TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC
NGOẠI
THƯƠNG
KHOA
KINH
TẾ
VÀ KINH
DOANH
QUỐC
TÊ
CHUYÊN NGÀNH
KINH
TẾ
ĐỐI
NGOẠI
KHÓA
LUẬN
TỐT
NGHIỆP
Đề
tài:
LỢI
THÊ
CẠNH TRANH CỦA CÀ
PHÊ
VIỆT
NAM
TRONG
HÀ NÔI
-
2008
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU Ì
CHƯƠNG
ì:
LÝ THUYẾT VÊ LỢI THẾ CẠNH TRANH 4
li
Khái
niệm
về
lợi
thế
cạnh
tranh
và
vai
trò của
việc
nghiên cứu
lợi
thê
cạnh
tranh trong
thương mại
quốc
tế
4
1.
thuyết
"mô hình kim cương" 7
Ì.
Yếu
tố
sản
xuất
đầu vào
(Factor
conditions)
9
2.
Điều
kiện
về cầu
thị
trường (Demand
conditions)
14
3.
Các ngành liên
quan
và hỗ
trợ
(related
and
supporting
industries)
19
4.
VIỆT NAM TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 28
ì/
Thực
trạng
lợi
thế
cạnh
tranh
của cà phê
Việt
Nam phân tích
theo
"mô
hình kim cương" 28
Ì.
Yếu
to
sản
xuất
đầu vào 28
2. Điều
kiện
về cầu
thị
trường 39
3.
Các ngành liên
quan
và hỗ
trợ
Thành
tựu
48
2.
Tồn
tại
51
KẾT
LUẬN
CHƯƠNG
li
57
CHƯƠNG
HI:
MỘT
SÒ GIẢI PHÁP
VÀ
KIỀN NGHỊ NHẰM NÂNG
CAO LỢI
THẺ
CẠNH TRANH
CHO CÀ PHÊ
VIỆT
NAM 59
ì/
Định hướng
tổng
quát
để
phát
cao
chất
lượng của
sản
phàm
61
4.
Đa
dạng hoa sản
phẩm
cà
phê
63
5.
Đây
mạnh
công
tác
xúc
tiên
thương
mại
nhăm
mờ
rầng
thị
trường
xuất
khâu và
tăng tiêu
mại quốc
tế
66
1.
Nhóm
giải
pháp nhằm
phát
triển
các
yếu
tố
sàn
xuất
đầu
vào
66
2.
Nhóm
giải
pháp nhằm
phát
triển
các
điều
kiện
về cầu
thị
trường
67
IU
81
KÉT
LUẬN
82
TÀI
LIỆU
THAM KHẢO 83
Khoa luận
tết
nghiệp
Phạm Hoàne Miên -A16 K43D
LỜI
MỞ ĐÀU
TÍNH CẮP THIẾT CỦA ĐÈ TÀI
Có
thể nói,
cà phê là một
trong
những
loại
cây
trồng
đem
lại
hiệu
quả
kinh
tế
cao
lưứng
cuộc
sống
ngày càng đưức nâng cao thì nhu câu của các quôc
gia
vê
các đô
uổng
xa xỉ ngày càng
gia
tăng
nhanh
chóng. Bên
cạnh
trà,
cà phê
luôn là
thứ
đồ
uống
lý tường giúp đem
lại tinh
thần
hứng
khơi và
trờ
thành
nét văn hoa không
thế
thiếu
50.000
ha
diện
tích
trồng
cà
phê,
Việt
Nam đã
trờ
thành nước sán xuât
cà phê đứng
thứ hai thế
giới
sau
Brazil
và là nước đứng đâu thê
giới
về sản
xuất
cà phê
Robusta.
Do
đó,
Việt
Nam là cái tên không
thề
thiếu trong việc
xem xét sự
biến
la;
điều
này làm cho tông giá
trị
cà phê
xuất
khấu
nước
ta
vẫn
là một con số khiêm
tốn.
Trước
thực tế đó,
câu
hỏi đặt ra
là
liệu
cà phê
Việt
Nam có
thực
sự đủ sức
cạnh
tranh
trên
thị
ừường
thế
giới
cạnh
tranh
của ngành cà phê
Việt
Nam là một
việc
làm không
thể
bỏ
qua.
Đây
cũng
chính là lý do
người
viết
lựa
chọn
đề tài
"Lợi
thế cạnh
tranh
của cà
phê
Việt
Nam
trong
thương mại quốc
tế".
Khoa Kinh
tê
pháp cơ bản nhằm nâng cao
lợi
thế
cạnh
tranh
của
cà phê
Việt
Nam
PHẠM
VI NGHIÊN cứu
- về mặt
thời
gian:
Khoa
luận
đi sâu tìm
hiểu
tình hình sàn xuât cà phê
cùa
Việt
Nam
giai
đoạn
từ
năm
2000
đến nay
- về mặt không
gian: Tinh
von,
các chính sách của Chính
phủ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu
- Phương pháp
thống
kê
kinh tế:
Tổng
hợp,
phân tích số
liệu
và rút ra
bàn
chất
vấn đề
- Phương pháp phân tích tông hợp: Phân tích vân đê
dưới
nhiêu góc
cạnh,
sau
đó
tổng
hợp và tìm
ra
những
đặc
điếm
nổi bật
- Phương pháp mô hình
Việt
Nam, bao gồm cả yếu
tố
khách
quan
như vị
trí
địa
lý,
thời
tiết,
khí hậu và yểu
tố
chủ
quan
như
nguồn
nhân
lực,
trình độ
công
nghệ
Khoa Kỉnh
tế
và Kinh doanh Quác
tê
2
Khoa luận
tốt
nghiệp
tranh
Chương
li:
Thực
trạng
lợi
thế
cạnh
tranh
cùa cà phê
Việt
Nam
trong
thương
mại quốc
tế
Chương
IU:
Một
số
giải
pháp và
kiến
nghị
nhằm nâng
cao
lợi
thế
cạnh
tranh
hiện
khoa
luận.
Do
kiến
thức
có
hạn, khoa
luận
tốt
nghiệp
của em khó có
thể
tránh
khỏi
những
sai sót,
rát
mong
thây cô và bạn bè có ý
kiến
đóng góp đề
khoa
luận
được hoàn
thiện
hơn.
Khoa Kinh
tê
và Kinh doanh Quác
Longman của Anh định
nghĩa
cạnh
tranh
là sự nỗ
lực
để đạt
thành công hơn
những
đối thù của
minh (Longman Business
English
Dictionary,
2000,
competition
trang
8, nhà
Xuất
bản
Pearson
Education),
còn
lợi
thế là
cái mà nhờ
đó,
chúng
ta
có được
nhiều
tiếng
Việt,
2004,
trang
112,
nhà
Xuất
bản
Đà
Nang).
Còn
lợi
thể là
thế
có
lợi,
điều
kiện
có
lợi
hơn
người
khác
(như
trên,
trang
587).
Vậy
lợi
thể
đặc thù
tạo
ra
ưu
thế
cho một khía
cạnh
nào đó cùa một
quốc
gia
hoặc
ngành
kinh
doanh
của
quốc
gia
đó,
như
những
điêu
kiện
tự
nhiên,
tài
nguyên hay con
người.
Ví
dụ nguồn
nhân công
Chẳng
hạn,
các nước nôi
tiếng
về du
lịch
như Ý và Thái Lan đã
tận
dụng
lợi
thế
so sánh về thiên nhiên và các công trình văn hoa
di
tích
lịch
sư
Khoa Kinh
tê
và Kình doanh Quốc
tê
4
Khoa luận
tốt
nghiệp
Phạm Hoàne Miên -A16 K43D
để phát
triển
ngành công
nghiệp
không khói này
theo,
từ dịch
vụ khách
sạn,
nhà hàng,
lê
hội
đến các
dịch
vụ
vui
chơi
giải
trí,
các
trung
tâm mua sắm và các
chương trình
tiếp
thị
toàn
cầu. Điều
đó đã
tạo
cho họ có
lủi
thế cạnh
tranh
quốc
gia
quốc
dân.
Còn xét trên khía
cạnh doanh
nghiệp, lợi
thế
cạnh
tranh
là
những
lủi
thế
mà nhờ
đó, doanh
nghiệp
duy
tri
hoặc gia
tăng
lủi
nhuận,
thị
phần
trên
thị
trường
cạnh
tranh
của sản phẩm. Hay
theo
lợi
thế cạnh
tranh
là
những
lủi
thế
mà
nhờ đó,
mặt hàng này có
thể
đứng
vững
trên
thị
trường,
tiếp
cận khách hàng,
đem
lại lủi
nhuận
cao cho
doanh
nghiệp
sản
xuất.
Tựu chung
lại,
có thê nói
lợi
gia
đó.
Vậy
lợi
thế
cạnh
tranh
cùa cà phê
Việt
Nam là
những
lủi
thế
mà nhờ
đó,
mặt hàng cà phê có
thể
đứng
vững
trên
thị
trường,
đem
lại
việc
làm và
thu
nhập
cao hơn cho
người
2. Vai
trò của
việc
nghiên cứu
lọi
thế
cạnh
tranh
Lý
thuyết
về
lợi
thế cạnh
tranh
đề cập đến một cách
tiếp
cận mới
nhầm
trả
lời
những
câu hòi như:
Tại
sao các
quốc
gia
lại
thành công
trong
những
trên
thị
trường
quốc tế?
Như
vậy,
việc
nghiên cứu
lợi
thế cạnh
tranh
của
doanh
nghiệp,
của
ngành,
của
quốc
gia
và vùng sẽ giúp cho các
doanh
nghiệp
và các chính phù
lựa
chọn
được
những
chiến
lược
kinh
và hiêu biêt
thực
tê vê
môi trường
quốc
gia
cũng
như cách
thức
đồ
cải
thiện
môi trường đó. Chính
phủ
của các
quốc
gia, với
phận
sự của mình,
phải
xây
dựng
các mục tiêu và
mức năng
suất
hợp lý làm
trụ cột
cho sự
phồn
vinh
trong
một
thế
giới
của sự đôi mới và
cạnh
tranh
rộng
rãi.
Khi
quá trình toàn cầu hoa
cạnh
tranh trờ
nên
khốc
liệt,
một số
người
đã cho
rằng
vai
trò của các
quốc gia
đang ngày càng
giảm đi.
Nhưng trên
thực
tế,
quá trình
quốc
cạnh
tranh
toàn cầu đe doa
chứng
tỏ
nó có sự gắn
kết
với
thành công
trong
quá trình
cạnh
tranh
này.
Như
vậy, việc
nghiên cứu
lợi
Khoa Kinh
tê
và Kinh doanh Quốc
tê
6
Khoa luận
tất
nghiệp
Phạm Hoàng Miên -A16 K43D
thê
cạnh
tranh
như Chính phủ nắm rõ được
lợi
thế
của ngành mình, của
quốc gia
mình
trong
môi trường
cạnh
tranh
toàn
cầu,
qua đó có
những
đối
sách hợp lý để nâng cấp
những
lợi
thế
cạnh
tranh,
tạo
ra
vị
thế
cho cà phê
Việt
Nam trên
thị
trường
những
phương
hướng
hoạt
động và mục tiêu phát
triển,
khắc phục
điếm
yếu và
san bằng khoảng
cách
với đối thủ
cùa
minh.
li/ Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh quốc gia của Michael Porter - lý
thuyêt "mô hình kim cương"
Trong
lý thuyêt
lợi
thê
cạnh
tranh
quôc
gia
được đê xuât năm 1990,
nhà
kinh
tê học
người
Mỹ
Nói
tồng
quát
hơn,
sức
cạnh
tranh
cua một
quốc
gia
phụ
thuộc
vào sức
cạnh
tranh
của các ngành
trong
nền
kinh
tế.
Sức
cạnh
tranh
của một ngành
lại
xuất
phát
tả
năng
lực
chỉ
thuần
là
lao
động,
vòn, tài nguyên thiên nhiên mà còn là
những
đầu vào do chính
doanh
nghiệp
hoặc
chính phủ
tạo
ra.
Với
cách nhìn
nhận
như
vậy,
Michael
Porter
cho
rằng
bốn yếu
tố
quyết
định
lợi
thế cạnh
tranh
đầu vào
(Factor
conditions);
cầu thị trường (Demand
conditions);
các ngành hỗ trợ
và có liên
quan
(Related
and
Supporting
Industries),
được
biểu
thị bời sơ đồ
như sau:
Hình 1: Mô hình kim cương cùa Michael Porter
Fừm strategy,
structure
and
rivalry
(chiến
lược,
cơ cấu
tổ
chức
và
cạnh
tranh
của doanh
ờ đây có
nghĩa
là sự tồn tại cùa yếu tố này
có tác đỳng
trực
tiếp
tới
sự
tồn
tại
cùa yếu
tố
kia.
Nêu
thiếu
bất
kỳ mỳt yếu
Khoa Kinh
tê
và Kinh doanh Quốc
tê
Khoa luận
tốt
nghiệp
Phạm Hoàng Miên -A16 K43D
tố
nào
thì
mô hình
sẽ bị
hệ bên
ngoài,
có
thể
có
hoặc
không. Nếu có sẽ gây
những
tác động
nhất
định
tổi
bốn yếu tố
trong
mô
hình,
có
thề
là tác động tiêu cực hay tích
cực,
làm cho mỗi yếu
tố
tong
mô
hình
thay đổi
theo
chiều
hưổng
xấu
để
cạnh
tranh trong
một ngành cụ
thể.
Mỗi
quốc
gia
đều sờ hữu
những điều
kiện
mà các nhà
kinh tế
học
gọi
là
yểu
tố
sản xuất đầu
vào.
Yêu tô sản xuât không gì khác hơn là
những
đầu
vào cần
thiết
để
cạnh
tranh trong bất
kỳ ngành
nào,
khẩu những
hàng hoa sử
dụng
tập
trung
các yếu tố đầu vào mà
quốc
gia đó có sẵn.
Những yếu
tố
đầu vào có tác động
quan
trọng
nhất
tổi lợi
thế cạnh
tranh
ờ
trong
hầu
hết
các ngành, đặc
biệt
là
những
ngành
sống
còn
đối
vổi
lại
khác
nhau.
Do đó,
các yếu
tố
đầu vào ờ
bất
kỳ
thời
điểm
nào
cũng
không
quan
trọng
bằng tốc
độ hình
thành,
phát
triển
và chuyên
biệt
hoa các yếu
tố
đó cho
từng
ngành cụ
Khoa Kinh
tê
định
trong
các yếu
tố
đâu vào này
chi
có
thế
góp
phần
duy trì thành công
cạnh
tranh
nếu có các
chiến
lược tác động và
đổi
mới.
Đe đánh giá
vai
trò của các yếu
tố
đầu vào
trong
lợi
thế
cạnh
tranh
của
một quốc gia
nhấn
mạnh
yếu
tố
chất
lượng
của nguồn
nhân
lục
như kỹ
năng,
trinh
độ đào
tạo
của
người
lao
động,
chi
phí nhân sụ
(kề
cả
đội
ngũ quàn
lý),
giờ
làm
việc
tiêu chuân và
nội
số
lượng,
chất
lượng,
khả năng
tiếp
cận và
chi
phí sử
dụng
đất
đai, nước,
khoáng
chất,
gỗ,
các
nguồn
thúy
điện, đất
nuôi
trồng
thúy
sản
Các
điều
kiện
về khí
hậu,
vị
trí
lục
tri
thức
này
thường
được phát
triển
trong
các trường
đại học,
các
viện
nghiên cứu của
chính phù, các
trung
tâm nghiên cứu tư nhân, các cơ
quan
thống
kê chính
phủ,
sách
báo, tạp
chí
kinh
doanh
và
khoa
học,
các báo cáo và cơ sờ dữ
liệu
Khoa luận
tắt
nghiệp
Phạm Hoàne Miên - Ạ 16 K43D
- Nguồn von: là lưu lượng và
chi
phí vốn để tài
trợ
cho các ngành.
Vòn không
phải
là
nguồn
lực
đồng
nhất
mà có được
từ
nhiều
hình
thức
khác
nhau
như nợ không bảo đảm, nợ có bảo đảm, các
khoản
vay
rủi
ro cao,
vòn
kinh
kiệm
và cấu trúc
thị
trưỷng vốn của nước
đó,
và
hai
yếu
tố
này ở mỗi nước là khác
nhau.
Quá
trinh
toàn cầu hoa
thị
trưỷng vốn và dòng vốn lưu
chuyền
giữa
các
quốc gia
với
quy mô
lớn
khiên cho các
điều
kiện
giũa
các quôc
gia trỷ
nên đông nhát
dụng
các cơ sớ
hạ tầng
có tác động
tới
cạnh
tranh,
kề cả hệ
thống
giao
thông,
hệ
thống
viễn
thông,
dịch
vụ bưu chính, phương
thức
chuyên tiên
hoặc
thanh
toán, chăm
sóc sức
khoe
v.v.
Cơ sỷ hạ
tầng
cũng
bao gồm
những
lệ
yếu
tố
đầu vào) có sự
khác
nhau
giữa
các ngành. Các
doanh
nghiệp
của một
quốc gia
sẽ giành
được
lợi
thế
cạnh
tranh
nêu
doanh
nghiệp
có được yêu tô đâu vào
với chi
phí
thấp
hoặc
với chất
lượng đặc
biệt
cao.
như công
nghệ
được sử
dụng, bỷi
trên
thực
tế,
giá
trị
của một số yếu
tố
đầu vào
nhất
định có
thể thay đổi
đáng
kể
theo
công
nghệ
sử
dụng.
Bên
cạnh đó,
các yếu
tố
nguồn
nhân
lực,
tri
vê
khoa
học và kỹ
thuật.
Khả năng
di chuyển
này
hiện
nay càng được tăng
cường
do hệ
thống
thông
tin
liên
lạc
và đi
lại
ngày càng
thuận
lợi.
Như
vậy,
có
thế
thấy
rằng,
sờ hữu các yếu
to
đầu vào chưa hịn là một
thác các yếu
tố
dễ dàng
di
chuyển
này.
Ngay
cả
đối với
những quốc
gia
sờ hữu
nguồn
yếu
tố
đầu vào
phong
phú,
việc
duy trì
lợi
thế cạnh
tranh
cũng
phụ
thuộc
rất
nhiều
vào
việc
sô
hiện đại,
lực
lượng
lao
động có trình độ cao như các kỹ sư cơ khí,
kỹ
sư túi
học,
các
viện
nghiên cứu và các trường
đại
học
trong
các
lĩnh
vực
phát
triển
trình độ
cao.
Trong
giai
đoạn
phát
triển
ban
đầu,
đầu vào cơ bản là
do đó tầm
quan
trọng
của các yếu
tố
này
trong việc tạo
ra
lợi
thế
cạnh
tranh
cũng giảm dần.
Trên
thực
tế,
các yếu
tố
đầu vào cơ bản
hiện
vẫn
đóng
vai
trò
quan
trọng trong
các ngành
khai
khoáng
hoặc
dựa trên sự độc đáo,
cải
tiến
cùa sản phẩm và
việc
áp
dụng khoa
học công
nghệ
hiện
đại
vào sản
xuất.
Việc
tạo ra
và sử
dụng
đầu vào cao cấp đòi hòi
phải
có đầu tư
lớn
và
lâu dài về nhân
lực,
vật lực
và
kết
quả của nó thường
tạo ra
khả năng
lượng nhân công được đào
tạo
ờ
trinh
độ cao
đắng,
các yếu
tố
này có
thề
được sử
dững,
khai
thác
trong
rất nhiều
ngành
khác
nhau.
Các yếu
tổ
đầu vào chuyên
biệt
hóa bao gồm
lực
lượng
lao
động
có trình độ
cao,
phữc
vữ cho các
lợi
thế
ban
đâu.
Những yêu tô này thường có ờ
rất nhiều
nước và dê dàng bị vô
hiệu
hóa,
bị hóa
giải
hoặc
có thê tiêp cận thông qua hệ thông
doanh
nghiệp
toàn
cầu.
Còn các yếu
tố
đầu vào chuyên
biệt
đòi hòi
phải
có đầu tư xã
hội
và tư
nhân một cách
tập
tố
đâu vào
chuyên
biệt
chỉ có
thề
tiếp
cận
tại
nơi
doanh
nghiệp
đóng
trữ
sờ chính và
thường
không có
hiệu
quả
tại
một địa
điểm
ờ nước ngoài.
Như
vậy,
có
thể
nhận
thấy rằng
lợi
vi
của
lợi
thế
cạnh
tranh
có
thề
có được
cũng
như
tốc
độ nâng cấp
lợi
thế
cạnh
tranh
đó.
Ngược
lại,
lợi
thế
cạnh
tranh
chì dựa trên các yếu
tố
đầu vào cơ bàn
/ chung
thường
không
loại
đẩu vào đó.
Khoa Kinh
tê
và Kinh doanh Quác
tề
13
Khoa luận
tốt
nghiệp
Phạm Hoàne Miên -A16 K43D
Bên
cạnh
đó,
lợi
thế
từ yếu tố đầu vào có một đặc trưng
rất
quan
trọng.
Đó là tiêu
chuẩn
tạo
nên một yếu
tố
đầu vào cao cấp
cũng
như chuyên
biệt
luôn tàng dần
chí sẽ làm suy
giảm
lợi
thế
cạnh
tranh
của mỗi
quốc
gia.
2. Điểu kiện về cầu thị trưỗng (Demand conditions)
Yêu
tố thứ
hai
của
lợi
thế cạnh
tranh
quốc gia
trong
một ngành
theo
Michael Porter
là các
điều
kiện
ve cấu
trong
nước
đối với
sản phàm hay
của câu
trong
nước
là
kết
cấu của cẩu
(hay
bản chát của nhu câu khách
hàng),
quy mô và cơ cẩu tăng trưởng của cầu và cơ chế quốc
tế
hóa cầu
trong
nước.
- Kết cấu cầu
trong
nước:
Michael Porter
khẳng
định,
tác động
quan
trọng
nhất
cùa cầu
trong
nước
đối với
lợi
thế
lợi
thế
cạnh
tranh trong
những
ngành
hoặc
phân ngành mà cầu
trong
nước giúp cho các công
ty
nhận
ra
nhu
cầu
cùa khách hàng sớm hơn và rõ ràng hơn so
với đối
thú
cạnh
tranh
nước
ngoài.
Các nước
cũng
có được
lợi
thế
cạnh
tranh
nếu khách hàng
Khoa Kinh
tê
và Kinh doanh Quốc
tê
14
Khoa luận
tốt
nghiệp
Phạm Hoàne Miên -A16 K43D
thê
cạnh
tranh
này.
Kết
cấu cầu
trong
nước có 3 tính
chất
có tầm
quan
trọng
đặc
biệt
đối với
lợi
thế
cạnh
tranh:
Thứ nhất
là
cầu
trong
nước nhưng
chiêm vị
trí ít
quan
trọng
hơn ờ
những
nước khác. Bên
cạnh
đó, kích thước
của
phân đoạn
cũng
quan
trọng
đối với
lợi
thế
quốc
gia khi
ngành đó thề
hiện
tính
kinh
tế theo
quy mô.
Vai
trò
coi
là
ít
hấp dẫn thường được xếp ờ vị trí ưu tiên
thấp
hơn
trong việc
thiết
kế sản phẩm, sản
xuất
và phân bổ
nguồn
lẫc marketing,
đặc
biệt
là
trong
những
ngành mới hay đang phát
triển.
Những phân đoạn được
coi
là
kém
lợi
nhuận
(chẳng
hạn như
những
phân đoạn nằm ở
nước
cũng
sẽ có xu hướng nhường
những
phân đoạn "kém
hấp dẫn"
đó cho
đối thủ
cạnh
tranh
nước
ngoài.
Như
vậy,
điều dễ dàng
nhận
thấy
là nếu
trong
thị
trường của một
quốc
gia xuất
hiện
những
phân đoạn
thị
trường
lớn
thì
Khoa luận
tắt
nghiệp
Phạm Hoàne Miên - Ạ 16 K43D
Thứ
hai
là khách hàng sành
sỏi
và đòi hòi
cao:
Michael
Porter
khẳng
định
bản
chất
khách hàng
trong
nước
quan
trọng
hơn
kết
cấu phân
đoạn
của
câu.
Các
doanh
nghiệp
người
mua. Sự gần
gũi
cả về mặt địa lý và vãn hoa
đối với những
khách
hàng như vậy sẽ giúp các còng
ty
của nước đó
nhận ra nhũng
nhu câu mới.
Nó
cũng
đem
lại
sự gắn
kết
chặt
chẽ
trong
quá trình phát triên và
khi
các
khách hàng
cũng
chính là các
doanh
nghiệp
thì sẽ
tạo
dịch
vờ
của
sản phẩm. Khách hàng có
thể
có nhu cầu đòi hòi cao
vi nhiều
lý do khác
nhau,
bao gồm địa lý, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên sẵn có,
thuế,
tiêu
chuẩn
bắt buộc
chặt
chẽ và các
chuẩn
mực xã
hội
hay
thị
hiếu
dân
tộc.
Như
vậy,
áp
lực cạnh
tranh
thúc đẩy
nếu nhu
cẩu
cùa khách hàng
trong
nước dự báo được
nhu
cầu của
những
nước
khác.
Việc
này
nghĩa
là nhu cầu
trong
nước sẽ đem
lại
một dấu
hiệu
sớm về nhu cẩu
chung
của khách hàng mà sẽ
trờ
nên phổ
biến
sau đó. Nêu nhu cầu
trong
nước chậm
phản
ánh
những
giá
trị
xã
hội
hay chính
trị
báo
hiệu
trước
những
nhu cầu sau này sẽ
xuất
hiện
ờ
những
nơi khác,
hoặc
cũng
có
thề
do các điều
kiện
về yếu
tố
đầu vào, hay
những
quy định được ban hành đi trước các nước khác. Tất cả
những
điều
chứ không
chỉ
nhu cầu
trong
nước thì quy mô vả
cơ câu tăng trường cứa cầu
thị
trường
trong
nước có
thế
cúng cố và tăng
cường
lợi thế
quốc
gia trong
một ngành. Và trên
thực
tế,
dung
lượng thị
trường
tron
'
nước có tác động khá
phức
tạp tới lợi thế
quốc
gia
và
lợi
thế
cạnh
tranh trong
những
ngành
thế
hiện
tính
kinh tế
theo
quy mô
bằng
việc
khuyển
khích các công
ty
cứa
một
nước tích cực đầu tư vào
những
cơ sờ sản
xuất
quy mô
lớn,
phát
triển
công
nghệ
và
thị
trường
trong
nước là
quan
trọng
nhất
đối với lợi thế
cạnh
tranh
quốc
gia
tong
một số ngành như
những
ngành có yêu cầu nghiên cứu
phát
triền
lớn,
tính
kinh tế
theo
quy mô
trong
sản
xuất
hoặc
có
những
bước
cho
rằng
thị
trường
trong
nước đem
lại
đứ cơ
hội
và không cần
theo
đuối
thị
trường
quốc
tế.
Việc
này sẽ cản
trờ
sự năng động và
trờ
thành
bất
lợi_thế.
Những thành
phần
[THU V
•:
t
Khoa Kinh
tại
nước chủ nhà sẽ là
điếm
mạnh
hay
điểm
yếu cùa
lợi
thế
cạnh
tranh.
Thứ hai
là yếu
tố
so lượng khách hàng độc
lập:
Theo
Michael
Porter,
sự
có mặt của
nhiều
khách hàng độc
lập trong
một nước sẽ đem
lại
mòi
trường
đổi
mới
khi tạo
ra
mức độ năng động như trường hợp
trên.
số lượng khách hàng
trong
nước
độc lập
cũng
thúc đây sự xâm
nhập
và đầu tư
trong
ngành băng
việc
giám
thiêu
rủi
ro một công
ty
bị đẩy
ra
khói
thị
trường và hạn chế quyên
lực
của
người
mua
trong việc
trong
nước sẽ giúp các công
ty
của nước đó đưa
ra
những
công
nghệ
mới
nhanh
hơn mà
ít lo
ngại
rang
những
khoản
đầu tư
hiện
tại
là không cần
thiêt.
Ngoài
ra,
các công
ty
cũng
sẽ xây
dựng
những
cơ sờ
sớm sẽ giúp các công
ty
ờ một nước hành
động
sớm hơn các
đối thủ
cạnh
tranh trong
ngành.
Thứ
năm là yếu
tố
bão hoa sớm: Thị trường
trong
nước bão hoa sớm
sẽ
buộc
các công
ty
phải
đối
mới và nâng
cấp,
đồng
thời
cũng
tạo ra
áp
lực
căng
với
những
mẫu mã mới hơn. Bão hoa
thị
trường
cũng
đấy
mạnh
cạnh
tranh trong
nước và
loại
bỏ
những
công
ty
yêu
kém và
hoạt
động không
hiệu
quả.
Đặc
biệt,
sự bão hoa của
thị
trường
trong
nước
đặc
đây chính là yếu
tố
có
thụ
giúp các điều
kiện
cầu
trong
nước
tạo
ra
lợi thế
cạnh
tranh
cho sán phẩm,
dịch
vụ ờ
thị
trường
nước
ngoài.
Quốc
tế
hoa cầu
trong
nước có
thề
là nhờ
những
khách
sẽ
có được
lợi thế bời
vì khách hàng
trong
nước
cũng
chính là khách hàng
nước
ngoài.
Một
cách khác mà các điêu
kiện
vê câu
trong
nước có thê kéo
theo
doanh
số bán nước ngoài là
khi
cầu
trong
nước được
chuyụn
sang
hay
khắc
sâu vào
những
khách hàng nước ngoài. Đó có
phim
ảnh và
những
chương
trình
truyền
hình
3. Các ngành liên
quan
và hỗ trợ
(related
and
supporting
industries)
Yếu tố thứ
ba của
lợi
thế
cạnh
tranh
quốc
gia trong
một ngành là sự có
mặt
ờ nước đó các ngành hỗ
trợ
hay
những
ngành có liên
quan
tắt
nghiệp
Phạm Hoàne Miên - Ạ 16 K43D
những
ngành mà công
ty
có
thể phối
hợp,
chia
sẻ các
hoạt
động
thuộc
chuôi
hoạt
động sản
xuất
kinh
doanh hoặc những
ngành mà sản phẩm của chúng
mang
tính
chất
bồ
trợ việc chia
sẻ
hoạt
động,
thường
vì chúng sàn
xuất
những
đầu vào được sử
dụng
rộng
rãi
và có ý
nghĩa quan
trọng đối với
quá trình
đồi
mới hay
quốc
tế
hoa.
Trong
khi
đó,
sự có mặt của
những
ngành liên
quan
có sức
cạnh
tranh
cũng
không kém
phẩn quan
trọng.
Đầu tiên là thông qua khả năng
tiếp
cận
hiệu
quà, sớm,
nhanh,
có
chất
lượng
và đôi
khi
ưu đãi đến
những
đầu vào
chi
phí
thấp.
Hơn nữa,
doanh
nghiệp
còn được
hường
lợi
từ quá
trinh
phối
hợp liên
tục,
và chính
mối
hoạt
động
của
những
nhà
cung
cấp bên
cạnh.
Các nhà
cung
cấp nước ngoài
hiếm
khi
thay
thế
được hoàn toàn các nhà
cung
cấp
nội địa, ngay
cà
khi
chúng có
những
chi
nhánh địa phương. Và một
lợi
thế quan
trọng
mà các nhà
cung
này
sang
công
ty
khác, mà thông qua
đó, tốc
độ
đối
mới bên
trong
toàn bộ
ngành công
nghiệp
được thúc đẩy.
Khoa Kinh
tê
và Kinh doanh Quốc
tê
20
Khoa luận
tắt
nghiệp
Phạm Hoàne Miên - Ạ 16 K43D
- Lợi
thế
cạnh
tranh trong
ngành
liên
quan: Sự có mặt
giá
trị
mang
tính bố
sung.
Chia
sẻ
hoạt
động có
thể
diấn
ra
trong
phát
triền
công
nghệ,
sản
xuất,
phân
phối,
marketing
và
dịch vụ.
Ví
dụ,
máy
photo
và máy
fax
ra cơ
hội
đế
trao
đổi
thông
tin
và kỹ
thuật
giống
như trường
hợp những
nhà
cung
cáp
trong
nước.
Sự có mặt cùa
nhũng
ngành liên
quan
cũng
có
thể
nâng cao
tỳ
lệ
nhận
biết
các cơ
and
rivalry)
Yếu tố thứ
tư của
lợi
thế cạnh
tranh
quốc gia
trong
một ngành là
bối
cảnh
mà các công
ty
được thành
lập,
tổ chức
và
quản
trị
cũng
như bản
chất
cùa
cạnh
tranh trong
nước.
Mục
tiêu,
chiến
- Chiến lược và cơ cấu
tồ
chức cùa doanh nghiệp
trong
nước: Không
có hệ
thống
quản
lý nào có
thể
áp
dụng
thích họp trên phạm
vi
toàn
cầu.
Các
quốc
gia
sẽ có xu
hướng
thành công
trong
những
ngành mà cách
quản
trị
và
hình
thức