Tổ chức công tác phân tích tài chính tại công ty cổ phần chứng khoán FPT - Pdf 13


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của
tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gôc rõ
ràng.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
TRẦN THỊ THU HIỀN
1

MỤC LỤC
2

DANH MỤC CÁC BẢNG
2.1 Bảng phân tích quy mô, cơ cấu và tốc độ tăng trưởng của tài sản
2.2 Bảng phân tích quy mô, cơ cấu và tốc độ tăng trưởng nguồn vốn
2.3 Bảng phân tích mức độ độc lập tài chính
2.4 Bảng phân tích khả năng thanh toán
2.5 Bảng phân tích kết quả hoạt động kinh doanh
2.5.1 Bảng phân tích chi tiết chi phí
2.5.2 Bảng phân tích doanh thu chi tiết
2.6 Bảng phân tích hiệu quả sử dụng chi phí
2.7 Bảng phân tích khả năng sinh lời và hiệu quả quản lý
2.8 Bảng phân tích về định giá
2.9 Bảng phân tích hiệu quả sử dụng tài sản và vốn chủ sở hữu
3.1 Bảng phân tích tình hình lưu chuyển tiền tệ
3.2 Bảng phân tích dư nợ quá hạn theo nguyên nhân
3

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế tất yếu của sự hội nhập và toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới

biến hết sức phức tạp và bất ổn. Đối với Việt Nam, do ảnh hưởng của các
nhân tố có tác động xấu làm ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế, lạm
phát tăng cao, thị trường tài chính, tiền tệ, thị trường chứng khoán và thị
trường bất động sản có những diễn biến phức tạp. Một công ty chứng khoán
dù mạnh đến đâu thì bất kỳ một chấn động chính trị - kinh tế - xã hội nào
cũng ngay lập tức ảnh hưởng đến các hoạt động của nó và đòi hỏi phải có
điều chỉnh về cơ cấu. Thực tế này đòi hỏi các công ty chứng khoán phải chủ
động hội nhập và đổi mới đồng bộ các hoạt động trong đó có việc sử dụng
các công cụ quản lý. Một trong các công cụ đó là phân tích tài chính.
Tuy nhiên, hiện nay các công ty chứng khoán nói chung và Công ty Cổ phần
chứng khoán FPT nói riêng chưa thực sự nhận thức đầy đủ vai trò và ý nghĩa
của phân tích tài chính trong công tác quản trị điều hành, do đó chưa chú
trọng đến công tác tổ chức phân tích tình hình tài chính trong đơn vị mình.
Chính vì lý do này, tác giả đã lựa chọn đề tài “ Tổ chức công tác phân tích tài
chính tại Công ty Cổ phần chứng khoán FPT” cho luận văn tốt nghiệp của
mình.
2

2. Mục đích nghiên cứu:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về tổ chức phân tích tài chính
trong Công ty Chứng khoán
- Đánh giá thực trạng tổ chức phân tích tài chính tại Công ty Cổ phần chứng
khoán FPT
- Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức phân tích tài chính tại Công ty
Cổ phần chứng khoán FPT.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Với mục đích đã xác định, luận văn tốt nghiệp tập trung nghiên cứu, phân tích
những vấn đề lý luận và thực tiễn tổ chức công tác phân tích tài chính tại
Công ty Cổ phần Chứng khoán FPT.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn đề tài:

1.1. KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN, CÔNG TY
CHỨNG KHOÁN VÀ Ý NGHĨA CỦA PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TRONG
CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.1.1. Tổng quan về thị trường và công ty chứng khoán:
1.1.1.1 Sự hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán được xem là đặc trưng cơ bản, là biểu tượng của
nền kinh tế hiện đại. Người ta có thể đo lường và dự tính sự phát triển của nền
kinh tế qua diễn biến của thị trường chứng khoán. Là một bộ phận cấu thành của
thị trường tài chính, thị trường chứng khoán được hiểu một cách chung nhất, là
nơi diễn ra các giao dịch, mua bán trao đổi các chứng khoán- các hàng hóa và
dịch vụ tài chính giữa các chủ thể tham gia. Việc mua bán trao đổi hàng hóa này
được thực hiện theo những quy tắc ấn định trước.
Hình thức sơ khai của thị trường chứng khoán đã xuất hiện cách đây hàng
trăm năm. Vào khoảng thế kỷ 15, ở các thành phố trung tâm thương mại của các
nước phương Tây, trong các chợ phiên hay hội chợ, các thương gia thường tụ tập
tại các quán cà phê để thương lượng mua bán, trao đổi hàng hóa. Đặc điểm của
hoạt động này là các thương gia chỉ trao đổi bằng lời nói với nhau về các hợp
đồng mua bán mà không có sự xuất hiện bất kỳ của giấy tờ, hàng hóa nào. Đến
cuối thế kỷ 15, “ khu chợ riêng” đã trở thành thị trường hoạt động thường xuyên
với những quy tắc xác định cho các cuộc thương lượng. Những quy ước này dần
trở thành những quy tắc có tính chất bắt buộc đối với các thành viên tham gia.
5

Buổi họp đầu tiên diễn ra vào năm1453 tại một lữ quán của gia đình
Vanber tại thành phố Bruges (Vương quốc Bỉ). Trước lữ quán có một bảng hiệu
vẽ hình ba túi da và chữ Bourse. Ba túi tượng trưng cho ba nội dung của thị
trường: thị trường hàng hóa, thị trường ngoại tệ và thị trường chứng khoán động
sản; còn chữ Bourse có nghĩa là “ mậu dịch thị trường” hay còn gọi là “ nơi buôn
bán chứng khoán”.
Đến năm 1547, thị trường ở thành phố Bruges bị sụp đổ do cửa biển Evin-

hóa.
Theo hình thức tổ chức của thị trường, thị trường chứng khoán được tổ chức
theo hai cách sau:
- Thị trường chứng khoán được tổ chức thành các Sở giao dịch, tại đây
người mua và người bán gặp nhau tại một địa điểm nhất định để tiến hành giao
dịch và mua bán, trao đổi chứng khoán. Sở giao dịch chứng khoán được quản lý
chặt chẽ bởi Ủy ban chứng khoán Quốc gia, các giao dịch chịu sự điều tiết của
Luật chứng khoán và thị trường chứng khoán.
- Thị trường giao dịch qua quầy hay thị trường chứng khoán phi tập trung:
là thị trường của các nhà buôn, những người tạo thị trường. Các nhà buôn có một
danh mục chứng khoán và họ sẵn sang mua và bán với các nhà buôn khác cũng
như các nhà đầu tư khi những người này chấp nhận giá cả của họ. Thị trường này
không có địa điểm giao dịch chính thức mà có thể diễn ra tại tất cả các quầy, sàn
giao dịch của các thành viên thông qua điện thoại hay mạng máy tính diện rộng.
7

Ngoài hai loại thị trường trên, người ta còn nói đến thị trường thứ ba, thị
trường dành cho các chứng khoán không đủ tiêu chuẩn để giao dịch trên thị
trường OTC và thị trường tập trung.
1.1.1.2 Tổng quan về công ty chứng khoán
Để hình thành và phát triền của thị trường có hiệu quả, một yếu tố không
thể thiếu được là các chủ thể tham gia kinh doanh trên thị trường chứng khoán.
Là một chủ thể tham gia, công ty chứng khoán cũng có những điểm tương đồng
với tổ chức và hoạt động của công ty khác nói chung. Bởi khi một doanh nghiệp
muốn huy động vốn bằng cách phát hành chứng khoán, không phải họ tự đi bán
số chứng khoán mà họ định phát hành. Họ không thể làm tốt việc đó bởi họ
không có bộ máy chuyên môn, cần có những nhà chuyên nghiệp mua bán chứng
khoán cho họ. Đó là các công ty chứng khoán, với nghiệp vụ và chuyên môn,
kinh nghiệm nghề nghiệp và bộ máy tổ chức thích hợp, thực hiện vai trò trung
gian môi giới mua bán, phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư và thực hiện một

hình thực tế của công ty mình. Mô hình công ty chứng khoán khác nhau cũng là
một yếu tố cần xác định để xây dựng tổ chức công tác phân tích tài chính của
công ty chứng khoán cho phù hợp.
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm phân tích tài chính cho công ty chứng khoán
Phân tích tài chính là tổng thể các phương phát và công cụ cho phép xử lý
các thông tin về tài chính, kế toán nhằm đánh giá tình hình tài chính đã qua và
hiện tại của Công ty chứng khoán, từ đó giúp nhà quản lý đưa ra được các quyết
9

định chuẩn xác giúp các đối tượng quan tâm đến công ty có được những dự đoán
về mặt tài chính của công ty, qua đó có các quyết định phù hợp với lợi ích cùa
họ.
Với vai trò là một định chế tài chính đặc biệt với các nét đặc trưng riêng:
- Đa dạng về nghiệp vụ
- Nhu cầu về thông tin tài chính cao
- Hoạt động trong thị trường có tính rủi ro cao, rất nhạy cảm với sự biến
động của các thị trường khác
- Chịu sự chi phối bởi hệ thống luật Chứng khoán và hoạt động theo hai
nguyên tắc “ nguyên tắc đạo đức” và “ nguyên tắc tài chính”
- Mục tiêu phân tích bao gồm: phân tích báo cáo tài chính, phân tích hoạt
động tự doanh, phân tích phục vụ nhà đầu tư, đối tác.
Từ các đặc điểm trên, việc phân tích tài chính trong công ty chứng khoán
đòi hỏi phải thực hiện thường xuyên, tổ chức một cách khoa học, đảm bảo phục
vụ yêu cầu thông tin cho các đối tượng quan tâm.Khi lựa chọn mô hình tổ chức,
nội dung phân tích, các chỉ tiêu và phương pháp phân tích phải đảm bảo phù hợp
với tính chất ngành và đem lại hiệu quả cho người sử dụng thông tin.
1.1.3. Ý nghĩa của phân tích tài chính trong công ty chứng khoán.
Việc phân tích tài chính của công ty chứng khoán ở mức độ nào tùy thuộc
vào mối quan tâm của nhà quản lý. Tuy nhiên, trong tất cả các trường hợp cũng
đều cần có sự phân tích đúng đắn tình hình tài chính của công ty để đưa ra những

đồng thời cũng chịu rủi ro nếu không dựa trên việc phân tích tài chính hoạt động
11

kết quả kinh doanh để đưa đến quyêt định. Do đó nhà đầu tư rất quan tâm đến
khả năng sinh lời của công ty chứng khoán cũng như các rủi ro mà công ty
chứng khoán có thể gặp phải để từ đó có quyết định đầu tư đúng đắn. Nhờ phân
tích tài chính mà nhà đầu tư có thể đánh giá được khả năng sinh lời cũng như sự
lành mạnh trong tình hình tài chính của công ty chứng khoán.
Với những người hưởng lương trong công ty chứng khoán, tình hình tài
chính của công ty cũng tác động không nhỏ. Bởi nó liên quan trực tiếp đến công
ăn việc làm, đến lương cũng như các chính sách khác của công ty. Do vậy phân
tích tài chính giúp họ định hướng việc làm ổn định và yên tâm dốc sức vào hoạt
động kinh doanh của công ty chứng khoán.
Ngoài ra từ các đặc điểm đã nêu trên từ 1.1.2, dưới góc độ của nhà quản trị,
phân tích tài chính càng có ý nghĩa quan trọng. Phân tích tài chính cho nhà quản
trị cho thấy được khả năng tài chính của công ty…cũng như các giới hạn an toàn
phải đảm bảo trong kinh doanh. Phân tích tài chính còn giúp phát hiện kịp thời
những thiếu sót, nhận định những điểm mạnh, yếu của công ty, trên cơ sở đó có
những biện phép thích hợp trong việc sử dụng nguồn vốn cũng như các yếu tố
đầu vào khác, góp phần hạn chế rủi ro, tăng lợi nhuận cho công ty chứng khoán.
Như vậy phân tích tài chính của công ty chứng khoán là sự cần thiết khách
quan, nó ra đời và phát triển từ đòi hỏi của đời sống kinh tế, từ yêu cầu quản lý
khoa học và có hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán. Để
công tác phân tích được hiệu quả thì việc tổ chức phân tích tài chính công ty
chứng khoán phải được thực hiện với một quy trình khoa học và hợp lý.
12

1.2. NỘI DUNG, HỆ THỐNG CHỈ TIÊU VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN
TÍCH TÀI CHÍNH CÔNG TY CHỨNG KHOÁN.
1.2.1. Nội dung phân tích tài chính Công ty chứng khoán:

các nội dung như : phân tích cơ cấu tài sản, phân tích cơ cấu nguồn vốn và
phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn. Nội dung này gắn với việc
xem xét cấu trúc tài chính theo nghĩa rộng.
• Phân tích hiệu quả kinh doanh của công ty chứng khoán.
Hiệu quả kinh doanh là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh trình độ sử
dụng nguồn vật lực, tài chính của công ty để đạt hiệu quả cao nhất. Nâng cao
hiệu kinh doanh là một biện pháp cực kỳ quan trọng của công ty để thúc đẩy nền
kinh tế tăng trưởng một cách bền vững. Do vậy phân tích hiệu quả kinh doanh là
một nội dung cơ bản của phân tích tài chính nhằm góp phần cho công ty tồn tại
và phát triển không ngừng.
Nhiệm vụ phân tích hiệu quả kinh doanh được xem xét trên mọi góc độ như
phân tích hiệu quả sử dụng tài sản, hiệu quả sử dụng nguồn vốn, hiệu quả sư
dụng chi phí, ngoài ra các nhà phân tích còn tiền hành so sánh các chỉ tiêu giữa
kỳ gốc với thực tế trên báo cáo kết quả kinh doanh để thấy được sự biến động
của các chỉ tiêu kết quả kinh doanh.
Tùy theo mục tiêu các nhà quản trị kinh doanh có thể phân tích chi tiết, đánh
giá khái quát…Sau đó tổng hợp để đưa ra các nhận xét.
• Phân tích hiệu quả kinh doanh dành cho nhà đầu tư
14

Trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp là tế báo của nền kinh tế. Để thực
sự phát triển bền vững, các doanh nghiệp phải phát triển thực sự, Trong các loại
hình doanh nghiệp thì công ty cổ phần là một loại hình doanh nghiệp có nhiều ưu
thế cho sự phát triển. Công ty cổ phần đó là một tổ chức kinh tế mà vốn của nhà
đầu tư đóng góp để cùng tham gia hoạt động kinh doanh kiếm lời. Các nhà đầu
tư gọi chung là cổ đông có thể là cá nhân, pháp nhân và các đối tượng cho vay.
Các nhà đầu tư thường xem xét các chỉ tiêu tài chính liên quan trực tiếp đến
lợi ích của mình để từ đó đưa ra các quyết định mua cổ phiều hoặc đầu tư vào
lĩnh vực khác với mục đích thu lợi nhuận tối đa trong các hoạt động kinh doanh.
Do vậy khi đánh giá hiệu quả kinh doanh của các công ty, ngoài việc đánh giá

cấp cho nhà quản lý về quy mô, cơ cầu nguồn vốn, xu hướng biến động và đặc
biệt là mối quan hệ của nguồn vốn huy động gắn với mục tiêu sử dụng vốn của
công ty có đảm bảo an toàn, hiệu quả và cạnh tranh hay không…
Để đánh giá tình hình huy động vốn của công ty, các nhà phân tích sử
dụng phương pháp so sánh: so sánh biến động của tổng số nguồn vốn và so sánh
sự biến động của cơ cấu nguồn vốn theo thời gian cả về số lượng tuyệt đối và
tương đối. Qua việc so sánh sự biến động của tổng số nguồn vốn theo thời gian,
các nhà phân tích sẽ đánh giá được tình hình tạo lập và huy động về quy mô; còn
qua việc so sánh sự biến động của cơ cấu vốn theo thời gian, các nhà phân tích sẽ
đánh giá được tính hợp lý trong cơ cấu huy động và tổ chức nguồn vốn cũng như
xu hướng biến động của cơ cấu nguồn vốn huy động
16

(2) Đánh giá khái quát mức độ độc lập tài chính của công ty
Mức độ độc lập, tự chủ về mặt tài chính của công ty thể hiện qua nhiều chỉ
tiêu khác nhau và được xem xét trên khía cạnh khác nhau như mức độ tài trợ tài
sản bằng vốn chủ sở hữu, hệ số nợ so với tài sản, hệ số nợ so với vốn chủ sở
hữu…Tuy nhiên, để đánh giá khái quát mực độ độc lập về mặt tài chính, chỉ tiêu
thông dụng nhất là “hệ số tài trợ” và “hệ số tự tài trợ dài hạn”
• Hệ số tài trợ (hệ số vốn chủ sở hữu)
Chỉ tiêu này dùng để đo lường sự góp vốn của chủ sở hữu trong tổng nguồn
vốn của doanh nghiệp. Nó được xác định theo công thức sau:
Cách tính
Ý nghĩa: Là chỉ tiêu phản ánh khả năng tự đảm bảo về mặt tài chính và mức
độ độc lập về mặt tài chính của công ty. Chỉ tiêu này cho biết, trong tổng số
nguồn vốn của công ty, nguồn vốn chủ sở hưu chiếm mấy phần trăm. Trị số của
chỉ tiêu càng lớn, chứng tỏ khả năng tự đảm bảo về mặt tài chính càng cao, mức
độ độc lập về tài chính của công ty càng tăng và ngược lại, khi trị số của chỉ tiêu
càng nhỏ, khả năng tự đảm bảo về mặt tài chính của công ty càng thấp, mức độ
độc lập về tài chính của công ty càng giảm.

cả các quyết định đó đều dựa vào khả năng thanh toán của công ty. Khả năng
thanh toán của công ty vừa phải khi đo sẽ đáp ứng nhu cầu thanh toán cho các
18
Hệ số tự tài trợ tài sản cố định =
Vốn chủ sở hữu
Tài sản cố định
đã và đang đầu tư

khoản công nợ, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tiết kiệm chi phí. Khả
năng thanh toán của công ty quá cao có thể dẫn tới tiền mặt, hàng dự trữ quá
nhiều khi đó hiệu quả sử dụng vốn lại thấp. Khả năng thanh toán quá thấp kéo
dài có thể dẫn tới công ty bị giải thể hoặc phá sản. Đây là một tiêu chuẩn hoạt
động quan trọng của công ty chứng khoán, trực tiếp ảnh hưởng đến lòng tin của
khách hàng với công ty, tác động đến lợi nhuận cũng như uy tín của công ty.
a/ Đánh giá khái quát khả năng thanh toán chung của công ty, ta thường
xem xét các chỉ tiêu
• Hệ số khả năng thanh toán hiện tại
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết tại mỗi thời điểm nghiên cứu, toàn bộ giá trị tài
sản thuẩn hiện có của công ty có đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ của
công ty hay không. Chỉ tiêu này càng lớn khả năng thanh toán hiện tại càng cao,
đó là nhân tố tích cực góp phần ổn định tình hình tài chính của công ty. Chỉ tiêu
này càng thấp, khả năng thanh toán hiện tại càng kém, trường hợp kéo dài sẽ ảnh
hưởng đến uy tín và chất lượng kinh doanh của công ty.
• Hệ số nợ so với tổng tài sản
Ý nghĩa: Hệ số này là chỉ tiêu phản ánh khá rõ nét tình hình thanh toán của
công ty, chỉ tiêu này càng thấp khả năng thanh toán của công ty dồi dào sẽ tác
động tích cực đến kết quả kinh doanh. Hệ số này cho biết, công ty có 1 đồng tài
19
Hệ số khả năng thanh toán hiện tại =
Tổng giá trị tài sản hiện có

Tiền và các khoản tương đương tiền
Tổng nợ ngắn hạn

bằng tiền của công ty nhàn rỗi, ứ đọng, dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn thấp. Chỉ
tiêu này thấp chứng tỏ ciing ty không có đủ khả năng thanh toán các khoản công
nợ. Trường hợp chỉ tiêu này thấp quá kéo dài ảnh hưởng đến uy tín công ty và có
thể dẫn đến công ty bị giải thể hoặc phá sản.
*Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn:
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết với tổng giá trị thuận của tài sản ngắn hạn
hiện có công ty có khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn hay không. Chỉ
tiêu này càng cao khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của công ty càng tốt và
ngược lại.
*Hệ số khả năng chuyển đổi của tài sản ngắn hạn
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này chi biết khả năng chuyển đổi thành tiền của các tài
sản ngắn hạn, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ tốc độ chuyển đổi tài sản ngắn hạn
thành vốn bằng tiền, chứng khoán dễ thanh toán khoản càng nhanh, góp phần
nâng cáo khả năng thanh toán.
*Vốn hoạt động thuần ngắn hạn
Vốn hoạt đồng thuần = tổng giá trị thuần - tổng số
ngắn hạn của TSNH nợ ngắn hạn
Ý nghĩa: Vốn hoạt động thuần ngắn hạn là chỉ tiêu phản ánh chênh lệch
giữa tổng giá trị thuần của tài sản ngắn hạn so với tổng số nợ ngắn hạn. Muốn
21
Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn =
Tổng giá trị thuần TSNH
Tổng số nợ ngắn hạn
Hệ số khả năng chuyển đổi
của tài sản ngắn hạn
Tiền và các khoản tương đương tiền
Tổng giá trị thuần của TSNH

ty là tốt góp phần ổn định hoạt động tài chính thúc đẩy hoạt động kinh doanh
phát triển.
22

Trích đoạn Thực trạng mô hình tổ chức, phân công công việc phân tích tài chính tại Công ty Cổ phần chứng khoán FPT Nội dung và lựa chọn các chỉ tiêu phân tích Phương pháp phân tích Lưu trữ hồ sơ, tài liệu của quá trình phân tích X 7Chuyển báo cáo phân tích cho các bên liên quan chi phí trả trước dài hạn 994,074,075 20.38 289,997,636 12
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status