanh ngiệp lớn hơn chứng tỏ nó có khả năng
cạnh tranh đáp ứng nhu cầu của khách hàng cao hơn so với đối thủ cạnh tranh.
Chỉ tiêu này bao gồm:
+ Thị phần so với toàn bộ thị trường ( T)
Doanh thu (lượng bán) của doanh nghiệp
T = (%)
Tổng doanh thu (lượng bán) trên thị trường
Thị phần của hàng hoá của doanh nghiệp là phần trăm về số lượng hoặc
giá trị của hàng hoá của doanh nghiệp đã bán ra so với tổng số lượng hoặc tổng
giá trị của tất cả các hàng hoá cùng loại đã bán trên thị trường. 19Chỉ tiêu này phản ánh tình hình chiếm lĩnh và khả năng chi phối thị trường
của hàng hoá của doanh nghiệp. Tuy nhiên chỉ tiêu này khó xác định vì khó biết
chính xác được hết tình hình kinh doanh của tất cả các đối thủ.
+ Thị phần so với đối thủ cạnh tranh mạnh nhất ( T
ct
).
Doanh thu(lượng bán) của doanh nghiệp
H =
Tổng doanh thu
Trình độ công nghệ
Thế mạnh công nghệ sẽ trở thành ưu thế vượt trội và đặc thù so với đối
thủ cạnh tranh nếu doanh nghiệp biết đầu tư đúng cách phù hợp với sản
phẩm/dịch vụ, với trình độ, sở trường của nhân viên, với tầm nhìn chiến lược đón
đầu thị trường. Các doanh nghiệp có thế mạnh về khoa học & công nghệ họ luôn
tìm cách rút ngắn vòng đời sản phẩm bằng cách liên tục đổi mới và sáng tạo. Qua
đó mà nâng cao được năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nếu không có đối
thủ cạnh tranh nào thích ứng kịp sự thay đổi công nghệ của doanh nghiệp.
Trình độ khoa học công nghệ của doanh nghiệp được đánh giá dựa vào
các yếu tố như: quan điểm của giới lãnh đạo về công nghệ, quan điểm của đa
phần người lao động về áp dụng công nghệ mới, khả năng tự phát triển công
nghệ, cơ hội tiếp cận công nghệ hiện đại, …
Trình độ quản lý và nguồn nhân lực
Các tiêu chí này phản ánh chất lượng nguồn nhân lực phục vụ cho hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm:
- Chất lượng nguồn lao động: Người lao động được coi trọng, đào tạo và
đãi ngộ tốt sẽ trở thành sức mạnh nội lực vô cùng lớn cho sự phát triển và cạnh
tranh của doanh nghiệp.
- Chất lượng đội ngũ quản lý: thể hiện thông qua khả năng tổ chức công
việc, sử dụng đúng người cho từng công việc cụ thể, chất lượng và hiệu quả của
các chiến lược kinh doanh, tầm nhìn dài hạn đạt được mục tiêu tăng trưởng trong