Đề tài : Công nghệ sản xuất vàng 14k, 18k (vàng trắng, vàng đỏ) phục vụ ngành công nghiệp trang sức việt nam - Pdf 13


TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU - KIỂM ĐỊNH
ĐÁ QUÝ VÀ VÀNG BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

NGHIÊN CỨU SẢN XUẤT VÀNG 14K, 18K
(VÀNG TRẮNG, VÀNG ĐỎ) PHỤC VỤ NGÀNH
CÔNG NGHIỆP TRANG SỨC VIỆT NAM 8254 Hà Nội, 2010
3
MỤC LỤC

Trang
MỞ ĐẦU
5
Chương 1. CÁC HỢP KIM VÀNG DÙNG TRONG TRANG SỨC
6
1.1. Dẫn liệu chung về vàng
6
1.1.1. Tính chất vật lí – hoá học của vàng
6
1.1.2. Hợp kim vàng
6
1.1.3. Công dụng của vàng
7
1.2. Các hợp kim vàng dùng trong trang sức
8
1.2.1. Độ tinh khiết của vàng (tuổi vàng)
9
1.2.2. Hệ thống kara (K) đối với vàng trang sức

(đèn khò)
28

4
2.3.2. Phương pháp nấu hợp kim vàng trang sức bằng lò cảm ứng
32
2.4. Một số lỗi thường gặp và biện pháp khắc phục
41
2.4.1. Hợp kim có độ xốp lớp ảnh hưởng đến độ bóng của sản
phẩm trang sức
41
2.4.2. Hợp kim hoặc sản phẩm trang sức có màu xám trên bề mặt
42
2.4.3. Hợp kim đúc hoặc sản phẩm trang sức bị nứt, gãy
46
KẾT LUẬN
48
TÀI LIỆU THAM KHẢO
50
ưa chuộng khắp thế giới về độ bền, độ bóng, độ bền màu cao, giá bán
của các loại vàng này thường cao xấp xỉ với vàng 9999.
Tại Việt Nam, các doanh nghiệp, các Công ty tư nhân hoạt động kinh doanh trong
lĩnh vực hàng trang sức thường tự tổ chức các xưởng chế tác hàng trang sức với quy mô
nhỏ và theo công nghệ cổ điển (thủ công). Kết quả là các sản phẩm làm ra thường có chất
lượng thấp (tu
ổi vàng không ổn định và không đồng đều trên một sản phẩm, độ bóng
kém, độ xốp lớn và thường bị mất màu theo thời gian,…). Bên cạnh đó, một số tư nhân,
Công ty còn cố tình hạ thấp tuổi vàng, từ đó làm tổn hại đến lợi ích của khách hàng sử
dụng.
Xuất phát từ những nhu cầu thực tế nêu trên, Trung tâm Nghiên cứu Kiểm định Đá
quý và Vàng đã đề xuất Đề tài nghiên c
ứu khoa học ”Nghiên cứu sản xuất vàng 14K, 18K
(vàng trắng, vàng đỏ) phục vụ ngành công nghiệp trang sức Việt Nam“ và được Bộ Công
Thương đồng ý cho thực hiện trong năm 2010 tại Quyết định số 6228/QĐ-BCT, ngày 10
tháng 12 năm 2009. Với mục đích xây dựng được một quy trình có tính thống nhất, làm
cơ sở áp dụng cho các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hàng trang sức và tiến tới xây
dựng được một bộ TCVN cho lĩnh vực này trong t
ương lai.
Trong quá trình thực hiện đề tài, các tác giả luôn nhận được sự hỗ trợ của Lãnh đạo
Công ty CP Đá quý và Vàng Hà Nội, lãnh đạo Vụ Khoa học Công nghệ (Bộ Công
Thương), sự hợp tác có hiệu quả của các đơn vị liên quan gồm Trường Đại học Bách khoa
Hà Nội, Viện Vật lý (Viện Khoa học và Công nghệ Quốc gia), Trường Đại học Khoa học
Tự nhiên, Công ty CP Mỹ nghệ vàng bạc đá quý Hà Nội, T
ập đoàn Vàng bạc đá quý
DOJI, và nhiều tập thể, cá nhân các nhà khoa học trong ngành. Nhân dịp này các tác giả
xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành của mình.

6
Chương 1.

hấp thụ, không ảnh hưởng nhiều đến chất lượng của vàng. Vàng không hoà tan trong môi
trường kiềm, axit (vô cơ và hữu cơ). Tuy vậy, vàng có thể hoà tan trong hỗn hợp axit
clohydric và axit nitric, axit sulfuric và axit nitric. Vàng cũng hoà tan trong dung dịch
xyanua (K, Ca) khi có oxy hay các chất oxy hoá. Người ta thường trích ly chế tác vàng từ
quặng theo phương pháp xyanua.
1.1.2. Hợp kim vàng
Hợp kim vàng-bạc
Vàng và bạc là hai kim loại có cùng cấu trúc tinh thể, có nhiều tính chất lí-hoá giống
nhau, do đó dễ hoà hợp với nhau thành hợp kim vàng-bạc. Màu sắc của hợp kim vàng-bạc
phụ thuộc vào tỷ lệ bạc, càng nhiều bạc thì màu của hợp kim càng nhạt, từ vàng nhạt đến
trắng. Đặc điểm của hợp kim vàng-bạc là độ bền cao nhưng vẫn dễ gia công chế biến làm
đồ trang sức.

7
Hợp kim vàng-đồng
Các kim loại vàng và đồng dễ hoà hợp với nhau Màu sắc của hợp kim vàng-đồng
phụ thuộc vào tỷ lệ đồng, có màu từ vàng nhạt đến vàng sẫm - vàng đỏ - đỏ
Hợp kim vàng-chì
Về nguyên lý vàng và chì không hoà tan vào nhau. Hợp kim này tạo ra hai hợp chất
Au
2
Pb và AuPb
2
. Trong luyện kim, người ta sử dụng sự có mặt của chì để tạo ra chì thô
gom vàng, sau đó tách chì ra khỏi vàng.
Hợp kim vàng-thuỷ ngân
Hợp kim vàng-thuỷ ngân được dùng để luyện vàng bằng phương pháp hỗn hống
thuỷ ngân với ba hợp chất AuHg
2
, Au


8
Ngành điện tử rất cần kim loại vàng. Nếu như trong những năm 70 của thế kỷ XX
hàng năm cần 90 tấn vàng trong các ngành điện tử kỹ thuật, thì những năm 90 nhu cầu
hàng năm tăng lên 200 tấn vàng. Trong ngành hàng không, đặc biệt là trong công cuộc
chinh phục vũ trụ, vàng được sử dụng trong sản xuất vệ tinh nhân tạo. Con tàu vũ trụ của
Mỹ Columbia đã ngốn gần 41 kg vàng. Càng ngày các phòng thí nghiệ
m, các ngành kỹ
thuật càng cần dùng nhiều vàng.
Huân huy chương vàng
Trong thi đua khen thưởng, trong các cuộc thi tài chiếm lĩnh các kỷ lục quốc gia và
quốc tế về thể dục thể thao.v.v… người ta cũng sử dụng vàng để đúc các huân huy
chương.
Vàng trong y học
Từ thượng cổ người ta đã dùng vàng làm răng giả. Tại Ai Cập người ta tìm thấy một
xác ướp trong miệng có 3 chiếc răng được gia cố bằng s
ợi dây vàng. Tuổi của chúng được
xác định là hơn 4.500 năm. Nghề làm răng vàng đã tồn tại và từng phát triển ở các thế kỷ
trước. Năm 1997 bình quân đầu người trên thế giới dùng 0,013 g vàng trong ngành Y, chủ
yếu là Nha khoa. Nhưng tỷ lệ này ngày càng giảm vì người ta đã tìm được vật liệu khác
thay thế vàng trong Nha khoa.
Thần tượng vàng
Ngay từ thời xa xưa khi tìm ra vàng, người ta đã tôn sùng vàng. Xác ướp của vị
Faraon trẻ tuổi
ở Ai Cập – Ngài Tutamkhamen đã được yên nghỉ trong chiếc quan tài
bằng vàng nặng 110 kg. Ở Xứ Assyria, Nữ hoàng Semiramit đã cho đúc những bức tượng
vàng nguyên chất. Bức tượng nữ thần Rea nặng tới 250 tấn vàng.
Hiện tại xứ sở Myanmar, một quốc gia nhiều vàng bạc châu báu đã có rất nhiều chùa
chiền được đắp bằng vàng trong đó chùa vàng ở Rangun là nổi tiếng nhất. Bangkok, thủ
đô của Thái Lan, có bức tượ

mặc dù vàng 9K cũng được ưa chuộng ở Anh. Riêng Bồ Đào Nha lại có một hợp kim
vàng tuổi 19,2K. Còn ở Mỹ thì vàng 14K là phổ biến nhấ
t, tiếp đó mới là vàng 10K. Ỏ
Trung Đông, Ấn Độ và Đông Nam Á thì truyền thống sử dụng là vàng 22K (đôi khi thậm
chí là 23K). Ỏ Trung Quốc, Hồng Kông và một số khu vực thuộc châu Á khác thì đồ
trang sức vàng tinh khiết tuổi 990 (gần như là 24K) là phổ biến hơn cả.
Ở nhiều nước luật pháp quy định là mỗi sản phẩm trang sức vàng đều phải được
đóng nhãn tuổi vàng rõ ràng. Việc này được quản lý qua hệ
thống xác nhận tiêu chuẩn
vàng bạc – một hệ thống bắt nguồn từ Phòng Vàng bạc có từ thế kỷ 14 ở Luân Đôn. Ngày
nay việc đóng nhãn tuổi vàng là yêu cầu bắt buộc trong các nước như Anh, Pháp, Hà Lan,
Ma Rốc, Ai Cập và Bahrain. Nhưng ngay cả khi không bắt buộc đóng nhãn tuổi vàng thì
nhà sản xuất cũng vẫn thường đóng trên sản phẩm của mình không chi ký hiệu nhận dạng
riêng của mình mà còn cả “tuổi” hay độ
tinh khiết của vàng.
Theo ISO và Tiêu chuẩn của CIBJO, độ tinh khiết là hàm lượng của vàng được
tính bằng số phần trong một nghìn đơn vị trọng lượng của hợp kim vàng.
Tiêu chuẩn độ tinh khiết (hay tuổi vàng) là hàm lượng tối thiểu của vàng trong hợp
kim vàng tính theo số phần trong một nghìn đơn vị trọng lượng của hợp kim vàng.
Bảng 1.1 cung cấp số liệu về tuổi và hàm lượng vàng tương ứng theo đơn v
ị độ
tinh khiết của vàng theo chuẩn quốc tế (đơn vị phần nghìn) và đơn vị phầm trăm. Tuy vậy
đây không phải bao giờ cũng chính xác như một giá trị toán học. Chẳng hạn, nếu vàng

10
22K thì về mặt toán học sẽ = 22/24 x 100 = 91,666%, nhưng tiêu chuẩn quốc tế lại lấy là
91,60%.
Bảng 1.1. Tiêu chuẩn quốc tế về tuổi vàng theo hàm lượng của vàng
Cara / Kara
Độ tinh khiết

100% vàng. Bất kỳ một giá trị cara nào thấp hơ
n 24 đều là giá trị đo lượng vàng có trong
hợp kim vàng trang sức. Chẳng hạn, 18 K là 18/24 phần của 100% vàng = 75,0% vàng.
Theo đơn vị độ tinh khiết thì là vàng 750, tức là có 750 phần là vàng trong 1000 phần.
Nhiều nước chỉ cho sử dụng một số tuổi vàng nhất định trong sản xuất trang sức để
bán. Chẳng hạn ở Anh quốc người ta có thể sản xuất và bán vàng trang sức 9, 14, 18 và
22K, nhưng không có vàng 12K vì vàng 12K không được thừa nhận là tiêu chuẩn theo

11
quy định của pháp luật. Ở một vài nước trang sức có tuổi dưới 12K (50% vàng hoặc vàng
500) không được coi là vàng. Ngoài yếu tố giá cả thì việc làm trang sức từ vàng thấp tuổi
hơn 24K còn có lợi thế khác là có thể tạo ra vàng trang sức có nhiều mầu khác nhau, từ
mầu lục, vàng nhạt, vàng, hồng đến đỏ, cũng như vàng trắng, tùy thuộc vào các kim loại
được sử dụng làm hợp kim với vàng. Vàng càng thấp tuổi thì mầu sắc tạ
o ra càng phong
phú. Thêm nữa, những tính chất như độ bền và độ cứng lại được cải thiện đáng kể so với
vàng tinh khiết, nhờ đó mà khả năng chống mài mòn và chống xước cũng tăng, ít bị biến
dạng hay hỏng hóc.
Tuổi của vàng trang sức theo quy định của luật pháp cũng thay đổi từ nước này đến
nước khác (bảng 1.2). Chẳng hạn như ở Anh các tuổi sau đ
ây được phép sử dụng: 9 (375),
14 (585), 18 (750), 22 (916) và 24 (990 và 999). Nhiều nước luật cho phép sử dụng nhiều
tuổi vàng khác nhau, nhưng trên thực tế thì chỉ có một số ít là phổ biến. Tuổi vàng phổ
biến cũng thay đổi như trong bảng sau:

Bảng 1.2. Tuổi vàng trang sức điển hình
Khu vực Tuổi cara điển hình (độ tinh khiết)
Viễn đông (Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan)
24 cara “Chuk Kam”
(tối thiểu 99,0%)

C. Trong khoảng nhiệt độ 1.058 – 1048
o
C, kim loại tồn tại ở
dạng sệt (tương đối giống như quá trình đông đặc nước thành băng trong tủ lạnh). Khoảng
nhiệt độ như trên hầu hết các hợp kim đều có.
500/000Au (500/000Ag): Lượng hai kim loại như nhau, khoảng nhiệt độ là 1020 –
1000
o
C ở đây là rộng nhất.
0/000Au(1000/000Ag) Bạc tinh khiết, nhiệt độ nóng chảy và đông đặc 960
o
C.
Mầu của hợp kim chuyển từ màu vàng sang trắng khí hàm lượng bạc tăng lên .
Hợp kim 600/000 – 700/000 Au có màu vàng ánh xanh đẹp. Nhưng do các tính chất cơ
học kém nên chúng ít được sử dụng trong thực tế, thường phải bổ sung thêm những thành
phần hợp kim khác.
Hợp kim dưới 523/000Au dễ bị phá huỷ dưới tác động của các loại a xit. Hợp kim
khi có hàm lượng vàng cao hơn ít bị axit nitric hoà tan. Hợp kim với 750/000Au trở lên
chỉ có thể hoà tan trong cường thuỷ. Gi
ới hạn bền cuối cùng của hợp kim Au – Ag trong
các a xit là 377/000Au.
- Hợp kim vàng - đồng (Au – Cu)
Hai kim loại kết hợp với nhau tạo thành một loạt dung dịch rắn. Đường nóng chảy
bắt đầu từ 1.063
o
C và kết thúc ở 1.083
o
C. Ở thành phần 820/000Au nhiệt độ nóng chảy
thấp nhất (889
o

thì những hợp kim có mầu ánh vàng rất khó tan.
Vàng 750/000 (18K)

Các hợp kim vàng 750/000 bền trong các a xit mạnh và chỉ bị hoà tan trong cường
thuỷ. Các hợp kim 750/000 dễ gia công. Khi hàm lượng Cu trong hợp kim tăng, độ cứng
và độ bền cũng tăng theo. Các hợp kim này dễ hàn, dễ đúc và là hợp kim dùng để sản xuất
hàng trang sức thông dụng ở nhiều nước trên thế giới.
Do nhu cầu của thị trường và tính chất của thị trường trang sức Việt Nam, trong
các nghiên cứu trong đề tài này chúng tôi chỉ tập trung nghiên c
ứu tính chất của các hợp
kim vàng trang sức 14K, 18K với thành phần chính là hệ 3 nguyên Au-Ag-Cu.

1.2.4. Ảnh hưởng của các tạp chất đến tính chất của các hợp kim vàng
Kẽm (Zn): Khi đúc chỉ cần bổ xung khoảng vài phần % Zn là sẽ làm tăng khả năng
khử ô xy và tăng độ chảy lỏng cuả hợp kim. Do thêm Zn mà hợp kim có ánh đỏ trở thành
màu vàng. Khi cho một phần nhỏ Zn, các hợp kim 333/000 sẽ có khả năng chống S
2

những liên kết sunfua, nhưng khi đó chúng sẽ tăng khả năng kết hợp với amoniac và làm
cho mầu bị xám đi.
Cadimi (Cd): Au trong trạng thái rắn có thể hoà tan đến 20% Cd, còn Ag thì đến
hơn 30%, vì thế độ hoà tan của Cd trong Cu không còn ý nghĩa. Nhờ có Cd mà các hợp
kim Au - Ag sẽ có màu xanh đẹp hơn. Cd và Zn là những thành phần quan trọng nhất để
chế các loại vảy hàn hợp kim kim loại quý.
Thiếc (Sn): Các hợp kim 3 nguyên có thể hoà tan đến 4% Sn mà không ảnh hưởng
đế
n các tính chất của mình. Trong các vẩy hàn do có Pb nên Sn kết hợp với nó, gây nên
tính giòn cho các hợp kim. Nếu hàm lượng Sn cao hơn 4% sẽ tạo thành những lớp ô xít
Sn mà khi đông đặc sẽ tập trung ở các bề mặt tiếp xúc, gây cho hợp kim tính giòn.


Chỉ có 2 kim loại có mầu ở trạng thái tinh khiết là: vàng có mầu vàng và đồng có
mầu đỏ. Tất cả các kim loại khác đều có mầu trắng hoặc xám. Cho thêm mầu đỏ vào mầu
vàng, như chúng ta đều biết, sẽ làm cho mầu vàng trở nên hồng hơn và dần trở thành mầu
đỏ. Thêm mầu trắ
ng vào mầu vàng sẽ làm cho mầu vàng nhạt hơn và dần trở thành mầu
trắng. Nguyên lý trộn mầu này cũng giải thích việc tạo ra các mầu khác nhau của vàng
kara. Thêm đồng vào vàng sẽ làm cho nó đỏ hơn, và thêm bạc, kẽm hoặc bất kỳ kim loại
nào khác sẽ làm cho vàng nhạt hơn. Như vậy ta có thể hiểu là vàng kara thấp tuổi (có
nhiều thành phần kim loại hợp kim khác) sẽ có dải mầu sắc rộng hơn vàng cao tuổi.
Chẳ
ng hạn đối với vàng 22 kara (91,6% vàng) thì, ta chỉ có thể cho thêm tối đa là
8,4% các kim loại hợp kim khác, vì vậy chỉ có thể có mầu vàng đến mầu vàng sắc hồng.
Với vàng 18 kara (75,0% vàng) và thấp hơn thì ta có thể cho thêm đến 25% hoặc hơn các
kim loại hợp kim, vì vậy mầu có thể dao động từ mầu lục, vàng cho đến mầu đỏ, tùy
thuộc vào tỷ lệ Cu/(Ag+Zn). Như vậy là ứng với mỗi tuổi vàng nhất định ta vẫn có th

thay đổi mầu sắc của vàng kara bằng cách thay đổi tỷ lệ Cu/(Ag+Zn) như trong bảng bảng
2.1 dưới đây:
Bảng 2.1. Mầu sắc của vàng trang sức
Loại
Vàng (% trọng lượng) Bạc (%tl) Đồng (%tl) Mầu sắc
91.6 8.4 - Vàng
91.6 5.5 2.8 Vàng
91.6 3.2 5.1 Vàng sẫm
22 K
91.6 - 8.4
Hồng rose
75.0 25.0 - Lục-vàng
75.0 16.0 9.0 Vàng nhạt, 2N
75.0 12.5 12.5 Vàng, 3N

(°C)
24 - - Vàng 19.32 1064

5.5 2.8 Vàng 17.9 995-1020
22
3.2 5.1 Vàng đậm 17.8 964-982

4.5 8.0 Vàng-hồng 16.8 940-964
1.75 10.75 Hồng 16.8 928-952
21
- 12.5 Đỏ 16.7 926-940

16.0 9.0 Vàng nhạt 15.6 895-920
12.5 12.5 Vàng 15.45 885-895
9.0 16.0 Hồng 15.3 880-885
18
4.5 20.0 Đỏ 15.15 890-895

Khi tuổi vàng giảm xuống thì khoảng nhiệt độ nóng chảy và tỷ trọng của hợp kim
cũng sẽ giảm. Tuy vậy, ứng với mỗi tuổi vàng bất kỳ thì giá trị thực của các thông số trên
sẽ dao động theo hàm lượng tương đối của bạc và đồng.

17
Ngoài các tính chất vật lý thay đổi, các chất phụ gia tạo hợp kim nói chung còn
làm cho độ bền và độ cứng của hợp kim tăng lên, còn tính dễ kéo dát thì có giảm đi đôi
chút. Nguyên tử bạc có bán kính hơi lớn hơn vàng, vì vậy cho vàng pha với bạc sẽ làm
tăng độ bền và độ cứng của hợp kim lên một mức độ nhất định. Nguyên tử đồng thì lại
nhỏ hơn vàng đáng kể, vì vậy nó ảnh h
ưởng đến độ bền nhiều hơn so với bạc do nó làm
sai lệch ô mạng tinh thể của vàng nhiều hơn. Như vậy là nếu ta giảm tuổi vàng từ 24K

21
1,75 10,75
Đã gia công 197 728

Đã tôi 150 520
12,5 0 12,5
Đã gia công 212 810
Đã tôi 165 550
18
4,5 20,5
Đã gia công 227 880 18
Bảng 2.4. Tính chất cơ lý của vàng 18K
Thành phần
(% tl)
Độ cứng

Độ kéo dài
(%)
Vàng Bạc Đồng Đã tôi Đã gia công nguội Đã tôi Đã gia công nguội
75 25 - 36 98 36.1 2.6
75 21.4 3.6 68 144 39.3 3.0
75 16.7 8.3 102 184 42.5 3.2
75 12.5 12.5 110 192 44.8 3.3
75 8.3 16.7 129 206 47.0 2.6

vàng đỏ 18K độ cứng có thể được tăng lên đến 2 lần như trong bảng 2.6.

Bảng 2.6. Hiệu ứng xử lý nhiệt đối với vàng 18K
Thành phần
(% tl)
Bạc Đồng
Mầu sắc Điều kiện
Độ cứng
(HV)
Độ bền kéo căng
(N/mm
2
)
Tôi, nhúng nước 150 520
12.5 12.5 Vàng
Già hóa 230 750
Tôi, nhúng nước 165 550
4.5 20.5 Đỏ
Già hóa 325 950

Mọi người thợ kim hoàn đều biết là luyện kim loại sẽ làm cho nó cứng hơn và bền
hơn (xem các bảng ở trên), tuy vậy nếu cho luyện quá thì có thể làm cho nó bị nứt vỡ.
Như vậy là người thợ kim hoàn biết rằng vàng kara đã được luyện cần phải cho tôi để
khôi phục trạng thái dễ kéo uốn của chúng. Nhiệt độ tôi điển hình đối với vàng kara được
dẫ
n trong bảng 2.7:

Bảng 2.7. Nhiệt độ tôi điển hình của vàng trang sức
Hợp kim
Nhiệt độ tôi

Tỷ
trọng,g/cm3
Mầu sắc*
14
14
14
14
14
18
18
18
18
18
18
18
18
18
585
585
585
585
585
750
750
750
750
750
750
750
750

38
5
15
15
10
0
0
5
0
20
5
0
0
13,1
13,1
13,25
13,5
13,7
14,45
15,15
15,3
15,3
15,45
15,36

15,6
15,7
Đỏ (5N)
Vàng (3N)
Hồng (4N)


21Hình 2.1. Tỷ trọng của hợp kim vàng
14K mầu vàng là hàm số của hàm lượng
bạc
Hình 2.2. Tỷ trọng của hợp kim vàng
18K mầu vàng là hàm số của hàm lượng
bạc

Tỷ trọng của hợp kim vàng 21K (875) nằm trong khoảng 16,7-16,8g/cm
3
; đối với
hợp kim vàng 22K (917) giá trị tỷ trọng nằm trong khoảng 17,8-17,9 g/cm
3
. Sự dao động
trong tỷ số Ag/Cu rất hạn chế và ít ảnh hưởng đến tỷ trọng.
Khoảng cứng hóa của hợp kim vàng mầu vàng phụ thuộc vào thành phần của hợp
kim hơn là phương thức kết hợp. Về nguyên lý ta có thể đọc được điều đó từ giản đồ pha
2 cấu tử. Tuy nhiên, với mục đích ứng dụng thực tiễn thì những giản
đồ phản ánh khoảng
nóng chảy của những hợp kim vàng 14 và 18K quan trọng nhất như là hàm số của hàm
lượng Ag là có ý nghĩa hơn cả (hình 2.3 và 2.4).
Đối với hợp kim vàng 18K thì việc tăng hàm lượng bạc chủ yếu ảnh hưởng đến
nhiệt độ hóa lỏng (cũng tăng lên) hơn là ảnh hưởng đến nhiệt độ cứng hóa. Đối với hợp
kim vàng 14K thì nhiệt độ hóa lỏng sẽ tăng ở
một mức giới hạn nào đó cùng với việc tăng
hàm lượng bạc, nhưng nhiệt độ cứng hóa thì lại giảm đáng kể. Vì vậy, khoảng cứng hóa
tự nó đã tăng lên khi hàm lượng bạc cao hơn đối với cả hợp kim 14 và 18K. Hậu quả của


Hành vi cứng hóa của hợp kim trong quá trình đúc không chỉ chịu tác động của
khoảng nhiệt độ hóa cứng mà còn bởi lượng nhiệt mà dung thể (chất nóng chảy) đưa vào
khuôn đúc. Nhiệt lượng hóa cứng của vàng là thấp nhất và của đồng là cao nhất, còn bạc
thì nằm giữa. Vì thế, những hợp kim chứa nhiều bạc và đồng hơn sẽ tỏa nhiệt nhiều hơn
khi hóa cứng liên quan với khố
i lượng.
Việc giảm đột ngột thể tích do hóa cứng là nguyên nhân gây ra hiện tượng rỗ trong
quá trình đúc vàng trang sức. Bảng 2.9 là số liệu tính toán về độ rỗ xốp do hiện tượng co
rút thể tích khi hóa cứng của một số kim loại tinh khiết và một hợp kim vàng điển hình.
Bảng 2.9. Độ co rút khi hóa cứng
Kim loại Độ co rút khi hóa cứng
(% thể tích)
Vàng
Bạc
Đồng
Vàng 18K mầu
vàng
4,8
7,3
5,4
6,0 Độ xốp rỗng tổng thể trong một quy trình
đúc hoàn thành sẽ nhỏ hơn những giá trị
trên vì sự co rút đã được bù trừ ở mức độ
nào đó bới dung thể bổ sung thêm qua
rãnh rót và hệ thống cửa. Tuy vậy, tại một
số khu vực then chốt nào đó độ rỗng có thể

Giá trị sức căng tương đối thấp khi sử dụng khí argon chứng tỏ oxi có thể không
được hút ra hoàn toàn trước khi rót kín buồng đúc bằng khí argon.
Sức căng giữa bề mặt mà cao thì sẽ tạo ra cấu trúc bề mặt thô ráp khá đặc trưng,
nhất là đối với các sản phẩm có thành t
ương đối dầy. Nguyên nhân là do hiện tượng cứng
hóa dạng cành cây và hiện tượng co rút. Lúc này vi kiến trúc có dạng cành cây rất rõ rệt.
Trong quá trình hóa cứng thì trước hết sẽ hình thành bộ khung của cành cây. Vào cuối
quá trình hóa cứng thì sự co rút sẽ hút hết chất nóng chảy giữa các cành cây khỏi bề mặt
và để lại địa hình dạng cành cây. Nếu sức căng giữa bề mặt là thấp thì thành của buồng
đốt sẽ bị ướt và bề mặ
t nhẵn của nó sẽ được tái tạo nếu không có sự phân hủy của buồng
đốt.
Có thể làm giảm sức căng giữa bề mặt một cách đơn giản bằng cách đúc trong
không khí. Tuy vậy, chất lượng bề mặt sẽ không thể cải thiện được. Ích lợi thu được từ
sức căng bề mặt thấp lại bi bù trừ bởi ảnh hưởng tiêu cực của hiệ
n tượng oxi hóa và sự
đóng cặn. Cách tiếp cận hiệu quả là thay đổi thành phần của hợp kim một cách hợp lý.

Bảng 2.10 cho ta giá trị gần đúng về độ cứng của hợp kim vàng mầu vàng có độ
tinh khiết khác nhau ở trạng thái vừa đúc xong.

Bảng 2.10. Độ cứng điển hình của hợp kim Au-Ag-Cu khi vừa đúc xong
Thành phần (phần nghìn)
K
Au Ag Cu
Độ cứng HV
14
18
18
21


Hình 2.5. Độ cứng của hợp kim vàng 18K
mầu vàng là hàm số của giá trị hàm lượng
bạc

Vàng hợp kim 18K ở đây có độ cứng có thể thay đổi từ cao (và giòn) đến khá thấp
(mềm và dẻo). Nguyên nhân chủ yếu của sự tăng độ cứng cùng với hàm lượng Cu tăng là
do hiệu ứng độ cứng tăng do già hóa (trật tự hóa) như đã dề cập ở trên. Những h
ợp kim
giầu đồng có thể tạo thành trạng thái có trật tự rất nhanh, đồng thời độ cứng cũng sẽ tăng
lên đáng kể cùng với độ dẻo giảm đi. Những hợp kim mầu vàng giầu bạc thì trước hết sẽ
trải qua quá trình tách thành các pha giầu đồng và giầu bạc, sau đó mới là hiện tượng
cứng hóa do già đi. Tuy vậy, lượng pha hóa cứng sẽ nhỏ hơn. Quá trình cứ
ng hóa ít rõ rệt
hơn và vật liệu đúc vẫn ở trạng thái mềm và dẻo.
Hiện tượng hóa giòn của hợp kim vàng giầu đồng mầu hồng và mầu đỏ thường gây
ra sự nứt vỡ, đặc biệt khi các sản phẩm sau đó bị biến dạng, chẳng hạn như để mở rộng ra
hoặc khi đóng mác. Hình 3.6 là một phần thân nhẫn vàng mầu đỏ bị vỡ. Về m
ặt lý thuyết
ta có thể tránh được hiện tượng hóa giòn bằng cách nhúng vào nước lạnh khi sản phẩm
vẫn còn ở nhiệt độ 600 – 700
o
C.


Bảng 2.11 và 2.12 cho ta thành phần của một số loại vàng trắng 14K và 18K thông
dụng.
Bảng 2.11. Các hợp kim vàng tr
ắng 18K điển hình
Hàm lượng (phần nghìn)

Loại vàng trắng
Au Ag Pd Cu Zn Ni

Vàng trắng nickel
750
750
0
0
0
0
55
10
50
75
145
165
Vàng trắng paladi 750
750
751
751
750
750
100
150

30
20 20
60

Bảng 2.12. Các hợp kim vàng trắng 14K điển hình
Hàm lượng (phần nghìn)
Loại vàng trắng
Au Ag Pd Cu Zn Ni
Vàng trắng nickel

585
585
270
185
50
75
990
1020
Vàng trắng paladi 585 215 150 50
Vàng trắng hỗn hợp 585
585
180
180
140
140
65
45
10 20
50


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status