Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp GVHD: TS.Nguyễn Thị Tuyết Mai
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và công
nghệ thì hàng hóa được sản xuất ngày càng nhiều với quy mô lớn, chủng loại
hàng hóa cũng phong phú và đa dạng hơn, khác hẳn với nền kinh tế kế hoạch
hóa tập trung hàng hóa khan hiếm, chỉ có cạnh tranh mua chứ không có cạnh
tranh bán thì hiện nay với nền kinh tế thị trường với sự tự do cạnh tranh thì
hoạt động kinh doanh thương mại ngày càng sôi động, người bán phải cạnh
tranh nhau để bán được hàng, còn khách hàng thì được coi là thượng đế.
Ra đời từ sự phát triển của sản xuất và phân công lao động xã hội, các
doanh nghiệp thương mại trở thành bộ phận trung gian độc lập giữa sản xuất
và tiêu dùng, hoạt động kinh doanh tuân theo các quy luật của thị trường: quy
luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh. Các doanh nghiệp thương
mại muốn tồn tại và phát triển phải tìm mọi cách để tạo ra lợi nhuận cho riêng
mình.
Ra đời trong môi trường như vậy, Công ty TNHH Tam Tinh là công ty
tuy còn non trẻ nhưng nhờ có tập thể ban lãnh đạo công ty đã tìm cho mình
con đường đi đúng và dần dang chiếm lĩnh thị trường ở Việt Nam. Tuy Công
ty Tam Tinh chỉ thành lập từ năm 2003 nhưng Công ty Tam Tinh đã có tốc độ
phát triển không ngừng về doanh số và cán bộ công nhân viên.
Công ty Tam Tinh luôn luôn đổi mới hoạt động đi vào những hướng
mũi nhọn của công nghệ thông tin và đặc biệt quan tâm đến uy tín, chất
lượng, tạo ấn tượng về sự tồn tại của mình trong xã hội.
Công ty Tam Tinh đã gặt hái được nhiều thành công, tuy nhiên hiện
nay Tam Tinh đang đứng trước sự cạnh tranh rất gay go và ác liệt đối với các
hãng máy tính Đông Nam á đang tràn ngập trên thị trường nội địa. Đây là
điều mà ban lãnh đạo của Công ty Tam Tinh đang trăn trở nhất hiện nay, làm
SVTH: Bùi Như Hưng Lớp TM46a Trang 1
Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp GVHD: TS.Nguyễn Thị Tuyết Mai
sao để tìm ra hướng đi mới để giành lấy ưu thế về công ty. Đây là vấn đề
nóng bỏng, nó quyết định sự tồn tại và phát triển của công ty. Qua quá trình
I.1.1. khái niệm về cạnh tranh.
Khái niệm cạnh tranh đã được trình bày bởi rất nhiều tác giả. Tùy theo
từng giai đoạn phát triển khác nhau của nền kinh tế mà cạnh tranh được hiểu
theo các khía cạnh khác nhau. Dưới thời kì Chủ nghĩa Tư bản phát triển Mác
đã quan niệm rằng: “ Cạnh tranh Chủ nghĩa Tư bản là sự ganh đua, sự đấu
tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi
trong tiêu thụ hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch. Cơ sở của cạnh
tranh là chế độ tư hữu, chế độ tư hữu đẻ ra cạnh tranh, chèn ép lẫn nhau, “ cá
lớn nuốt cá bé “. Dưới Chủ nghĩa Tư bản do có chiếm hữu tư nhân tư bản chủ
nghĩa về tư liệu sản xuất cho nên tất yếu có cạnh tranh. Chủ nghĩa Tư bản
phát triển đến đỉnh điểm sang chủ ngĩa đế quốc rồi suy vong và cho đến ngày
nay kinh tế thế giới đã đi dần vào quỹ đạo của sự ổn định với xu hướng chủ
đạo là hội nhập giữ các nền kinh tế, cơ chế hoạt động là cơ chế thị trường có
sự quản lý, điều tiết của Nhà nước thì khái niệm cạnh tranh đã mất hẳn tính
giai cấp và tính chính trị nhưng về bản chất thì nó không thay đổi: “ Cạnh
tranh là sự đấu tranh gay gắt, sự ganh đua giữa các tổ chức, các doanh nghiệp
nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong kinh doanh để đạt được mục
tiêu của tổ chức, doanh nghiệp đó. Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh là
một điều kiện, là yếu tố kích thích kinh doanh, là môi trường và động lực tăng
năng xuất lao động… Nghiên cứu vấn đề này Mác đã phát hiện ra quy luật
SVTH: Bùi Như Hưng Lớp TM46a Trang 3
Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp GVHD: TS.Nguyễn Thị Tuyết Mai
cạnh tranh cơ bản: Quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân giữa các
ngành. Nếu ngành nào, lĩnh vực nào có tỷ suất lợi nhuận cao sẽ có nhiều
người để ý và tham gia, ngược lại những ngành nào , lĩnh vực nào mà có tỷ
suất lợi nhuận thấp thì có sự thu hẹp về quy mô hoặc sự rút lui của các nhà
đầu tư. Tuy nhiên sự tham gia hay rút lui của các nhà đầu tư không dễ dàng
một sớm một chiều là có thể thực hiện được mà đó là cả một quá trình lâu dài
đòi hỏi phải có sự tính toán kỹ lưỡng. Sản xuất hàng hóa càng phát triển, hàng
hóa bán ra càng nhiều, số lượng người cung ứng càng đông thì cạnh tranh
Ưu thế về chi phí có nghĩa là doanh nghiệp đó làm chủ chi phí sản xuất,
chi phí quản lý. Sự làm chủ này đem lại giá trị cho người sản xuất bằng cách
tạo ra sản phẩm có giá thành thấp hơn so với đối thủ cạnh tranh mạnh nhất
trên thị trường đó. Ưu thế này có được là nhờ doanh nghiệp có được lợi ích từ
việc tăng quy mô, tăng năng suất lao động.
Ưu thế khác biệt hóa sản phẩm của doanh nghiệp đó là khi tính ưu việt
của nó dựa vào chất lượng khác biệt của sản phẩm. Ưu thế này được coi là ưu
thế cạnh tranh bên ngoài, đòi hỏi các doanh nghiệp thường xuyên xem xét lại
năng lực Marketing của mình, khả năng phát hiện và thỏa mãn tốt hơn những
mong muốn của người mua mà sản phẩm hiện tại còn chưa đáp ứng được.
I.2. Vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường.
• Đối với nền kinh tế quốc dân:
Cạnh tranh làm cho nền kinh tế trở lên lành mạnh và ngày càng phát triển
điều chỉnh các nguồn lực của đất nước, là điều kiện quan trọng để phát triển
SVTH: Bùi Như Hưng Lớp TM46a Trang 5
Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp GVHD: TS.Nguyễn Thị Tuyết Mai
lực lượng sản xuất, nâng cao tiến bộ khoa học kỹ thuật, hiện đại hóa nền sản
xuất xã hội.
Cạnh tranh là môi trường, là động lực thúc đẩy sự phát triển bình đẳng của
mọi thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường. Cạnh tranh xóa bỏ độc
quyền, sự bất bình đẳng trong kinh doanh.
• Đối với doanh nghiệp:
Cạnh tranh tạo ra một sức mạnh vươn lên mạnh mẽ của các nhà kinh
doanh, tìm kiếm những biện pháp cần thiết để nâng cao hiệu quả kinh doanh,
tối thiểu hóa chi phí, kích thích sức mua, thỏa mãn tốt hơn nhu cầu đa dạng
của khách hàng, chiếm lĩnh và mở rộng thị phần, thu được lợi nhuận cao.
Cạnh tranh quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, tác động
đến hiệu quả kinh doanh thông qua kết quả tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa của
doanh nghiệp.
Cạnh tranh quyết định vị thế của doanh nghiệp trên thị trường thông qua
II.1. Căn cứ vào phạm vi nền kinh tế.
II.1.1.Cạnh tranh giữa các ngành.
Cạnh tranh giữa các ngành chính là sự cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp kinh doanh những hàng hoá dịch vụ khác ngành với nhau nhằm thu lợi
nhuận và có tỉ xuất lợi nhuận cao hơn so với vốn đã bỏ ra. Sự cạnh tranh này
SVTH: Bùi Như Hưng Lớp TM46a Trang 7
Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp GVHD: TS.Nguyễn Thị Tuyết Mai
dẫn đến doanh nghiệp đang kinh doanh từ ngành có tỉ suất lợi nhuận cao hơn
hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân.
II.1.2. Cạnh tranh trong nội bộ ngành.
Cạnh tranh trọng nội bộ ngành là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
cùng kinh doanh một loại hàng hoá hay dịch vụ nào đó nhằm giành lấy các
điều kiện có lợi nhất trong việc tiêu thụ hàng hoá dịch vụ đó. Mục đích là đạt
được lợi nhuận siêu ngạch
II.2. Căn cứ vào chủ thể tham gia cạnh tranh.
II.2.1. Cạnh tranh giữa người bán với nhau.
Là cuộc cạnh tranh trên vũ đài thị trường, đó là sự giành khách hàng
hay giành giật các lợi thế trong tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ nhằm thu được lợi
nhuận lớn nhất. Khi hàng hóa ngày càng tăng về số lượng và chất lượng do
công nghệ sản xuất ngày càng hiện đại và sự gia tăng của các doanh nghiệp
mới. Điều này đã làm cho thị trường cung sẽ lớn hơn cầu dẫn đến quá trình
tiêu thụ hàng hóa của các doanh nghiệp ngày càng trở lên khó khăn hơn, sự
cạnh tranh giữa các doanh nghiệp diễn ra ngày càng quyết liệt. Trong quá
trình ấy, quy luật cạnh tranh sẽ lần lượt gạt ra khỏi thị trường những chủ
doanh nghiệp không có chiến lược cạnh tranh thích hợp, Mặt khác nó mở
đường cho những doanh nghiệp nắm chắc được “vũ khí” phát triển.
II.2.2. Cạnh tranh giữa người mua với nhau.
Là sự cạnh tranh trên cơ sở của quy luật cung cầu. Khi một loại hàng
hóa dịch vụ nào đó trở lên khan hiếm tức là mức cung nhỏ hơn nhu cầu thì
cuộc cạnh tranh càng trở lên quyết liệt. Theo quy luật cạnh tranh này thì giá
Tốc độ tăng trưởng kinh tế: ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp theo hai hướng sau:
Thứ nhất, kinh tế tăng trưởng nhanh làm cho khả năng thanh toán nhanh
dẫn tới sức mua tăng, cung nhỏ hơn cầu hàng hóa khan hiếm hơn và làm tăng
khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp cung cấp sản phẩm.
Thứ hai, kinh tế tăng trưởng nhanh, hiệu quả kinh doanh của các doanh
nghiệp tăng, môi trường kinh doanh trở lên hấp dẫn hơn dẫn đến làm tăng tính
cạnh tranh trên thị trường, làm ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp.
Lãi suất cho vay của các ngân hàng: Lãi suất cao làm cho chi phí kinh
doanh cao từ đó làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Đồng thời
lãi suất của ngân hàng quá cao cũng đồng nghĩa với việc chính phủ hạn chế
cho vay vốn vì doanh nghiệp sẽ không có khả năng trả nợ. Như vậy doanh
nghiệp đã mất di những cơ hội kinh doanh chỉ vì không có vốn kịp thời.
Tỷ giá hối đoái và giá trị đồng nội tệ: Đồng nội tệ mạnh sẽ có lợi cho nhập
khẩu và ngược lại đồng nội tệ yếu so với đồng ngoại tệ sẽ có lợi cho xuất
khẩu. Đối với doanh nghiệp nhập khẩu thì việc đồng nội tệ giảm giá làm cho
giá vốn hàng bán của doanh nghiệp cao, dẫn đến giá bán của doanh nghiệp
cao làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
III.1.3. Các yếu tố văn hóa xã hội.
Các yếu tố văn hóa xã hội tuy biến đổi chậm nhưng cũng ảnh hưởng đến
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Phong tục tập quán, lối sống gia
đình tác động đến quá trình mua hàng từ đó nó ảnh hưởng đến sự cạnh tranh
của doanh nghiệp.
SVTH: Bùi Như Hưng Lớp TM46a Trang 10
Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp GVHD: TS.Nguyễn Thị Tuyết Mai
III.2. Các yếu tố thuộc môi trường ngành.
Mô hình 1: Mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của M.Porter
III.2.1. Mức độ cạnh tranh (Degree of Rivalry).
Cường độ cạnh tranh chịu ảnh hưởng của các đặc điểm ngành sau đây:
cạnh tranh trong ngành.
* Các rào cản “thoát ra” cao: Đặc điểm này khiến doanh nghiệp phải
chịu một chi phí cao, nếu muốn từ bỏ không kinh doanh sản phẩm nữa. Vì thế
hãng buộc phải cạnh tranh. Rào cản này làm cho một doanh nghiệp buộc phải
ở lại trong ngành, ngay cả khi công việc kinh doanh không thuận lợi lắm.
* Tính đa dạng của các đối thủ với các đặc điểm văn hóa, lịch sử và
triết lý khác nhau làm cho ngành kinh doanh trở nên không ổn định. Có
những công ty tăng trưởng không tuân theo quy luật làm cho các công ty khác
SVTH: Bùi Như Hưng Lớp TM46a Trang 12
Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp GVHD: TS.Nguyễn Thị Tuyết Mai
không đánh giá được chính xác tình hình thị trường, vì thế, tính cạnh tranh
cũng không ổn định và có chiều hướng tăng lên.
* Sự sàng lọc trong ngành: Thị trường tăng trưởng và có cơ hội thu
được lợi nhuận cao khuyến khích các hãng mới gia nhập thị trường và các
hãng cũ tăng sản lượng. Do vậy trong ngành sẽ có nhiều đối thủ cạnh tranh
hơn. Đến một lúc nào đó, mức độ tăng trưởng chậm lại và thị trường trở nên
bão hòa, tạo nên tình huống cung vượt quá cầu. Khi đó cuộc sàng lọc diễn ra,
cạnh tranh dữ dội dẫn đến chiến tranh giá cả và một số công ty phá sản.
Dù quy luật về thị trường ổn định đúng đến mức nào, thì rõ ràng là tính
ổn định của thị trường và những thay đổi trong cung và cầu đều ảnh hưởng
đến tính cạnh tranh. Tính chu kỳ của cầu đối với sản phẩm gây ra mức độ
cạnh tranh dữ dội. Điều này có thể thấy được qua một số thị trường có chu kỳ
kinh doanh khá dễ dự đoán như thị trường thiếp chúc mừng, thị trường tã giấy
trẻ em với lượng cầu dao động theo tỷ lệ sinh.
III.2.2. Nguy cơ Thay thế (Threat of Substitutes).
Trong mô hình của Porter, thuật ngữ “sản phẩm thay thế” là đề cập đến
sản phẩm thuộc các ngành kinh doanh khác. Theo các nhà kinh tế, nguy cơ
thay thế xuất hiện khi nhu cầu về một sản phẩm bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi
giá cả của một hàng hóa thay thế. Độ co giãn nhu cầu theo giá của một sản
phẩm chịu tác động của sự thay đổi giá ở hàng hóa thay thế. Càng có nhiều
áp đặt giá. Nếu khách hàng mạnh, họ có thể buộc giá hàng phải giảm xuống,
khiến tỷ lệ lợi nhuận của ngành giảm. Có rất ít hiện tượng độc quyền mua trên
thực tế, nhưng vẫn thường tồn tại mối quan hệ không cân bằng giữa một
SVTH: Bùi Như Hưng Lớp TM46a Trang 14
Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp GVHD: TS.Nguyễn Thị Tuyết Mai
ngành kinh doanh và người mua. Sau đây là những yếu tố quyết định sức
mạnh khách hàng.
Khách hàng có sức mạnh lớn khi:
Khách hàng có tính tập trung cao, tức là có ít khách hàng chiếm một thị
phần lớn.
Khách hàng mua một lượng lớn sản phẩm sản xuất ra trong bối cảnh
kênh phân phối hoặc sản phẩm đã được chuẩn hóa. Ví dụ thị trường bán lẻ
rộng lớn của các hãng Circui City và Sear giúp cho họ nắm được quyền lực
tương đối để áp đặt giá cả với các nhà sản xuất đồ gia dụng.
Khách hàng có khả năng sát nhập hay thậm chí là mua hãng sản xuất.
Ví dụ điển hình là các nhà sản xuất ô tô lớn rất có thể mua hãng sản xuất lốp
xe.
Khách hàng yếu trong những trường hợp sau:
Trường hợp sát nhập xảy ra: nhà sản xuất có khả năng sát nhập hoặc
mua hãng phân phối/ bán lẻ, chẳng hạn như các hãng sản xuất phim thường
có thể mua lại các rạp chiếu phim.
Chi phí chuyển đổi sản phẩm của khách hàng lớn, thường do sản phẩm
không được chuẩn hóa, vì thế khách hàng không thể dễ dàng chuyển sang sử
dụng sản phẩm khác được, điển hình là việc hãng IBM duy trì chiến lược sử
dụng hệ thống 360 trong thập niên 1960.
Có rất nhiều khách hàng, vì thế không khách hàng nào có ảnh hưởng
đáng kể đến sản phẩm hoặc giá sản phẩm. Hiện tượng này xảy ra với hầu hết
các loại hàng hóa tiêu dùng.
SVTH: Bùi Như Hưng Lớp TM46a Trang 15
Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp GVHD: TS.Nguyễn Thị Tuyết Mai
Sức mạnh của doanh nghiệp thu mua: Trong giao dịch thương mại, sức
mạnh của khách hàng đương nhiên sẽ làm giảm sức mạnh của nhà cung cấp.
Sức mạnh này được thể hiện rõ một khi khách hàng tẩy chay không mua sản
phẩm.
III.2.5. Các rào cản gia nhập (Barriers to Entry).
Không chỉ các đối thủ hiện tại mới tạo ra nguy cơ đe dọa các doanh
nghiệp trong một ngành, mà khả năng các hãng mới có thể gia nhập ngành
cũng ảnh hưởng đến cuộc cạnh tranh. Xét về mặt lý thuyết, bất cứ công ty nào
cũng có thể tham gia hoặc rút lui khỏi thị trường, nếu tồn tại “cổng vào” và
“cổng ra” tự do. Khi đó, lợi nhuận của ngành sẽ là không đáng kể. Tuy nhiên
trên thực tế, mỗi ngành có những biện pháp riêng để bảo vệ mức lợi nhuận
cao của các đơn vị đã có mặt trong thị trường, đồng thời ngăn cản các đối thủ
tiềm năng gia nhập vào thị trường đó. Những biện pháp này được gọi là các
rào cản gia nhập.
Các rào cản gia nhập không chỉ là sự điều chỉnh thông thường của thị
trường. Chẳng hạn như khi lợi nhuận của ngành tăng lên, chúng ta dự đoán
rằng sẽ có thêm các hãng muốn xâm nhập vào thị trường để được hưởng mức
lợi nhuận cao đó, khiến lợi nhuận của các hãng trong ngành giảm dần. Khi lợi
nhuận giảm, chúng ta lại dự đoán rằng một số công ty sẽ rút lui, nhờ đó, tình
trạng cân bằng thị trường được tái lập. Giá giảm, hoặc dự đoán rằng giá sẽ
giảm trong tương lai, ngăn cản các đối thủ tiềm năng bước vào thị trường.
Các công ty sẽ ngần ngại không muốn tham gia một thị trường bất ổn, đặc
biệt là nếu việc tham gia thị trường đòi hỏi phải tốn một khoản chi phí khởi sự
lớn. Đó là những điều chỉnh thông thường của thị trường, nhưng nếu các hãng
cố tình giữ giá thấp để duy trì mức lợi nhuận thấp của cả ngành (việc tập hợp
SVTH: Bùi Như Hưng Lớp TM46a Trang 17
Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp GVHD: TS.Nguyễn Thị Tuyết Mai
các hãng thực hiện biện pháp này sẽ bị coi là hành động phi pháp) như một
chiến lược để ngăn cản những công ty khác không bước chân vào thị trường,
thì việc đặt giá để ngăn cản gia nhập đó chính là một rào cản gia nhập.
các quy định nghiêm ngặt trong ngành này, các ngân hàng được phép vượt
qua biên giới địa phương mình và mở rộng thị trường. Việc bãi bỏ quy định
ngành ngân hàng tạo ra cạnh tranh mãnh liệt, đồng thời gây ra sự bất ổn định
trong ngành vì các ngân hàng khó duy trì thị phần của mình như trước. Vào
cuối thập niên 1970, các ngân hàng đã chuyển từ những chiến thuật tiếp thị
đơn giản tới chiến thuật sát nhập và mở rộng vùng địa lý khi có đối thủ toan
tính xâm nhập thị trường.
b, Bằng sáng chế và sở hữu trí tuệ là một rào cản gia nhập. Các ý
tưởng và kiến thức giúp nâng cao lợi thế cạnh tranh được coi là sở hữu cá
nhân sau khi được cấp bằng sáng chế và ngăn không cho những người khác
áp dụng kiến thức này. Đây cũng là một rào cản gia nhập. Edwin Land đã
phát minh ra máy ảnh Polaroid năm 1947 và sáng lập một công ty độc quyền
trong lĩnh vực chụp ảnh lấy ngay. Năm 1975, Kodak muốn tham gia vào thị
trường máy chụp ảnh và bắt đầu giới thiệu một loại máy ảnh tương tự.
Polaroid lập tức kiện Kodak vi phạm bản quyền và thắng kiện, buộc Kodak
phải rời khỏi ngành công nghiệp béo bở này.
c, Tính đặc trưng của tài sản hạn chế cổng vào ngành. Đặc trưng tài
sản đôi khi có thể khiến công ty sử dụng tài sản đó để sản xuất một sản phẩm
hoàn toàn khác. Tính đặc trưng của tài sản tạo thành hàng rào gia nhập bởi hai
lý do. Thứ nhất, khi các công ty đã có những tài sản mang tính chuyên môn
hóa cao, họ sẽ quyết liệt chống lại nỗ lực muốn gia nhập ngành của các công
ty mới nhằm mục đích giữ vững thị phần của mình. Các công ty mới gia nhập
có thể thấy trước mức độ cạnh tranh dữ dội này. Chẳng hạn như Kodak đã
đầu tư nhiều vốn vào ngành kinh doanh thiết bị chụp ảnh và vấp phải sự
SVTH: Bùi Như Hưng Lớp TM46a Trang 19
Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp GVHD: TS.Nguyễn Thị Tuyết Mai
kháng cự quyết liệt của Fuji. Thứ hai là khi một ngành đòi hỏi công nghệ
hoặc nhà máy hay thiết bị có tính chuyên môn hóa cao, thì các công ty muốn
tham gia hoạt động trong ngành sẽ ngần ngại trong việc đầu tư để có được các
tài sản đó – vì những tài sản có tính chuyên môn cao như vậy rất khó bán nếu
Khoảng cách giữa chi phí đầu vào so với chi phí đầu ra quá lớn
Một công ty khó thoát ra khỏi ngành nếu:
Ngành đòi hỏi các tài sản có tính chuyên môn hóa cao;
Chi phí rời bỏ ngành cao;
Các công ty kinh doanh trong ngành có quan hệ chặt chẽ với nhau;
III.3. Các yếu tố bên trong doanh nghiệp.
III.3.1. Nguồn lực tài chính.
Nguồn lực tài chính là một trong những yếu tố quan trọng quyết định
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có nguồn tài chính
mạnh sẽ có được một lợi thế trong cạnh tranh với các đối thủ khác và thực
hiện mở rộng quy mô kinh doanh gây sức ép với các đối thủ cạnh tranh.
Trong kinh doanh không phải bất cứ doanh nghiệp nào cũng có một nguồn
lực tài chính mạnh để tiến hành đầu tư, việc huy động được nguồn lực tài
chính cho hoạt động kinh doanh là hết sức khó khăn song việc sử dụng và
khai thác hiệu quả nguồn lực này quyết định sự thành bại của doanh nghiệp.
SVTH: Bùi Như Hưng Lớp TM46a Trang 21
Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp GVHD: TS.Nguyễn Thị Tuyết Mai
III.3.2. Nguồn lực con người.
Nguồn lực con người là yếu tố quyết định đến sự thành bại của hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp. Mỗi quyết định của họ có ý nghĩa quyết
định tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp mình đặc biệt là trong điều
kiện thị trường có sự cạnh tranh gay gắt. Nguồn lực tài chính hết sức quan
trọng trong cạnh tranh nhưng nó sẽ không phát huy được tác dụng nếu không
có nguồn lực con người với tư cách là chủ thể kinh doanh. Con người là yếu
tố chiến lược trong kinh doanh, phát huy yếu tố con người tạo nên một sức
mạnh vô hình cho doanh nghiệp tạo lên một lợi thế cạnh tranh trước các đối
thủ khác.
Nếu doanh nghiệp có được một đội ngũ cán bộ công nhân viên có trình
độ chuyên môn cao, có tính kỷ luật cao hơn so với đối thủ khác thì đay sẽ là
một lợi thế to lớn cho doanh nghiệp trong cuộc đua trên thị trường.
hoạch định các chiến lược phát triển nhằm nâng cao sức cạnh tranh trên thị
trường. Vì vậy khi xét đến các nhân tố có ảnh hưởng tới sức cạnh tranh các
mặt hàng của công ty thì trước hết cần phải xem xét mục tiêu kinh doanh của
doanh nghiệp trong giai đoạn đó.
III.3.5. Các dịch vụ sau bán hàng của doanh nghiệp.
Hoạt động của doanh nghiệp không phải dừng lại sau lúc giao hàng, thu
tiền của khách hàng mà còn có hoạt động dịch vụ sau bán hàng. Dịch vụ sau
bán hàng thể hiện trách nhiệm đến cùng đối với người tiêu dùng về sản phẩm
của mình. Các dịch vụ sau bán hàng như: vận chuyển hàng miễn phí, bảo
hành hướng dẫn cách sử dụng sản phẩm, lắp đặt sản phẩm tại gia đình người
tiêu dùng... Tất cả những thứ đó sẽ gây được uy tín của sản phẩm và doanh
SVTH: Bùi Như Hưng Lớp TM46a Trang 23
Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp GVHD: TS.Nguyễn Thị Tuyết Mai
nghiệp trên thị trường, giữ và tăng thêm được khách hàng, tạo cho khách hàng
cảm thấy yên tâm trước khi quyết định mua hàng.
Qua hoạt động dịch vụ sau bán hàng mà doanh nghiệp biết được sản
phẩm của mình đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của ngời tiêu dùng ra sao. Sự khen
chê của khách hàng, phát hiện các khuyết tật của sản phẩm mà đổi mới, hoàn
thiện tốt hơn. Dịch vụ sau bán hàng là một giải pháp rất tốt cho uy tín của
doanh nghiệp trong cạnh tranh.
III.3.6. Hoạt động Marketing của doanh nghiệp.
Hoạt động Marketing không thể thiếu ở mỗi doanh nghiệp hiện nay.
Chúng giúp doanh nghiệp phân tích nhu cầu của khách hàng, các hình thức
cạnh tranh của đối thủ, dự báo được số lượng sản phẩm có thể tiêu thụ trong
tương lai... Trên cơ sở đó doanh nghiệp sẽ đưa ra các chiến lược kinh doanh
hiệu quả, tạo được các sản phẩm phù hợp với sở thích của khách hàng với
mức giá linh hoạt theo sự biến động của thị trường. Xây dựng được hệ thống
tiêu thụ sản phẩm rộng khắp trên nhiều quốc gia khác nhau từ đó làm tăng khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
III.3.7. Hoạt động phân phối sản phẩm của doanh nghiệp.
phải nghiên cứu các yếu tố một cách tỉ mỉ. Việc đưa ra một chính sách giá
hợp lý vào một thời điểm nhất định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh
nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh của mình. Cạnh tranh bằng giá thực chất
là tạo được nghệ thuật sử dụng giá và giá bán tạo ra nhiều lợi thế trên thương
trường. Biện pháp cạnh tranh về giá hữu hiệu nhất mà các doanh nghiệp đưa
ra là một cơ sở giá linh hoạt. Nó không phải là một mức giá cố định mà nó
thay đổi phù hợp theo tình hình của thị trường. Sau đây là một số chính sách
giá mà các doanh nghiệp thường áp dụng:
SVTH: Bùi Như Hưng Lớp TM46a Trang 25