Lời nói đầu
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành
theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng XHCN, hoạt động
quảng cáo cũng phát triển mạnh mẽ và đa dạng. Cuối thập kỷ 80 ở thành phố
HCM mới có vài ba đơn vị hoạt động quảng cáo, dăm bẩy biển treo rải rác trên các
phố thì hiện nay số lợng các công ty quảng cáo tăng khá nhanh. Các công ty này
cung cấp gần nh đầy đủ các loại dịch vụ quảng cáo từ việc lập kế hoạch chiến lợc
xây dựng thơng hiệu, xây dựng các chơng trình quảng cáo cho đến cung cấp các
loại phơng tiện quảng cáo tạo nên một thị trờng cạnh tranh khá sôi động, thúc đẩy
nghành quảng cáo Việt Nam phát triển theo xu hớng ngày càng hiện đại.
Với phơng châm quảng cáo không chỉ phục vụ kinh doanh mà còn góp phần
tạo nên cảnh quan tơi đẹp, an toàn cho đô thị, hớng dẫn thị hiếu ngời tiêu dùng,
thúc đẩy hàng hoá trong nớc. Công ty Quảng Cáo Trẻ Hà Nội chú trọng phát triển
các loại hình quảng cáo hiện đại : Quảng cáo điện tử, biển quảng cáo thay đổi theo
chơng trình, quảng cáo tấm lớn. Cho đến nay Công ty đã tạo đợc chỗ đứng của
mình trên thị trờng đặc biệt là trong lĩnh vực quảng cáo tấm lớn. Hiện tại Công ty
đang chịu sức ép cạnh tranh rất lớn từ các công ty quảng cáo chuyên nghiệp về
quảng cáo ngoài trời, Công ty quảng cáo AE, Quảng cáo Hà Thái, Quảng cáo Bình
Minh vì vậy vấn đề làm cách nào để nâng cao khả năng cạnh tranh của ph ơng
tiện quảng cáo ngoài trời để giữ vững và mở rộng thị phần là vấn đề thu đang thu
hút sự chú ý của Công ty . Nhận thức đợc điều đó cùng với sự gợi ý của giáo viên
hớng dẫn, tác giả đã lựa chọn nghiên cứu đề tài : Các giải pháp chủ yếu nhằm
nâng cao khả năng cạnh tranh trong việc thiết kế thông điệp quảng cáo ngoài
trời tại Công ty Quảng Cáo Trẻ Hà Nội
Bài viết này đợc bố cục thành 3 phần sau :
Chơng I : Một số vấn đề về thị trờng quảng cáo ở Việt Nam.
Chơng II : Đánh giá khả năng cạnh tranh trong thiết kế thông điệp quảng cáo
ngoài trời của công ty Quảng Cáo Trẻ Hà Nội.
Chơng III : Các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh trong
việc thiết kế thông điệp quảng cáo ngoài trời tại Công ty Quảng Cáo Trẻ Hà Nội.
1
rộng với tốc độ khá nhanh báo hiệu sức nặng của cuộc cạnh tranh trong ngành
công nghiệp này sẽ ngày một gay gắt hơn nhiều. Tại thời điểm này không chỉ có
các công ty quảng cáo chuyên nghiệp làm dịch vụ quảng cáo mà các cơ quan chủ
quản truyền thông cũng làm dịch vụ quảng cáo, chính điều này đã làm cho quy mô
và thế lực cạnh tranh trên thị trờng quảng cáo thay đổi liên tục. Các chủ quảng cáo
có xu hớng a thích lựa chọn các cơ quan chủ quản truyền thông thực hiện dịch vụ
phơng tiện này cho chiến dịch quảng cáo của mình để đợc hởng những u đãi về tài
chính và lịch phát sóng.
Các doanh nghiệp hàng Việt Nam chất lợng cao sản xuất hàng tiêu dùng đã
thấy rằng việc quảng cáo là rất quan trọng và đã có ngân sách riêng dành cho các
3
kế hoạch quảng cáo. Tuy nhiên không phải tất cả các doanh nghiệp có ngân sách
dành cho hoạt động quảng cáo. Riêng đối với hoạt động quảng cáo qua điều tra
năm 2002 có 278 doanh nghiệp (chiếm 55, 6%) số doanh nghiệp đợc khảo sát tự
thực hiện các chiến dịch quảng cáo mà không có sự tham gia t vấn chuyên môn và
phối hợp thực hiện của các công ty dịch vụ quảng cáo thuê ngoài. Có khoảng 200
công ty (chiếm 40%) thực hiện dịch vụ quảng cáo có sự tham gia phối hợp hỗ trợ
chuyên môn của các công ty dịch vụ thuê ngoài, còn lại 22 công ty ( chiếm 4, 4%)
số công ty trong diện khảo sát không thực hiện hoạt động quảng cáo của mình.
Trong công ty chọn dịch vụ quảng cáo thuê ngoài chỉ tính riêng thành phố HCM
và Đông Nam Bộ có khoảng 115 công ty (chiếm 73, 7% số doanh nghiệp trong
vùng đợc khảo sát ), miền Bắc có khoảng 42 công ty( chiếm 62,7% doanh nghiệp
trong vùng điều tra).ở miền Trung hoạt động tự thực hiện quảng cáo (chiếm 91,
3% trong vùng này). Nh vậy cầu dịch vụ quảng cáo ở khu vực thành phố HCM và
Đông Nam Bộ là cao nhất bởi đây là khu vực kinh tế năng động nhất trong cả nớc.
Sự phát triển và cạnh tranh mạnh mẽ của các doanh nghiệp kinh doanh hàng hoá
dịch vụ ở khu vực này đã hình thành nên một thị trờng giàu tiềm năng đối với
ngành dịch vụ quảng cáo Việt Nam. Chính điều này là nguyên nhân đã khiến cho
các công ty dịch vụ quảng cáo tập trung chủ yếu ở thành phố HCM, đặc biệt là các
công ty quảng cáo quốc tế. Sự nghiên cứu đánh giá đúng hớng phát triển của thị tr-
điểm có những vấn đề kinh tế xã hội nóng bỏng mà có lợi cho công ty của họ.
Trong khi cần quảng cáo đang ngày càng tăng mạnh thì quảng cáo trên các phơng
tiên truyền thông chính thống lại bị nhà nớc khống chế và quản lý chặt chẽ, điều
này cũng là một nguyên nhân khiến cho các doanh nghiệp kinh doanh hàng hoá
dịch vụ có động lực cao trong việc tìm kiếm các loại hình và phơng thức quảng
cáo mới đa dạng hơn dẫn tới cầu về phơng thức quảng cáo hiện đại ngày càng cao.
Đây là căn cứ để khẳng định rằng không phải ngẫu nhiên mà các nhà phân tích
kinh tế châu âu lại dự báo thị trờng Việt Nam là một thị trờng tiềm năng mà các
công ty quảng cáo quốc tế đang nhắm tới và họ cũng cho rằng các công ty quảng
cáo quốc tế chính là những tác nhân tích cực trong việc thay đổi lối quảng cáo
truyền thống, các công ty quảng cáo quốc tế là những đối tợng có khả năng và
điều kiện sáng tạo các phơng thức quảng cáo hiện đại hết sức tài ba.
Nhu cầu quảng cáo ngày càng đợc tăng nhanh trong điều kiện cuộc cạnh
tranh chiếm lĩnh thị trờng của các doanh nghiệp sản xuất hàng hoá và dịch vụ
5
ngày càng gay gắt. Sự tăng trởng của thị trờng quảng cáo đợc đo bằng số lợng các
công ty quảng cáo tham gia trên thị trờng ngày một đông đảo và nhu cầu quảng
cáo cho hàng hoá, dịch vụ trên các phơng tiện truyền thông của các chủ doanh
nghiệp ngày càng tăng.
Bảng 10 nhãn hiệu quảng cáo nhiều nhất trên báo chí Việt Nam
stt nhãn hiệu số lần
1 Ford 572
2 ĐTD ĐSamsung 449
3
ô tô TOYOTA
260
4 NOKIA 328
5 Bia Tiger 354
6 Mercedes-Benz 515
7
Bảng số liệu về tốc độ tăng trởng của quảng cáo trong một số năm qua
ở Việt Nam
năm 1998 1999 2000 2001 2002 2003
doanh số
(triệu
USD)
109 116 157 196 201 456
tốc độ
tăng tr-
ởng %
0 6, 4 35, 3 24, 8 2, 55 126, 9
Nguồn : Hiệp hội quảng cáo Việt Nam
Năm 1999 tốc độ tăng đạt 6, 4% nhng đến năm 2000 đã tăng lên so với
những năm 1999 đạt 35, 3%, nh vậy mức độ chênh lệch về tốc độ tăng trởng của
ngành năm 1999 so với năm 1998 là 28, 9%. Đến năm 2000 có thể đợc gọi là năm
bản lề của ngành dịch vụ quảng cáo Việt Nam khi mà các doanh nghiệp kinh
doanh trên thị trờng hàng hoá nhận thức đợc tầm quan trọng và sự cần thiết phải
quảng cáo họ bắt đầu gia tăng ngân sách cho quảng cáo nhng cũng thời điểm đó là
lúc mà các công ty quảng cáo quốc tế tại thị trờng Việt Nam đồng nghĩa với sự
can thiệp và tác động mạnh mẽ vào ngành dịch vụ này. Tranh thủ đợc thời cơ khi
mà hoạt động quảng cáo Việt Nam cha đợc điều tiết quản lý bằng pháp lệnh quảng
cáo, các công ty quảng cáo quốc tế đã thực hiện các chiến thuật kinh doanh của
những ngời giàu tài chính và kinh nghiệm để khai thác thị trờng và bóp ngẹt các
công ty quảng cáo nội địa. Đây cũng là nguyên nhân khiến cho phần lớn doanh
thu của ngành quảng cáo trong nớc bị chảy ra nớc ngoài, tốc độ tăng trởng của
ngành năm 2001 đạt 24, 8% nhng mức tăng trởng này lại giảm so với năm liền kề
trớc nó là 10, 5%. Đến năm 2002 tốc độ tăng trởng của ngành chỉ còn 2, 25% so
với năm 2001 tốc độ tăng trởng này lại lại tiếp tục giảm xuống 22, 25%. Nh vậy
liên tục ba năm liền từ năm 2000 đến năm 2002 mặc dù tốc độ tăng trởng của
thị trờng, tăng doanh thu cho ngành quảng cáo Việt Nam. Bên cạnh đó các công ty
quảng cáo Việt Nam phải bớc vào một cuộc đối đầu trực tiếp với các công ty
quảng cáo khu vực để giành tiềm lực thị trờng trong việc hỗ trợ các công ty sản
xuất kinh doanh hàng hoá dịch vụ nớc ngoài xâm nhập vào thị trờng Việt Nam.
Nếu xét về lợi thế thì trong cuộc cạnh tranh này các công ty quảng cáo Việt Nam
có nhiều lợi thế hơn do am hiểu văn hoá và thói quen tiêu dùng của ngời Việt
Nam, song họ có giành đợc những hợp đồng từ các doanh nghiệp nớc ngoài hay
không điều đó lại phụ thuộc nhiều vào hình ảnh công ty, niềm tin của khách hàng
đối với công ty, khả năng đáp ứng yêu cầu đối với khách hàng và hoạt động khai
thác thị trờng và tìm kiếm khách hàng của chính bản thân mỗi công ty quảng cáo
Việt Nam.
9
II. Một số vấn đề về cạnh tranh.
2.1. Khái quát về cạnh tranh.
a) Cạnh tranh.
Khi nền kinh tế phát triển hơn một chút hàng hoá đợc trao đổi thông qua vật
ngang giá, đặc biệt là trong điều kiện của nền sản xuất hớng theo thị trờng, sự tác
động của quy luật giá trị, quan hệ cung cầu và quy luật giá trị thặng d đã phát sinh
là cạnh tranh. Mỗi chủ thể xuất hiện trên thị trờng với lợi ích kinh tế của mình đều
muốn tranh giành những điều kiện thuận lợi cho mình về sản xuất, về mua bán
hàng hoá .
Có nhiều quan điểm về cạnh tranh theo lĩnh vực nhng theo quan điểm
Marketing, cạnh tranh đợc hiểu : cạnh tranh là việc đa ra các chiến thuật chiến l-
ợc phù hợp với tiềm lực của doanh nghiệp, xử lý tốt các chiến lợc, chiến thuật của
đối thủ, giành đợc lợi thế trong kinh doanh nhằm tối đa hoá lợi nhuận . Nh vậy
theo quan điểm của Marketing cạnh tranh đợc hiểu một cách cụ thể. Đó là việc đa
ra những quyết định Marketing phù hợp với nguồn lực của doanh nghiệp nhằm
ứng xử với những biến động của thị trờng và các đối thủ cạnh tranh và thu lợi
nhuận cao. Nền kinh tế càng phát triển, hàng hoá bán ra ngày càng nhiều, số lợng
ngời cung ứng càng đông thì cạnh tranh càng gay gắt. Kết quả cuối cùng là một số
năng cạnh tranh trong tơng lai. Nh vậy, đây là cuộc cạnh tranh giữa công ty với bất
kỳ một công ty khác mà trong tơng lai có thể sẽ tham gia hoạt động kinh doanh
trong một lĩnh vực. Khả năng cạnh tranh của đối thủ tiềm tàng đợc đánh giá qua ý
niệm rào cản ngăn chặn sự gia nhập vào ngành
Cạnh tranh giữa công ty với các đối thủ cạnh tranh sản xuất sản phẩm thay
thế sản phẩm của công ty. Sản phẩm thay thế là sản phẩm của đối thủ cạnh tranh
trong cùng một ngành hoặc các ngành hoạt động kinh doanh có cùng chức năng
đáp ứng nhu cầu giống nhau của khách hàng. Đây là cuộc cạnh tranh giữa công ty
và các đối thủ cạnh tranh sản xuất ra những sản phẩm thay thế sản phẩm của công
ty.
Cạnh tranh giữa công ty với các nhà cung ứng đôi khi có sự cạnh tranh giữa
công ty với các nhà cung ứng khi họ tạo sức ép giá đòi nâng cao giá nguyên vật
liệu hoặc giảm chất lợng cung ứng, hoặc họ tự tiêu thụ vật liệu cung ứng của mình,
họ làm cho lợi nhuận của công ty giảm xuống.
Cạnh tranh giữa công ty với khách hàng :Khả năng mặc cả khách, khách
hàng yêu cầu giảm giá hoặc yêu cầu chất lợng phải tốt hơn đi kèm với dịch vụ
11
hoàn hảo. Điều này khiến cho chi phí hoạt động tăng thêm, tạo nguy cơ về giá
cạnh tranh. Nếu khách hàng yếu công ty có cơ hội tăng giá kéo theo lợi nhuận
tăng.
Cạnh tranh giữa các công ty trong ngành :Cạnh tranh nội bộ ngành là cuộc
cạnh tranh giữa các nhà doanh nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản xuất ra một
loại hàng hoá, nhằm mục đích tiêu thụ hàng hoá có lợi hơn để thu hút đợc lợi
nhuận siêu ngạch. Biện pháp cạnh tranh là các doanh nghiệp cải tiến kỹ thuật,
nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất nhằm làm cho giá trị cá biệt
của hàng hoá do doanh nghiệp sản xuất ra thấp hơn giá trị xã hội để thu lợi nhuận
siêu ngạch. Kết quả của cuộc cạnh tranh là kỹ thuật sản xuất phát triển, điều kiện
sản xuất trung bình trong một ngành thay đổi, giá trị thị trờng (giá trị xã hội ) của
hàng hoá đợc xác định lại, tỷ xuất lợi nhuận giảm xuống. Do tác động của quan hệ
cung cầu, giá cả của hàng hoá có thể cao hơn hay thấp hơn giá trị thị trờng. Tuy
việc tài trợ những mục trên của doanh nghiệp.
Tất cả các doanh nghiệp tồn tại trong thị trờng đều có vị trí nhất định của nó,
vì thế nếu một doanh nghiệp tham gia thị trờng mà không có khả năng cạnh tranh
hay khả năng cạnh tranh yếu thì sẽ không thể tồn tại đợc. Quá trình duy trì sức
cạnh tranh của doanh nghiệp phải là quá trình lâu dài, nếu không nói tới vĩnh viễn
nh là quá trình duy trì sự sống. Chất cạnh tranh của doanh nghiệp để đảm bảo khả
năng duy trì lâu dài sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Các tiêu thức xác định chất cạnh tranh doanh nghiệp đợc chia làm hai nhóm
Nhóm 1 :Là nhóm về số lợng gồm có gía thành, chi phí, năng suất, mức sinh
lợi của vốn đầu t.
Nhóm 2: Là nhóm về chất lợng gồm có không khí xã hội của doanh nghiệp
và động cơ con ngời, chất lợng dịch vụ khách hàng, tính mền dẻo
b)Cờng độ cạnh tranh trong nghành quảng cáo :
Nghành quảng cáo Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh mẽ, thực tế cho
thấy chỉ trong vòng cha đầy 5 năm tính từ năm 2000 đến nay thời điểm này số l-
ợng các công ty quảng cáo mới đợc thành lập tăng hơn 10 lần so với giai đoạn từ
năm 1990 đến năm 2000. Sở dĩ nh vậy là do nhu cầu tiêu thụ dịch vụ quảng cáo đã
không ngừng tăng lên, đó là những dấu hiệu báo hiệu tiềm năng phát triển của
ngành, chính điều đó đã trở thành động lực cơ bản thúc đẩy các công ty không
ngừng gia tăng tốc độ xâm nhập thị trờng này làm cho cờng độ cạnh tranh trong
ngành quảng cáo ngày một tăng cao. Các viện sỹ Marketing Mỹ đã dự báo thế kỷ
13
21 là thế kỷ của hoạt động quảng cáo, truyền thông Châu á, còn các nhà kinh tế
học Châu âu thì cho rằng quảng cáo sẽ bùng nổ ở Việt Nam trong thời gian sắp tới.
Những nhận định này là lời giải thích cho câu hỏi tại sao các công ty quảng cáo
mạnh trong khu vực, các công ty quảng cáo toàn cầu với hàng trăm năm tuổi đã có
mặt tại Việt Nam. Hiện nay có gần 1000 công ty kinh doanh trong lĩnh vực quảng
cáo (theo tổng cục thống kê Việt Nam 2003) nhng chỉ có gần 200 công ty là thành
viên của VAA và khoảng 20 văn phòng đại diện của các công ty quảng cáo quốc
tế đang khai thác dịch vụ quảng cáo trên thị trờng Việt Nam, chủ yếu tập trung ở
thu đợc trong thời gian gần đây còn là hệ quả điều tiết thị trờng của pháp lệnh
quảng cáo Việt Nam. Trong số 80% thị phần mà công ty quảng cáo quốc tế đang
có mặt tại Việt Nam hiện nay nắm giữ thì công ty quảng cáo Ogilvy&Mather,
FCB và LeoBurnett là ba công ty quảng cáo của Mỹ đang thắng thế trong việc áp
đảo thị phần. Các công ty quảng cáo của Nhật Bản vẫn chỉ khiêm tốn giữ mình
trong hoạt động kinh doanh theo kiểu Liên kết dân tộc đó là hình thức các
doanh nghiệp nhật khi kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam họ luôn lựa chọn và chỉ
tin tởng các công ty dịch vụ quảng cáo của Nhật thực hiện các chơng trình hỗ trợ
tiếp thị quảng cáo cho mình. Chính vì lý do đó mà dờng nh các công ty quảng cáo
Việt Nam và công ty quảng cáo quốc tế khác không bao giờ cho rằng các doanh
nghiệp Nhật Bản là khách hàng tiềm năng của mình.
III. Đánh giá về tính cạnh tranh trong viêc thiết kế thông
điệp của các đối thủ cạnh tranh của công ty Quảng Cáo
Trẻ Hà Nội.
3.1. Đặc điểm của thông điệp quảng cáo ngoài trời.
Thông điệp quảng cáo ngoài trời rất quan trọng đối với các chuyên gia thiết
kế quảng cáo ngoài trời, nó liên quan đến sự cảm nhận của thị giác. Sự diễn đạt
một ý tởng gây ngạc nhiên cho ngời xem bởi các từ ngữ hình ảnh sinh động cuốn
hút. Thông qua việc sử dụng các hình ảnh kịch tính hoặc tính hài hớc, những thông
điệp ngoài trời có thể dễ dàng tác động đến quyết định mua của nguời tiêu dùng.
Tuy nhiên, việc thiết kế thông điệp quảng cáo ngoài trời là một thách thức lớn
trong nhiệm vụ truyền thông nhất là khi đòi hỏi diễn tả rõ ràng một khái niệm hay
một mục tiêu nào đó. Khi một thông điệp quảng cáo ngoài trời đã có sự thiết kế tốt
nó sẽ trở thành nh một hình ảnh giải trí có tác động thu hút sự chú ý và sẽ gây đợc
sự hấp dẫn đối với ngời tiêu dùng.
Thông điệp quảng cáo ngoài trời mô tả rõ ràng sản phẩm hoặc lợi ích đặc biệt
mà chúng mang lại, thông thờng đạt đợc sự hồi tởng và tỷ lệ ghi nhớ cao trong số
15
ngời xem hơn là những thông điệp mà làm cho ngời ta hiểu sai hoặc thông tin sai
sự thật về chất lợng sản phẩm. Một cuộc gọi đợc thực hiện nó đánh dấu tính hiệu
nó đợc kết cấu nh một câu chuyện hay làm ngời ta phải để ý trong một thời gian
dài.
Sự ngạc nhiên :kích thích ngời xem bằng cách thực hiện một thông điệp có
những yếu tố bất thờng hay những điều mà ngời ta không ngờ tới. Với thông điệp
gây ngạc nhiên cho ngời xem thờng đa ra một giả định và làm tác động đến thói
quen, tình cảm của ngời xem, điều cần thiết là phải làm cho họ hiểu đợc thông
điệp đó. Đôi khi với những thông điệp quan trọng sự kết hợp giữa hình ảnh có tác
động mạnh với một tiêu đề hợp lý có thể là một thông điệp hiệu quả đợc lựa chọn.
Kiểu thông điệp này thờng dùng để cảnh báo về một vấn đề mang tính chất xã hội
nh Hút thuốc lá có hại cho sức khoẻ hay các đại dịch, nạn ô nhiễm môi trờng
Tính thẩm mỹ :Thông điệp mang tính thẩm mỹ thờng có những hình ảnh và ý
tởng gây đợc sự thích thú đối với ngời xem. Chúng mang lại sự dễ chịu đối với ng-
ời quan sát hoặc làm ngời ta thích ngắm nhìn nó một cách thật kỹ càng. Để tạo ra
đợc thông điệp có tính thẩm mỹ cao nó thờng phụ thuộc vào các hình ảnh hơn là
vào từ ngữ. Mặc dù các bức ảnh rực rỡ đầy màu sắc có thể làm tăng tính thẩm mỹ
cho các thông điệp quảng cáo ngoài trời, nhng các bức vẽ minh hoạ có chất lợng
cao vẫn đợc lựa chọn là những thông điệp có hiệu quả hơn nhiều.
3.2. Đặc điểm của khách hàng quảng cáo ngoài trời.
Nhịp sống ngày càng nhanh chóng và bận rộn nhng thông điệp quảng cáo
ngoài trời có thể tiếp cận với con ngời mọi lúc mọi nơi khi họ đi ra ngoài ngôi nhà
của mình. Quảng cáo ngoài trời đợc coi là phơng tiện hỗ trợ rất tốt cho các phơng
tiện quảng cáo khác (truyền hình, báo chí ) nó thích hợp nh là một phơng tiện
làm tăng cờng thêm khả năng nhận đợc thông điệp một cách sinh động nhất.
Quảng cáo ngoài trời không thể thực hiện riêng cho cho từng đoạn thị trờng khác
nhau do đó không có độc giả riêng, nó chỉ thích hợp là phơng tiện phục vụ cho
đông đảo khán giả. Quảng cáo ngoài trời bao giờ cũng to hơn kích cỡ thật vì thế
bao giờ nó cũng tạo ảnh hởng đối với khán giả hơn, ảnh hởng này càng đợc liên
tục duy trì bởi vì mẫu quảng cáo xuất hiện thờng xuyên mà không bị tắt mất nh
truyền hình hay vứt đi nh báo. ít nhiều chúng ta bị ảnh hởng bởi những bảng
quảng cáo ấn tợng với kích kỡ, màu sắc và tin ngắn đậm nét quảng cáo ngoài trời
lĩnh vực quảng cáo ngoài trời vì họ có thế mạnh rất lớn đối với vị trí đặt biển
quảng cáo rất đẹp trên đờng Thăng Long -Nội Bài, Đờng 1. Sản phẩm ngoài trời đã
thực hiện Samsung, Kodak, Salonpas (Giảng võ ), Vinaphone, Vinamilk .Hình
18
ảnh, màu sắc, lời thông điệp đợc phối hợp hài hoà mang tính thẩm mỹ cao, các sản
phẩm đợc đánh giá cao về chất lợng.
Công ty quảng cáo Bình Minh :(70 Trần Hng Đạo-Hoàn Kiếm)
Công ty này có thể cung cấp toàn bộ cho khoa học với các lĩnh vực nh t vấn
chiến lợc quảng cáo, thiết kế và tạo mẫu sản phẩm quảng cáo, thiết kế các chế bản
catalogue, tờ rơi, tờ gấp, các ấn phẩm cho văn phòng, khách sạn, lĩnh vực quảng
cáo ngoài trời, quảng cáo trên báo chí truyền thông. Lĩnh vực quảng cáo đợc coi là
trọng tâm đó là quảng cáo ngoài trời và thiết kế, chế bản các quảng cáo trên báo.
Công ty đã thực hiện một số biển quảng cáo cho : JVC, Inone, Daewoo, các vị
trí đặt biển khá đẹp.
Công ty quảng cáo và Hội trợ thơng mại Vinaxad ( số9_Đinh Lễ -Hoàn
Kiếm)
Đây là một công ty trực thuộc bộ thơng mại, đặt văn phòng đại diện tại Hà
Nội ngoài ra còn có các đơn vị chi nhánh tại thành phố HCM, Đà Nẵng, Nam
Định, các toà soạn, Trung tâm quảng cáo kinh doanh khác. Các loại hình quảng
cáo mà công ty đảm nhận là : Quảng cáo bảng ngoài trời tấm lớn, quảng cáo trên
các phơng tiện in ấn, quảng cáo Media tổ chức các sự kiện, hội trợ triển lãm
.Công ty chủ yếu về lĩnh vực hội trợ triển lãm, trên thực tế công ty đã chiếm quá
50% thị phần loại hình này trên thị trờng Hà Nội, sản phẩm quảng cáo ngoài trời
cũng đợc công ty quan tâm và phát triển. Vinaxad đã thực hiện một số biển quảng
cáo ngoài trời khá đặc sắc về nội dung và có vị trí đẹp nh : biển Ford, JiaLing,
SYM, TBC
Một số công ty nớc ngoài đặt văn phòng đại diện tại Hà Nội.
Là một số công ty lớn có uy tín trên thế giới họ không trực tiếp lắp đặt xây
dựng các biển quảng cáo ngoài trời mà nhờ danh tiếng họ đã nhận đợc khá nhiều
các hợp đồng quảng cáo ngoài trời sau đó thuê lại một công ty Việt Nam thực hiện
sáng tạo trên 50 ngời, các trâng thiết bị hiện đại tạo nên một tiềm lực cạnh tranh
mạnh mẽ cho Công ty. Ban lãnh đạo Công ty luôn biết nhận thức và tận dụng các
thế mạnh đó để phát triển công ty ngày càng lớn mạnh, thành công trong chiến lợc
kinh doanh đã đợc định hớng của mình. Mục tiêu của công ty sẽ trở thành công ty
hàng đầu Việt Nam trong lĩnh vực quảng cáo và với phơng châm Phấn đấu vì sự
thành công của khách hàng . Với sự quyết tâm của ban lãnh đạo công ty, sự ủng
hộ đoàn kết của các nhân viên, kỹ thuật viên dẫn đến sự thành công đợc ghi nhận.
Uy tín và danh tiếng của Quảng Cáo Trẻ Hà Nội đợc nhiều bè bạn, khách hàng
trên toàn quốc, quốc tế tín nhiệm và tin tởng.
Đây là một công ty quảng cáo chuyên nghiệp hoạt động trong các lĩnh vc sau
:
Thiết kế dàn dựng các cuộc triển lãm, lễ hội, giới thiệu sản phẩm,
Showroom.
Biển quảng cáo ngoài trời với đủ các loại phong phú.
Phim quảng cáo.
Xây dựng, t vấn quảng cáo và phát triển thơng hiệu cho các công ty.
21
Trong bối cảnh đất nớc đang chuyển mình các doanh nghiệp đua nhau kinh
với đủ loại sản phẩm dịch vụ, với nhiều hình thức quảng cáo, tiếp thị thu hút khách
hàng nó càng làm cho thị trờng quảng cáo trở nên sôi động hơn, cơ hội nhiều hơn
và nó cũng tạo ra sự cạnh tranh mãnh liệt hơn. Do vậy để tạo đợc niềm tin với
khách hàng, để khách hàng đến với mình nhiều hơn là điều khó khăn và phức tạp
nó đòi hỏi các hãng quảng cáo phải thực sự có năng lực có hiểu biết sâu rộng về
khách hàng, về thị trờng nhất là khi trình độ kinh doanh khách hàng ngày càng
cao, họ hiểu biết nhiều hơn, khó tính hơn, đòi hỏi nhiều hơn. Cùng với đó là đời
sống ngời dân ngày một nhu cầu cao về sinh hoạt thiết yếu không còn cao nữa
thay vào đó là nhu cầu thởng thức, hởng thụ và công nghệ quảng cáo trên thế giới
cũng luôn đổi mới để bắt kịp nhu cầu đó. Tất cả những điều này tạo thời cơ, nhng
cũng vừa là thách thức đối với doanh nghiệp làm quảng cáo nhất là các hãng
quảng cáo Việt Nam vừa mới ra đời trình độ nghiệp vụ còn non yếu lại bị cạnh
xuất biển điện tử
23
kế hoạch chiến lợc và ngân sách quảng cáo, cũng nh chiến lợc đồng nhất hoá các
phơng tiện truyền thông. Ngoài ra đây là nơi tạo ra khách hàng mới và duy trì
khách hàng cũ tạo mối làm ăn lâu dài.
Bộ phận thiết kế :
Gồm 4 nhân viên đây là bộ phận quan trọng thứ 2 trong công ty. Bộ phận này
thực sự đem đến sự khác biệt riêng cho công ty Quảng Cáo Trẻ Hà Nội. Khi các
sản phẩm hoàn thành và đợc công bố ra trớc công chúng mục tiêu do đó nó đợc
xem nh bộ mặt của công ty.
Các nhân viên của phòng luôn có khả năng tạo ra các ý tởng sáng tạo, cách
thức áp dụng nó vào sản phẩm quảng cáo làm thu hút khán giả. Họ luôn biết lắng
nghe tôn trọng ý kiến của khách hàng, nhất là vấn đề về văn hoá, pháp luật, tính
đồ hoạ và chi tiết nghệ thuật
Bộ phận kế toán :
Gồm 4 nhân viên họ quản lý toàn bộ tài sản, các loại vốn quỹ của công ty bảo
toàn phát triển có hiệu quả. Tham gia kiểm tra xét duyệt các định mức và chi phí
sản xuất kinh doanh, giá thành sản phẩm công trình, hớng dẫn các đơn vị thực
hiện, chế độ hạch toán kế toán, quản lý tài chính, quan hệ với ngân hàng để giải
quyết các nhu cầu về vốn cho sản xuất kinh doanh. Tham gia ký kết hợp đồng kinh
tế với các tổ chức kinh tế trong và ngoài nớc và thanh toán hợp đồng kinh tế với
khách hàng. Phân tích hoạt động kinh tế theo pháp lệnh kế toán thống kê, tổng hợp
báo cáo kế toán định kỳ và quyết toán cuối năm với nhà nớc.
Bộ phận hành chính :
Gồm 3 nhân viên chịu trách nhiệm đối với công việc hành chính văn phòng
và soạn thảo công văn, hợp đồng tài liệu, văn bản.
Tiếp nhận luân chuyển, quản lý văn th giữa cơ quan nhà nớc với công ty, các
đối tác kinh doanh, các đơn vị trực thuộc. Thực hiện tốt cơ chế bảo mật tài liệu
theo quy định của Nhà Nớc.
Thông báo triệu tập các cuộc họp, chuẩn bị các điều kiện phục vụ cho các
qua nh :
Bia Hà Nội, Bia Halida, Bao bì Hoa Việt, xe Matiz, mỹ phẩm EZUP, sữa
Vinamilk, Azbank, Toshiba, cửa sổ Eurowindow .
Loại đèn Led nh : Bia Fosters, Carsberg, Cocacola, Lioa
25