Giải pháp nâng cao sức cạnh tranh trong việc kinh doanh máy tính và thiết bị tin học của Công ty QTECH - Pdf 58

LỜI MỞ ĐẦU
Máy tính trên thị trường là một trong những sản phẩm luôn được chú
trọng và quan tâm, luôn tìm được chỗ đứng trên thị trường. Trong môi trường
như hiện nay khi có nhiều đơn vị hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tin học
thì việc cạnh tranh là không thể tránh khỏi, có thể nói sự cạnh tranh trên thị
trường Công Nghệ Thông Tin Việt Nam là rất gay gắt và khốc liệt. Đó là sự
cạnh tranh để bán máy tính giữa các công ty tin học trong nước với nhau và
giữa cá nhà sản xuất nước ngoài nhằm giành giật thị trường và thu lợi nhuận
tối đa. Đây là một thị trường lớn, sôi động, phát triển mạnh và cạnh tranh gay
gắt.
Ra đời trong môi trường như vậy, Công ty Cổ phần công nghệ và dịch
vụ thương mại Quang Tùng (tên giao dịch QTECH) là công ty tuy còn non
trẻ nhưng nhờ có tập thể ban lãnh đạo công ty đã tìm cho mình con đường đi
đúng và dần dang chiếm lĩnh thị trường tin học Việt Nam. Tuy QTECH mới
chỉ thành lập từ năm 2001, QTECH đã có tốc độ phát triển không ngừng về
doanh số và cán bộ công nhân viên.
QTECH luôn luôn đổi mới hoạt động đi vào những hướng mũi nhọn của
công nghệ thông tin và đặc biệt quan tâm đến uy tín, chất lượng, tạo ấn tượng
về sự tồn tại của mình trong xã hội.
QTECH đã gặt hái được nhiều thành công, tuy nhiên, hiện nay QTECH
đang đứng trước sự cạnh tranh rất gay go và ác liệt đối với các hãng máy tính
Đông Nam á đang tràn ngập trên thị trường nội địa. Đây là điều ban lãnh đạo
QTECH đang trăn trở nhất hiện nay, làm sao để tìm ra hướng đi mới để giành
lấy ưu thế về công ty. Đây là vấn đề nóng bỏng, nó quyết định sự tồn tại và
phát triển của công ty. Qua quá trình thực tập ở Phòng Kinh doanh của công
ty, em đã tập trung đi sâu vào nghiên cứu một số vấn đề về sức cạnh tranh
1
máy tính và các thiết bị tin học của công ty QTECH. Và mong muốn được
góp sức mình trong việc tìm ra các biện pháp tốt nhất để nâng cao sức cạnh
tranh cho các loại máy tính và thiết bị tin học của công ty để công ty có thể
kinh doanh thành công mặt hàng này trong môi trường cạnh tranh khốc liệt

 Quan điểm I: Cạnh tranh là sử dụng các biện pháp để chiến thắng trên
thị trường, để mặt hàng máy tính của mình có chỗ đứng trên thị trường.
 Quan điểm II: Cạnh tranh là sử dụng các biện pháp chính sách và nghệ
thuật để doanh nghiệp tạo ra nhiều lợi thế tồn tại trên thị trường. Cạnh
tranh không nhất thiết là phải làm cho doanh nghiệp mình thắng.
 Quan điểm III: Cạnh tranh là sử dụng các chính sách biện pháp và nghệ
thuật để thực hiện các chiến lược cạnh tranh đặc biệt là chiến lược về
tài chính và lợi nhuận.
Kinh tế thị trường luôn có xu hướng ra tăng nhiều hãng cùng tham gia
voà một lĩnh vực do đó cạnh tranh sẽ ngày càng khốc liệt. Quy luật cạnh tranh
sẽ lần lượt gạt khỏi thị trường những doanh nghiệp không có khả năng phân
bố nguồn lực tới các hãng hoạt động có hiệu quả hơn. Đồng thời nó buộc các
doanh nghiệp phải tự vận động tạo ra cho mình một lợi thế so với đối thủ để
tồn tại và phát triển.
3
1.1.2. Khái niệm cạnh tranh.
Cạnh tranh ngày một sâu rộng và trở nên gay gắt, nó là yếu tố nội tại của
hàng hoá và tiếp cận thị trường không thể tránh được. Cạnh tranh buộc doanh
nghiệp phải xuất sắc và cung cấp những sản phẩm mà thị trường cần để đáp
ứng nhu cầu ngày càng đa dạng và phong phú của người tiêu dùng.
Cạnh tranh là một hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp, nó được thể
hiện trong các biện pháp kinh doanh, có thể hiểu cạnh tranh của các doanh
nghiệp là việc sử dụng hệ thống cá chính sách, các công cụ của các doanh
nghiệp để đối phó và phản ứng với các doanh nghiệp khác nhằm mục đính tồn
tại và phát triển trên thị trường và để thu lợi nhuận dự kiến hoặc lợi nhuận tối
đa.
Cạnh tranh giúp cho doanh nghiệp hoàn thiện chính sách nâng cao sức
cạnh tranh cho bản thân doanh nghiệp và các mặt hàng của doanh nghiệp để
đạt mục tiêu cuối cùng là tối đa hoá lợi nhuận. Trong quá trình cạnh tranh
doanh nghiệp sẽ dần dần khẳng định được vị trí và uy tín của mình trên thị

trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ nhằm thu được lợi nhuận lớn
nhất. Khi sản xuất hàng hóa càng phát triển, số người bán càng tăng thì cạnh
tranh càng quyết liệt. Trong quá trình ấy, một mặt sản xuất hàng hóa với quy
luật cạnh tranh sẽ lần lượt gat ra khỏi thị trường những chủ doanh nghiệp
không có chiến lược cạnh tranh thích hợp, Mặt khác nó mở đường cho những
doanh nghiệp nắm chắc được “vũ khí” phát triển.
5
1.3. CÁC CÔNG CỤ VÀ HÌNH THỨC CẠNH TRANH.
1.3.1. Các công cụ cạnh tranh.
1.3.1.1. Cạnh tranh bằng sản phẩm.
Đây là một trong những hình thức cạnh tranh quan trọng nhất, chữ tín
của doanh nghiệp và tạo ra lợi thế có tính quyết định cho cạnh tranh.
Nhu cầu của người ngày càng có xu thế đi lên do vậy cuộc đời của mỗi
mẫu hàng ngắn dần. Sự sống còn của mỗi công ty phụ thuộc vào khả năng
thay đổi mẫu mã kiểu dáng nhanh. Sản xuất hàng loạt kết hợp với những mặt
hàng đơn chiếc phục vụ cho từng đối tượng người tiêu dùng sẽ nâng cao sức
cạnh tranh cho công ty. Thời kỳ “chất lượng ăn đứt hình thức” đã qua, khách
hàng đòi hỏi cả nội dung lẫn hình thức. Bao bì đẹp thể hiện sự tôn trọng đối
với người tiêu dùng.
Cạnh tranh thông qua việc xác định và đưa ra thị trường những sản phẩm
có chất lượng cao hơn, những sản phẩm này có ưu thế trên thương trường tuy
nhiên cần chú ý mối quan hệ giữa nâng cao chất lượng và giá bán để đảm bảo
lợi thế của sản phẩm có chất lượng cao.
1.3.1.2. Cạnh tranh bằng giá.
Giá cả là một trong những công cụ cạnh tranh quan trọng nhất. Định giá
có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng, vì nó là nhân tố quy định sự tồn tại và phát
triển của doanh nghiệp. Định giá trong kinh doanh, đòi hỏi các doanh nghiệp
phải nghiên cứu các yếu tố một cách tỉ mỉ để có thể quy định giá thích hợp
cho sản phẩm của mình một cách phù hợp nhất vào một thời điểm nhất định
nào đó. Đưa ra một chính sách giá cả nào, vào thời điểm nào cho phù hợp sẽ

Phục vụ là một trong một trong số lĩnh vực có cạnh tranh mãnh liệt nhất,
đặc biệt trong lĩnh vực hiện nay. Nhiều hãng coi đây là địa bàn lợi hại nhất
7
trong việc trinh phục khách hàng. Chất lượng hàng hoá thì khó phân biệt
nhưng trình độ và chất lượng dịch vụ thì khó qua mắt người tiêu dùng.
Người tiêu dùng hiện đại thường quan tâm nhiều đến dịch vụ hơn là một
số yếu tố như giá cả, thậm chí cả chất lượng của món hàng đã mua. Việc vận
chuyển ra sao, cách bảo hành như thế nào, thời gian bảo dưỡng đinh kỳ có
thường xuyên hay không thái độ bên bán ra sao mỗi khi hàng hóa có vấn đề
trục trặc.
Như vậy chất lượng phục vụ là yếu tố hết sức quan trọng, chất lượng
phục vụ thay đổi tuỳ theo người cung cấp thời gian, địa điểm. Vì vậy để cạnh
tranh hiệu quả, nguyên tắc chung của họ là tạo sự tin tưởng đối với khách
hàng. Trong kinh doanh các doanh nghiệp thường phải đối đầu với tính thời
vụ có lúc hoạt động dồn dập, nhưng cũng có lúc không có việc làm. Việc tạo
ra một cơ cấu phục vụ sẽ giúp được doanh nghiệp khắc phục được hạn chế
trên và sẽ thoả mãn được nhu cầu khách hàng, giảm bớt được rủi ro trong
kinh doanh.
1.3.2.3.Cạnh tranh bằng uy tín.
Các hãng tranh nhau bỏ những khoản tiền lớn mua một số nhãn hiệu nổi
tiếng, hay đấu tranh chống bọn làm hàng giả, nâng cao chất lượng hàng hoá
và dịch vụ, cố gắng tiết kiệm các chi phí để hạ giá thành sản phẩm. .. cũng chỉ
đẻ giữ uy tín của công ty với khách hàng. Để tạo uy tín là vô cùng khó khăn, tốn
kém và vô cùng kì công, trong đó chỉ sơ xuất nhỏ cũng làm mất nó. Tạo được uy
tín đã khó, phấn đấu để duy trì và củng cố nó càng khó hơn.
Trong xã hội tiêu dùng, khi chất lượng hàng hoá của các hãng không
chênh lệch nhau là mấy thì uy tín là vấn đề quyết định khách hàng chỉ tìm đến
với các nhãn mác nổi tiếng chứ không mấy ai bỏ tiền ra mua hàng hoá không
rõ nguồn gốc xuất xứ.
8

công nghệ, mẫu mã, …cũng không thể so sánh với các doanh nghiệp có tiềm
lực kinh tế mạnh và sự đầu tư cao. Vì vậy tuỳ theo từng mặt hàng mới nên áp
dụng hình thức cạnh tranh nh ư trên để tránh tình trạng bị đối thủ cạnh tranh
lớn đè bẹp.
2.3.2. Cạnh tranh không trực diện.
Ngược lại với hình thức trên là hình thức cạnh tranh không trực tiếp đa
sản phẩm của mình ra so sánh ngang bằng về giá cả, chủng loại, mẫu mã,
nhãn hiệu… với đối thủ cạnh tranh để tránh bị tổn hại về vị trí cũng như khả
năng kinh tế sau khi cạnh tranh với các đối thủ mạnh. Thường các công ty,
doanh nghiệp khi lựa chọn hình thức này sẽ đa ra thị trờng các mặt hàng thay
thế, thay đổi một chút so với các mặt hàng của đối thủ cạnh tranh nhằm tránh
bị so sánh trực tiếp với các hàng hoá cùng chủng loại của đối thủ cạnh tranh.
Đây là hình thức cạnh tranh tương đối an toàn cho các công ty, doanh nghiệp
vừa và nhỏ, tuy nhiên doanh nghiệp sẽ mất thời gian trong việc chiếm lĩnh thị
phần cũng như nâng cao năng lực cạnh tranh hàng hoá trên thị trường.
1.4. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỨC CẠNH TRANH CỦA HÀNG
HOÁ.
1.4.1. Các nhân tố thuộc bản thân hàng hoá ảnh hưởng đến sức cạnh
tranh.
Hàng hoá chính là đối tượng để nâng cao năng lực cạnh tranh đồng thời
cũng chính là công cụ để cạnh tranh một cách hữu hiệu nhất với các hàng hoá
khác của đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Vì vậy khi đề cập đến các nhân tố
ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của hàng hoá thì trước hết cần đề cập đến chính
các nhân tố nằm từ bản thân hàng hoá đó.
10
1.4.1.1. Nhân tố giá cả.
Từ khi xuất hiện nền kinh tế thị trường thì giá cả đã trở thành một công
cụ cạnh tranh đắc lực của các nhà kinh doanh. Giá cả của hàng hoá phản ánh
được sự hợp lý hoá về chi phí sản xuất của doanh nghiệp, phản ánh được phần
nào sức cạnh tranh của mặt hàng đó trên thị trường. Theo quy luật cầu thì giá

cho các sản phẩm của mình bằng việc đưa ra các loại hàng hoá có chất lượng
tương đối, giá cả trung bình nhưng có mẫu mã và hình thức nổi trội so với các
sản phẩm cùng loại và đã đạt được những thành công nhất định. Mẫu mã và
hình thức của hàng hoá giờ đây không chỉ là một đặc tính cần có của hàng
hoá mà còn trở thành công cụ đắc lực trong việc nâng cao sức cạnh tranh cho
chính bản thân hàng hoá đó trên thị trường. Đời sống càng phát triển, nền
kinh tế thế giới càng phát triển thì mẫu mã và hình thức của hàng hoá sẽ ngày
càng có vai trò ảnh hưởng to lớn đến sức cạnh tranh của hàng hoá trên thị
trường, đặc biệt là đối với các loại hàng hoá xuất khẩu ra thị trường thế giới,
nơi nhu cầu và mong muốn của khách hàng là vô cùng phong phú và đa dạng.
1.4.2.4. Nhân tố nhãn hiệu.
Trước đây khi các doanh nghiệp tiến hành kinh doanh trên thị trường thì
đa số các mặt hàng đều không nhận được sự quan tâm đúng mức tới nhãn
hiệu của hàng hoá. Khi nền kinh tế thị trường phát triển lên một mức cao hơn
thì nhãn hiệu của hàng hoá mới bắt đầu được cả người mua và người bán thực
sự quan tâm. Cho tới nay việc kinh doanh hàng hoá, khẳng định vị trí của
hàng hoá nào đó trên thị trường thì nhãn hiệu của hàng hoá đã trở thành yếu
tố không thể thiếu để xác định được đúng loại hàng hoá đó, vị trí cũng như
sức cạnh tranh của hàng hoá đó có được trên thị trường. Nhãn hiệu hàng hoá
có thể biểu thị bằng hình ảnh, bằng chữ hoặc được thiết kế một cách kết hợp
cả hình ảnh và từ ngữ hoặc bằng khẩu hiệu. Nhãn hiệu được ghi lên hàng hoá
12
bao bì trong, bao bì ngoài và ghi lên các phương tiện quảng cáo, lên đầu các
thư tín thương mại, đầu các hoá đơn…
Người có nhãn hiệu phải đăng ký bảo vệ nhãn hiệu thì nhãn hiệu đó mới
có giá trị. Luật pháp quốc tế sẽ bảo vệ cho người có đăng ký bảo vệ nhãn hiệu
chống mọi sự lợi dụng, xuyên tạc làm ảnh hưởng đến uy tín của nhãn hiệu đó,
kể cả việc bắt chước kỹ thuật bao gói.
Trong thực tiễn, nhãn hiệu hàng hoá là một công cụ cạnh tranh đảm
bảolợi thế trên thị trường nước ngoài. Người sản xuất và người bán hàng có

doanh nghiệp sẽ chọn lựa cho mình một mặt hàng chiến lược để phát triển
hoạt động kinh doanh mặt hàng đó, bên cạnh đó mục tiêu kinh doanh còn có
thể là mở rộng thị trường hay tăng thị phần bằng một chủng loại hàng hoá
hoặc nhiều chủng loại hàng hoá, qua đó doanh nghiệp sẽ tiến hành đầu tư và
dành một số vốn nhất định để phát triển cho mặt hàng chiến lược của doanh
nghiệp mình. Chính vì vậy mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp có vai trò
quyết định rất lớn đến sức cạnh tranh của một mặt hàng mà doanh nghiệp
đang tiến hành kinh doanh. Khi mặt hàng đã nằm trong mục tiêu kinh doanh
của doanh nghiệp thì nó sẽ nhận được những đầu tư nhất định và được hoạch
định các chiến lược phát triển nhằm nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường.
Vì vậy khi xét đến các nhân tố có ảnh hưởng tới sức cạnh tranh các mặt hàng
của công ty thì trước hết cần phải xem xét mục tiêu kinh doanh của doanh
nghiệp trong giai đoạn đó.
1.5.3. Các dịch vụ sau bán hàng của doanh nghiệp.
Hoạt động của doanh nghiệp không phải dừng lại sau lúc giao hàng, thu
tiền của khách hàng mà còn có hoạt động dịch vụ sau bán hàng. Dịch vụ sau
bán hàng thể hiện trách nhiệm đến cùng đối với người tiêu dùng về sản phẩm
của mình. Các dịch vụ sau bán hàng như: vận chuyển hàng miễn phí, bảo
14
hành hướng dẫn cách sử dụng sản phẩm, lắp đặt sản phẩm tại gia đình người
tiêu dùng... Tất cả những thứ đó sẽ gây được uy tín của sản phẩm và doanh
nghiệp trên thị trường, giữ và tăng thêm được khách hàng, tạo cho khách hàng
cảm thấy yên tâm trước khi quyết định mua hàng.
Qua hoạt động dịch vụ sau bán hàng mà doanh nghiệp biết được sản
phẩm của mình đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của ngời tiêu dùng ra sao. Sự khen
chê của khách hàng, phát hiện các khuyết tật của sản phẩm mà đổi mới, hoàn
thiện tốt hơn. Dịch vụ sau bán hàng là một giải pháp rất tốt cho uy tín của
doanh nghiệp trong cạnh tranh.
1.5.3.1. Hoạt động Marketing của doanh nghiệp.
Hoạt động Marketing không thể thiếu ở mỗi doanh nghiệp hiện nay.

Khách hàng là đối tượng mà doanh nghiệp phục vụ và là yếu tố quyết
định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Bởi vì khách hàng tạo nên
thị trường, quy mô khách hàng tạo nên quy mô thị trường. Khách hàng sẽ bao
hàm nhu cầu. Bản thân nhu cầu lại không giống nhau giữa các các nhóm
khách hàng và thường xuyên biến đổi. Nhu cầu và sự biến đổi nhu cầu lại
chịu sự chi phối của nhiều yếu tố, đến lượt mình nhu cầu và sự biến đổi nhu
cầu lại ảnh hưởng đến toàn bộ các quyết định kinh doanh của doanh nghiệp.
Một sản phẩm hàng hoá bán ra trên thị trường có thể tồn tại được trước hết là
do khách hàng có nhu cầu mua nó. Sản phẩm đó có thể cạnh tranh trên thị
trường hay không, chiếmlĩnh thị trường như thế nào lại phải cần có nhu cầu từ
phía khách hàng. Nhu cầu vốn dĩ tự bản thân nó đã có ảnh hưởng quyết định
tới sức cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường.
1.5.4.2. Đối thủ cạnh tranh.
Nhìn chung mọi công ty, doanh nghiệp hay các sản phẩm hàng hoá của
họ đều phải đối đầu với các đối thủ cạnh tranh khác nhau. Một sản phẩm hàng
hoá khi đưa ra thị trường không chỉ vấp phải sự cạnh tranh gay gắt từ phía các
16
sản phẩm hàng hoá cùng loại mà còn phải chịu sự đe doạ của các mặt hàng
thay thế hay các sản phẩm khác loại mà cùng thoả mãn một mong muốn nào
đó của khách hàng. Sản phẩm hàng hoá của đối thủ cạnh tranh là gì? Chiến
lược phát triển sản phẩm và chiến lược cạnh tranh của đối thủ ra sao? Đây là
điều luôn đòi hỏi bất kỳ nhà kinh doanh nào khi hoạt động trên thị trường đều
phải giải đáp và tìm ra các đối sách thích hợp để nâng cao sức cạnh tranh cho
các sản phẩm hàng hoá của mình, để có thể tồn tại và kinh doanh thành công
trên thị trường.
1.5.4.3. Chính sách của Nhà nước.
Sức cạnh tranh hàng hoá của doanh nghiệp cũng bị ảnh hưởng bởi các
chính sách, luật pháp của Nhà nước như:
 Các chính sách về miễn giảm thuế xuất khẩu sản phẩm đối với của
doanh nghiệp.

1.6. CÁC MÔ HÌNH PHÂN TÍCH SỨC CẠNH TRANH CỦA HÀNG HOÁ.
1.6.1. Mô hình 3C:
Mô hình 3C được coi là căn cứ giúp cho người làm giá lựa chọn cho
mình một phương pháp xác định giá thích hợp. Các công ty phải giải quyết
vấn đề định giá bằng cách lựa chọn một phương pháp bao trùm được một hay
nhiều vấn đề trong số 3 vấn đề này. Mỗi một phương pháp sẽ cho ra một mức
cụ thể.
Hình 1.2: Một số căn cứ khi lựa chọn giá bán.
18
Giá dự kiến có thể
3C: Đồ thị cầu - Customer
Hàm chi phí - Cost
Giá của đối thủ cạnh tranh - Com petitor
Giá quá thấp
Giá này không
thể có lãi
Giá
thành
Giá của các đối
thủ cạnh tranh và
hàng hoá thay thế
Phẩm
chất đặc
biệt của
hàng hoá
Giá quá cao
Giá này
không thể có
Từ mô hình 3C rút ra được những phương pháp định giá cơ bản sau:
 Định giá theo cách lãi cộng vào chi phí.

 Bán hàng xét theo giác độ phương pháp và các phương tiện thương
mại.
 Sau bán hàng tức là đo lường khả năng của doanh nghiệp tạo sự tin cậy
cho khách hàng.
 Ngoại giao là khả năng điều hành theo hướng tích cực những mối liên
hệ của các nhân tố của môi trường, chính quyền, báo chí, dư luận xã
hội v.v…
 Trước bán hàng không chỉ là khả năng dự báo nhu cầu thị trường mà
còn áp dụng các hoạt động đủ thành thục để thuyết phục họ về khả
năng tuyệt vời của doanh nghiệp trong việc thoả mãn các nhu cầu đó.
Hình 1.1 . Đồ thị đa giác cạnh tranh.
S¶n xuÊt
Gi¸ c¶
Tµi chÝnh
B¸n hµng
Sau b¸n hµng
Ngo¹i giao
Tr­íc b¸n hµng
Quan niÖm
1.6.3. Chu kỳ sống quốc tế của sản phẩm:
Một chu kỳ sống của sản phẩm phải gắn liền với một thị trường nhất
định vì một sản phẩm có thể mới ở thị trường này nhưng lại không mới ở thị
20
trường khác và ngược lại. Một sản phẩm có thể có chu kỳ sống khá dài ở một
thị trường song sang thị trường khác thì có thể không tồn tại nổi.
Khi vạch ra xu hướng tiêu thụ và dự báo tương lai, điều quan trọng là
phải nhận biết sản phẩm của doanh nghiệp dang ở giai đoạn nào trong chu kỳ
sống của nó trên thị trường đang xét.
Nghiên cứu và phân tích chu kỳ sống của sản phẩm trên mỗi thị trưường
nước ngoài là điều cần thiết để có thể tìm ra điểm hoà vốn, để bố trí hoạt động

Các doanh nghiệp biết vận dụng linh hoạt cả 3 biện pháp trên để luôn
kích thích những nhu cầu mới của thị trường.
1.7. CÁC TIÊU CHÍ ĐO LƯỜNG SỨC CẠNH TRANH CỦA HÀNG HOÁ.
1.7.1. Tiêu chí dựa trên uy tín và hình ảnh của hàng hoá.
Uy tín và hình ảnh của hàng hoá trên thị trường có được biết đến nhiều
hay không, có đảm bảo được lòng tin và sự quan tâm của người tiêu dùng hay
không là một tiêu chí rất quan trọng cho biết sức cạnh tranh hiện tại của hàng
hoá mà một doanh nghiệp đang kinh doanh. Nhìn vào tiêu chí này ta có thể
đưa ra được một phần kết luận về sức cạnh tranh của hàng hoá đó trên thị
trường ra sao. Nếu uy tín và hình ảnh hàng hoá của doanh nghiệp lấn át được
các đối thủ cạnh tranh thì điều đó cũng đồng nghĩa với việc hàng hoá đó có
sức cạnh tranh cao trên thị trường và ngược lại. Hàng hoá có uy tín và hình
ảnh càng cao thì khả năng tiêu thụ và phát triển của nó sẽ vượt trội hơn hẳn so
với các hàng hoá khác vì nó chiếm được sự tin tưởng và ưa chuộng của đông
đảo người tiêu dùng trên thị trường hơn. Nhìn vào tiêu chí này có thể thấy rất
rõ vị trí cũng như sức cạnh tranh của hàng hoá.
1.7.2. Các dịch vụ sau bán hàng.
Ngày nay đối với hầu hết hàng hoá trên thị trường thế giới bao bì được
xem là thành phần chất lượng sản phẩm, chi phí baobì là thành phần cấu tạo
22
nên giá thành sản phẩm. Nói cách khác bao bì làm tăng giá trị của sản phẩm.
Bao bì có ba chức năng cơ bản là: bảo vệ sản phẩm, thông tin về sản phẩm,
quảng cáo cho sản phẩm.
Bao bì luôn phải đảm bảo cho giá trị chất lượng của hàng hoá và lôi kéo
được sự quan tâm của khách hàng. Thiếu đi khâu thiết kế và các đặc tính cần
thiết của bao bì thì hàng hoá rất dễ bị xuống cấp và cũng không gây ấn tượng
cho người tiêu dùng và do đó cũng mất đi năng lực cạnh tranh trên thị trường.
Bởi vậy bao gói của hàng hoá xuất khẩu là tiêu chí rất cần thiết để đánh giá
năng lực cạnh tranh của hàng hoá.
Bên cạnh tất cả các yếu tố trên thì dịch vụ đi kèm với sản phẩm hàng hoá

hội đầu tư vào các nghành khác luôn luôn có lợi nhuận cao.
Tất cả các lý thuyết về cạnh tranh, về các mô hình phân tích trên đây
nhằm đề cập và đưa ra các phân tích mang tính khoa học và có cơ sở cho việc
đi sâu vào nghiên cứu các giải pháp nâng cao sức cạnh tranh cho máy tính và
các sản phẩm tin học của công ty QTECH trong các chương tiếp theo đây.
24
CHƯƠNG II:THỰC TRẠNG CẠNH TRANH VÀ NÂNG CAO
SỨC CẠNH TRANH CỦA CÁC THIẾT BỊ TIN HỌC VÀ MÁY
TÍNH CỦA CÔNG TY QTECH HIỆN NAY.
2.1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY QTECH.
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty.
QTECH được sinh ra không chỉ là kết quả của hướng đổi mới mà trực
tiếp từ óc năng động, biết tìm tòi của những nhà lãnh đạo trong công ty, đặc
biệt là giám đốc Trân Dương. Công ty QTECH được thành lập chưa tròn 3
năm và số thành viên của Công ty cũng luôn tăng nhanh về số lượng cũng
như chất lượng từ 15 thành viên lúc đầu mới thành lập và đến nay tại thì số
người làm việc trong công ty là trên 25 thành viên và có khoảng 15 cộng tác
viên và sẽ tiếp tục tăng lên theo sự phát triển của công ty. Với đội ngũ năng
động, nhiệt huyết công ty QTECH đã dám vay vốn để thực hiện hợp đồng
quan trọng bậc nhất của QTECH trong những năm mà công ty đang còn chập
chững bước đi trong một thị trường cạnh tranh đầy khốc liệt
Năm 2002, QTECH trở thành một trong những đại lý phân phối chính
thức của Compaq tại Việt Nam. Cũng trong năm này QTECH đã bước một
bước đầu tiên trên con đường xuất khẩu phần mềm của mình. Năm 2004,
QTECH nhận làm đại lý cho một hãng sản xuất máy in và mực in lớn nhất
trên thế giới Hewlett Packard và Epson.
Công ty tên là: Công ty cổ phần công nghệ thương mại và dịch vụ
Quang Tùng .
Tên viết tắt là: QTECH.
Địa chỉ: 12A LY NAM ĐẾ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status