Luận văn tốt nghiệp
Chơng I
Những vấn đề lý luận chung về giai đoạn kết thúc
kiểm toán trong kiểm toán tài chính
I. Khái quát chung về kiểm toán tài chính
1. Khái niệm về kiểm toán tài chính
Kiểm toán có gốc từ Latin là Audit. Nguyên bản Auditing gắn liền với
nền văn minh Ai Cập và La Mã cổ đại. Từ Auditing có nguồn gốc từ động từ
Latin Audive nghĩa là nghe. Hình ảnh của kiểm toán cổ điển là việc kiểm
tra về tài sản, phần lớn đợc thực hiện bằng cách ngời ghi chép đọc to lên cho
một bên độc lập nghe rồi chấp nhận.
Ngày nay, thuật ngữ kiểm toánkhông còn mang nghĩa nguyên thuỷ của
nó nữa mà chỉ còn mang tính chất lịch sử. ý nghiã này thực sự mới có từ thế kỷ
XX, nhất là từ sau cuộc khủng hoảng năm 1929 cùng với sự sụp đổ của hàng
loạt các công ty, tập đoàn tài chính lớn thì kiểm toán đợc mang ý nghĩa đầy đủ,
cụ thể là ở Bắc Mỹ những năm 1930, ở Tây Âu từ những năm 1960. Do mỗi
quốc gia, khu vực có hoàn cảnh kinh tế, xã hội khác nhau nên thời gian bắt đầu
phát sinh hoạt động kiểm toán cũng khác nhau và đồng thời, cách hiểu và sử
dụng khái niệm kiểm toán cũng không giống nhau.
Thuật ngữ kiểm toán thực sự mới xuất hiện và đợc sử dụng ở nớc ta từ
tháng 5/1991 nhng cha thống nhất trong cách hiểu và sử dụng khái niệm. Có thể
khái quát bốn quan niệm chủ yếu:
Trong lời mở đầu giải thích cho các chuẩn mực kiểm toán của Vơng quốc
Anh có đa ra định nghĩa:
Kiểm toán là sự kiểm tra độc lập và là sự bày tỏ ý kiến về những bản khai
tài chính của một xí nghiệp do một kiểm toán viên đợc bổ nhiệm để thực hiện
những công việc đó theo đúng với bất cứ nghĩa vụ pháp định có liên quan .
Theo quan điểm của các chuyên gia kiểm toán Hoa Kỳ:
Kiểm toán là một quá trình mà theo đó, một ngời độc lập, có nghiệp vụ
tập hợp và đánh giá rõ ràng về các thông tin có thể lợng hoá có liên quan đến
một thực thể kinh tế cụ thể nhằm mục đích xác định và báo cáo mức độ phù hợp
kiểm toán và cũng sử dụng các phơng pháp kiểm toán chứng từ (kiểm toán cân
đối, đối chiều trực tiếp, đối chiếu logic) và kiểm toán ngoài chứng từ (kiểm kê,
thực nghiệm, điều tra). Từ đó, công tác kiểm toán tài chính cũng phải đợc tổ
chức khoa học theo trình tự xác định và đợc thực hiện bởi đội ngũ những nhà
chuyên môn am hiểu và vận dụng có kinh nghiệm các phơng pháp kiểm toán
vào từng đối tợng cụ thể trên cơ sở pháp lý xác định. Tuy nhiên, kiểm toán tài
chính là hoạt động đặc trng nhất của kiểm toán bởi nó chứa đựng đầy đủ sắc
thái kiểm toán ngay từ khi ra đời cũng nh trong quá trình phát triển. Đặc trng cơ
bản của kiểm toán tài chính thể hiện ngay trong cái chung về chức năng, đối t-
ợng, phơng pháp đến trình tự kiểm toán.
Về chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến, kiểm toán tài chính hớng tới công
khai tài chính giữa các bên có lợi ích khác nhau và từ đó thu thập bằng chứng
đầy đủ và tin cậy.
Về đối tợng kiểm toán, kiểm toán tài chính có đối tợng trực tiếp và thờng
xuyên là các Bảng khai tài chính có chứa đựng nhiều mối quan hệ kinh tế, pháp
lý cực kỳ phức tạp, phản ánh bằng những thông tin tổng hợp. Tất nhiên các
thông tin tài chính này có liên quan trực tiếp đến các nghiệp vụ, đến tình hình
thực hiện hệ thống pháp lý có liên quan, nhng bản thân các nghiệp vụ cũng nh
quá trình thực hiện các văn bản pháp lý không phải là đối tợng trực tiếp của
kiểm toán tài chính cho nên việc xem xét chúng chỉ thực hiện các góc độ có
liên quan đến các thông tin trên Bảng khai tài chính và đợc chọn lọc qua điều
tra đối chiếu phân tích thực tế tại khách thể kiểm toán.
Về phơng pháp kiểm toán, do đặc điểm của đối tợng và quan hệ chủ thể -
khách thể kiểm toán nên trong kiểm toán tài chính, cách thức kết hợp các phơng
pháp cơ bản cũng có những đặc trng riêng. ở đây các phơng pháp kiểm toán cơ
bản đợc triển khai theo hớng kết hợp lại hoặc chi tiết hơn tuỳ tình huống cụ thể
trong suốt quá trình kiểm toán. Chẳng hạn, theo hớng chi tiết phơng pháp điều
tra (cơ bản) có thể thực hiện thông qua quan sát, trao đổi, phỏng vấn hoặc gửi
th xác nhận Ngợc lại, theo hớng tổng hợp các phơng pháp đối chiếu logic, đối
chiếu trực tiếp, cân đối có thể thực hiện thông qua các thủ tục phân tích trong
sẽ tiến hành các công việc cần thiết để chuẩn bị cho lập kế hoạch kiểm toán bao
gồm: đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán, nhận diện các lí do kiểm toán,
lựa chọn đội ngũ nhân viên kiểm toán và kí hợp đồng kiểm toán. Tiếp đó, kiểm
toán viên phải thu thập các thông tin cơ sở qua việc tìm hiểu về ngành nghề và
hoạt động kinh doanh của khách hàng, về hệ thống kế toán, hệ thống kiểm soát
nội bộ và các bên liên quan để đánh giá rủi ro và lên kế hoạch kiểm toán. Từ đó,
đánh giá khả năng tồn tại những sai sót trọng yếu, đa ra đánh giá ban đầu về
mức trọng yếu, thực hiện các thủ tục phân tích để xác định thời gian cần thiết
thực hiện kiểm toán và việc mở rộng các thủ tục kiểm toán khác, đó chính là cơ
sở cho kiểm toán viên xây dựng kế hoạch kiểm toán tổng quát.
Trong bớc tiếp theo của giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, dựa vào các yếu
tố xác định trong kế hoạch kiểm toán tổng quát, kiểm toán viên sẽ thiết kế các
thủ tục kiểm toán chi tiết và soạn thảo chơng trình kiểm toán.
Giai đoạn II: Thực hiện kế hoạch kiểm toán
Thực hiện kế hoạch kiểm toán là quá trình sử dụng các phơng pháp kỹ
thuật kiểm toán thích ứng với đối tợng kiểm toán cụ thể để thu thập bằng chứng
kiểm toán. Đó là quá trình triển khai một cách chủ động và tích cực các kế
hoạch, chơng trình kiểm toán nhằm đa ra những ý kiến xác thực về mức độ
trung thực và hợp lí của Báo cáo tài chính trên cơ sở những bằng chứng kiểm
toán đầy đủ và tin cậy bằng cách sử dụng các trắc nghiệm vào việc xác minh
các thông tin hình thành và phản ánh trên Bảng khai tài chính. Các trắc nghiệm
kiểm toán sẽ sử dụng cụ thể và trình tự kết hợp giữa các trắc nghiệm trớc hết
tuỳ thuộc vào kết quả đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ, cụ thể:
Nếu kiểm toán viên khẳng định không dựa vào hệ thống kiểm soát nội bộ,
các trắc nghiệm độ vững chãi sẽ đợc sử dụng với số lợng lớn. Trờng hợp ngợc
lại có thể sử dụng kết hợp trắc nghiệm đạt yêu cầu và trắc nghiệm độ vững chãi
trên một số ít các nghiệp vụ với trọng số của mỗi loại tuỳ thuộc vào mức độ tin
cậy của hệ thống kiểm soát nội bộ sẽ đợc nói đến sau đây.
Nếu hệ thống kiểm soát nội bộ đợc đánh giá có độ tin cậy cao thì kiểm
toán viên chủ yếu sử dụng trắc nghiệm đạt yêu cầu để thu thập và tích luỹ bằng
và đánh giá những lời bình và kết luận của ngời kia. Quá trình xem xét lại đúng
đắn các t liệu là một cách chủ yếu để đảm bảo việc thực hiện có chất lợng và sự
phán xét độc lập của toàn bộ tổ kiểm toán.
Năm là, lập công bố báo cáo kiểm toán. Bớc cuối cùng trong giai đoạn này
là công bố báo cáo kiểm toán thích hợp, căn cứ vào bằng chứng thu thập đợc và
các phát hiện trong quá trình kiểm toán.
Nh vậy, quy trình tiến hành một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính là một
liên hệ chặt chẽ, khoa học các bớc công việc tuần tự, cụ thể. Trong đó, giai đoạn
kết thúc kiểm toán là giai đoạn cuối cùng mà các kiểm toán viên cần thực hiện
trong mỗi cuộc kiểm toán nhằm giải trình về kết quả hoạt động của đoàn kiểm
toán, phân tích đánh giá các sự kiện theo giác độ kiểm toán viên trên cơ sở các
chuẩn mực kiểm toán qui định, rút ra kết luận từ những phân tích đánh giá đó
và đa ra đề nghị đối với các đơn vị khách hàng nhằm phát huy u điểm, đồng
thời khắc phục những khiếm khuyết đợc phát hiện qua kiểm toán.
Giai đoạn lập kế hoạch, thực hiện kế hoạch hay kết thúc kiểm toán đều
đóng vai trò quan trọng nhất định và không thể thiếu trong mỗi cuộc kiểm toán
Báo cáo tài chính, vì vậy việc nghiên cứu, tìm hiểu chúng là hết sức cần thiết.
Tuy nhiên, do giới hạn của đề tài, trong các mục tiếp theo của chơng này tác giả
không đi sâu vào hai giai đoạn đầu mà chỉ tập trung trình bày chi tiết cơ sở lí
luận chung của giai đoạn cuối - giai đoạn kết thúc kiểm toán.
II. Nội dung các công việc hoàn tất cuộc kiểm toán:
Sau khi hoàn thành tất cả các thủ tục kiểm toán cần thiết đối với các khoản
mục trên Báo cáo tài chính hoặc thực hiện kiểm toán theo các chu trình, kiểm
toán viên rút ra kết luận kiểm toán và lập báo cáo kiểm toán về Báo cáo tài
chính. Trớc khi lập báo cáo kiểm toán, kiểm toán viên cần tổng hợp các kết quả
Lê Thị Khánh Linh Lớp Kiểm toán 41
4
Luận văn tốt nghiệp
thu thập đợc và thực hiện một số thử nghiệm bổ sung có tính chất tổng quát.
Đây chính là công việc hoàn tất kiểm toán, bao gồm việc xem xét về giả thuyết
Các khoản vay dài hạn đến hạn thanh toán mà không có triển vọng gia
hạn hoặc không có khả năng chi trả, hoặc chỉ sử dụng các khoản tín dụng ngắn
hạn để tài trợ cho các khoản tài sản dài hạn.
Các tỉ suất tài chính cho dấu hiệu xấu.
Lỗ kinh doanh thực tế lớn.
Sự dây da hoặc gián đoạn của việc phân phối cổ tức.
Không có khả năng hoàn trả các khoản tín dụng đã đến hạn.
Khó khăn trong việc đáp ứng các điều kiện của hợp đồng vay.
Ngời cung cấp tín dụng từ chối cấp tín dụng trong trờng hợp không thanh
toán khoản nợ cũ.
Không có khả năng đạt đợc các nguồn tài chính tài trợ để phát triển các
sản phẩm mới cần thiết hoặc các khoản đầu t cấp thiết khác
Các dấu hiệu về hoạt động của đơn vị
Thiếu cán bộ chủ chốt mà không bổ sung đợc.
Lê Thị Khánh Linh Lớp Kiểm toán 41
5
Luận văn tốt nghiệp
Thiếu thị trờng chính, đặc quyền, giấy phép hoặc các nhà cung cấp chủ
yếu.
Rối loạn trong nội bộ công ty hay thiếu những nguyên vật liệu quan
trọng.
Các dấu hiệu khác
Không tuân thủ các nghĩa vụ về vốn pháp định hay các quy định ghi trong
điều lệ khác.
Những vụ kiện cáo liên quan đến doanh nghiệp đang diễn ra có thể có kết
cục rất xấu đến sự tồn tại của doanh nghiệp.
Sự thay đổi của luật pháp hay trong quyết định của Chính phủ
1.2. Các thủ tục kiểm toán nhằm thu thập các bằng chứng về tính liên tục
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp:
Trong quá trình thực hiện các bớc công việc của chơng trình kiểm toán nói
biến động bất thờng có thể ảnh hởng đến khả năng hoạt động liên tục của đơn
Lê Thị Khánh Linh Lớp Kiểm toán 41
6
Luận văn tốt nghiệp
vị. Việc điều tra thờng bắt đầu từ việc thẩm vấn các nhà quản lí doanh nghiệp và
kiểm toán viên phải:
+ Xác minh ý kiến trả lời của các nhà quản lí doanh nghiệp - ví dụ bằng
cách so sánh các ý kiến trả lời này với các hiểu biết của kiểm toán viên về
doanh nghiệp và với các bằng chứng khác đã thu thập đợc trong quá trình kiểm
toán.
+ Căn cứ vào kết quả của việc thẩm vấn các nhà quản lí doanh nghiệp để
cân nhắc sự cần thiết áp dụng các phơng pháp kiểm toán khác.
Bên cạnh đó, trong quá trình phân tích các nhu cầu tiền mặt, các kết quả
mong đợi và các kế hoạch khác của đơn vị, kiểm toán viên cần quan tâm đến độ
tin cậy của hệ thống mà đơn vị sử dụng để cung cấp các thông tin này. Kiểm
toán viên cũng xác định xem các giả thuyết đợc đặt ra đề lập kế hoạch có phù
hợp với tình huống không và cần so sánh các kế hoạch đã đợc lập trớc đây cho
niên độ với kết quả hiện thực đạt đợc.
Kiểm toán viên cũng phải xem xét và trao đổi với Ban giám đốc về các kế
hoạch hành động, chẳng hạn nh kế hoạch bán các tài sản, đi vay, thơng lợng lại
các hợp đồng tín dụng, giảm hoặc hoãn các khoản đầu t lại, hoặc tăng thêm
nguồn vốn. Các kế hoạch hành động và các biện pháp dự kiến cho tơng lai càng
xa thì chúng càng ít xác đáng. Cần phải chú ý đặc biệt đến những kế hoạch có
thể tác động đến khả năng thanh toán của đơn vị trong một tơng lai gần.
Khi thấy có vấn đề về tính liên tục hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp,
thì tuỳ theo mức độ kiểm toán viên sẽ có những giải trình cần thiết.
1.3. Tính liên tục hoạt động của doanh nghiệp với ý kiến của kiểm toán
viên trong báo cáo kiểm toán :
Sau khi đã thực hiện các thủ tục kiểm toán bổ sung mà kiểm toán viên xét
thấy cần thiết, thu thập tất cả các thông tin cần có, xem xét tính thích hợp của
các hoạt động đã xảy ra.
Để một khoản nợ ngoài ý muốn tồn tại phải hội tụ đủ các điều kiện sau:
Thứ nhất, phải có một khoản thanh toán tiềm ẩn trong tơng lai đối với một
thành phần bên ngoài mà là kết quả của một điều kiện hiện có.
Thứ hai, số tiền của khoản thanh toán trong tơng lai này có sự không chắc
chắn.
Thứ ba, khoản nợ ngoài ý muốn này sẽ đợc giải quyết bởi một sự kiện hoặc
một vài sự kiện trong tơng lai.
Nếu chắc chắn có một khoản nợ tiềm ẩn trong tơng lai với số tiền có thể đợc
ớc tính hợp lý thì khoản nợ này sẽ là khoản tính dồn và đợc chỉ rõ trong nội
dung của các Báo cáo tài chính. Nếu số tiền của khoản lỗ tiềm ẩn không đợc ớc
tính hợp lý, hoặc nếu khoản lỗ chỉ có thể xảy ra thì sẽ không phải tính dồn nhng
vẫn đợc công khai trong phần ghi chú. Khi mà khả năng xảy ra các sự kiện giải
quyết khoản lỗ trong tơng lai là rất ít thì các khoản này không cần tính dồn
cũng không cần công khai trên Báo cáo tài chính. Do đó để quyết định về cách
xử lý thích hợp đối với các khoản nợ ngoài ý muốn đòi hỏi những phán xét
chuyên môn đáng kể hay nói cách khác đòi hỏi kiểm toán viên phải có trình độ
chuyên môn cao.
Khi công khai các khoản nợ ngoài ý muốn trên Báo cáo tài chính thông qua
phần ghi chú, phần ghi chú phải mô tả bản chất của nhà cố vấn pháp luật hoặc
ban quản trị về kết quả ớc tính.
Một số khoản nợ ngoài ý muốn mà kiểm toán viên nhất định phải quan tâm
nhiều bao gồm:
Vụ kiện do vi phạm đặc quyền, trách nhiệm sản phẩm hoặc các hành vi
khác đang chờ đợi xét xử.
Tranh cãi về thuế lợi tức
Bảo hành sản phẩm
Phiếu nợ phải thu đã chiết khấu
Bảo đảm nợ của ngời khác
Số d cha sử dụng trong các th tín dụng còn hiệu lực.
nh là một phần của th kiến nghị xác nhận là không có khoản nợ ngoài ý muốn
nào cha đợc công khai.
Xem xét loại báo cáo năm hiện hành và báo cáo năm trớc của cơ
quan thuế nội địa. Các báo cáo này có thể cho thấy những biến động bất thờng
giữa các năm.
Xem xét lại các biên bản họp hội đồng quản trị và của cổ đông để
tìm dấu hiệu của các vụ kiện hoặc các khoản nợ ngoài ý muốn khác.
Phân tích phí tổn pháp lý của kỳ đợc kiểm toán và xem xét lại các
hoá đơn và các bảng kê để tìm các dấu hiệu của các khoản nợ ngoài ý muốn,
đặc biệt là các vụ kiện và mức thuế đang chờ quyết định.
Thu thập xác nhận của những luật s đã cung cấp dịch vụ pháp lý
cho đơn vị khách hàng về các vụ kiện đang chờ xét xử hoặc các khoản nợ tiềm
ẩn khác.
Đây là một trong những thủ tục chính đợc các kiểm toán viên áp dụng để
phát hiện các khoản nợ ngoài ý muốn. Từ sự xác nhận ngời cố vấn pháp luật của
khách hàng kiểm toán viên có thể có đợc các thông tin về vụ kiện đang chờ xét
xử hoặc bất kỳ một thông tin nào khác có liên quan. Nếu đã xác định đợc có tồn
tại khoản nợ ngoài ý muốn, kiểm toán viên còn phải thu thập quan điểm nghề
nghiệp của luật s về kết quả dự kiến của vụ kiện và số tiền khả dĩ của khoản nợ,
kể cả chi phí toà án.
Có rất nhiều công ty kiểm toán độc lập thờng phân tích phí tổn pháp lý của
cả năm và đề nghị đơn vị khách hàng gửi một mẫu th cho tất cả các luật s mà
công ty khách hàng có quan hệ trong năm hiện hành hoặc năm trớc, kể cả các
luật s mà khách hàng thỉnh thoảng có thuê mớn. Nh vậy, thờng có một số lợng
lớn các luật s đợc thẩm vấn kể cả những ngời chỉ chuyên về các khía cạnh của
luật lệ mà không liên quan đến các vụ kiện tiềm ẩn.
Hiện nay, các luật s thờng miễn cỡng phải cung cấp một số thông tin nhất
định cho kiểm toán viên vì sự cung cấp thông tin này gắn họ với trách nhiệm
pháp lý khi thông tin cung cấp là không chính xác hoặc thông tin bảo mật. Khi
luật s của khách hàng từ chối cung cấp thông tin đầy đủ cho kiểm toán viên về
nợ ngoài dự kiến và nội dung cần thiết khai báo trên Báo cáo tài chính. Nếu khả
năng xảy ra của các khoản công nợ này đã rõ, và sai số tiền thiệt hại có thể ớc
tính đợc, nó cần đợc ghi nhận vào sổ kế toán nh một khoản công nợ thực sự.
Nếu khả năng xảy ra của các khoản công nợ này là hiếm, hoặc khoản công nợ
không trọng yếu, lúc đó việc khai báo trên Báo cáo tài chính sẽ là không cần
thiết. Việc đánh giá của kiểm toán viên phải đợc tiến hành một cách độc lập chứ
không phải dựa vào ý kiến của đơn vị.
3. Xem xét lại các sự kiện tiếp sau:
3.1. Khái niệm và các loại sự kiện tiếp sau:
Sự kiện tiếp sau là cách gọi tắt cho các sự kiện xảy ra sau ngày khóa sổ kế
toán. Đoạn 04 trong chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 560 - Các sự kiện phát
sinh sau ngày khoá sổ kế toán lập Báo cáo tài chínhđịnh nghĩa sự kiện tiếp sau
là những sự kiện có ảnh hởng đến Báo cáo tài chính đã phát sinh trong khoảng
thời gian từ sau ngày khoá sổ kế toán lập Báo cáo tài chính để kiểm toán đến
ngày ký báo cáo kiểm toán; và những sự kiện đợc phát hiện sau ngày ký báo
cáo kiểm toán [3, 30]. Kiểm toán viên có trách nhiệm xem xét lại các sự kiện
này tự chứng minh rằng mọi sự kiện xảy ra tiếp theo đến ngày ký báo cáo kiểm
toán có ảnh hởng đến các đánh giá hoặc sự công khai của các báo cáo đang đợc
kiểm toán hay không?
Trách nhiệm của kiểm toán viên đối với việc xem xét lại các sự kiện tiếp
sau thờng bị giới hạn bắt đầu là ngày lập Bảng cân đối tài sản và kết thúc vào
ngày viết báo cáo của kiểm toán viên liên quan với việc hoàn thành các thủ tục
Lê Thị Khánh Linh Lớp Kiểm toán 41
10
Luận văn tốt nghiệp
kiểm toán quan trọng tại đơn vị khách hàng, do đó, sự xem xét lại các sự kiện
tiếp sau phải đợc hoàn thành gần ngày cuối của hợp đồng kiểm toán.
Thông thờng, các sự kiện tiếp sau cần sự xem xét của kiểm toán viên và
của ban quản trị đợc phân làm hai loại:
a. Sự kiện ảnh hởng trực tiếp đến Báo cáo tài chính và cần đợc điều chỉnh:
toán lập Báo cáo tài chính cũng quy định: Kiểm toán viên phải xây dựng và
thực hiện các thủ tục kiểm toán nhằm thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán
thích hợp để xác định tất cả các sự kiện đã phát sinh đến ngày ký báo cáo kiểm
toán xét thấy có thể ảnh hởng đến Báo cáo tài chính, và phải yêu cầu đơn vị
điều chỉnh hoặc thuyết minh trong Báo cáo tài chính [3, 31]. Tuy nhiên, các
kiểm toán viên không bắt buộc phải xem xét tất cả các vấn đề mà những thủ tục
áp dụng trớc đây đã đa ra đợc những kết luận thoả đáng.
Những thủ tục kiểm toán để xem xét lại các sự kiện tiếp sau có thể dẫn đến
những điều chỉnh hoặc cần đợc thuyết minh trong Báo cáo tài chính cần đợc
Lê Thị Khánh Linh Lớp Kiểm toán 41
11
Luận văn tốt nghiệp
thực hiện càng gần ngày lập báo cáo kiểm toán càng tốt và thông thờng đợc
chia làm hai nhóm nh sau:
Nhóm thứ nhất bao gồm các thủ tục đợc thực hiện nh một phần của các
khảo sát chi tiết số d, ví dụ nh khảo sát khả năng thu của các khoản phải thu
bằng cách xem xét lại các khoản thu tiền mặt của các kỳ tiếp sau. Các thủ tục
này thực hiện tơng tự nh ở giai đoạn thực hiện kiểm toán đã đợc đề cập đến
phần trớc.
Nhóm thứ hai gồm các thủ tục, biện pháp nhằm bổ sung thêm cho các thủ
tục thông thờng ở nhóm thứ nhất áp dụng cho các nghiệp vụ giao dịch đặc biệt
xảy ra sau ngày thành lập Bảng cân đối kế toán để thu nhập bằng chứng kiểm
toán về số d của các tài khoản vào ngày khoá sổ hoặc về các sự kiện đợc công
khai trong phần ghi chú. Các khảo sát đối với các sự kiện tiếp sau thuộc nhóm
này thờng bao gồm:
Một là, thẩm vấn Ban quản trị. Đối với các khách hàng kiểm toán khác
nhau nội dung cuộc thẩm vấn có thể thay đổi, nhng theo quy định của các
chuẩn mực kiểm toán Việt nam và quốc tế số thờng là về những vấn đề cụ thể
nh sau:
+ Hiện trạng của các khoản mục đã đợc hạch toán trên cơ sở số liệu tạm
Lê Thị Khánh Linh Lớp Kiểm toán 41
12
Luận văn tốt nghiệp
đợc đa ra tranh luận với ban lãnh đạo khách hàng để xem xét chúng có đợc lập
trên cùng một cơ sở nh các báo cáo của kì hiện hành hay không, đồng thời kiểm
toán viên phải thực hiện các cuộc thẩm vấn về những thay đổi lớn về kết quả
của quá trình hoạt động.
Bốn là, xem xét lại các sổ sách đợc lập sau ngày lập Bảng cân đối tài sản.
Kiểm toán viên cần kiểm tra lại các sổ nhật kí và Sổ cái để xác định sự hiện
diện và bản chất của bất kì nghiệp vụ nào liên quan với năm hiện hành. Nếu các
sổ nhật ký không đợc cập nhật thì phải xem xét lại các chứng từ liên quan với
sổ nhật ký.
Ngoài ra, nguyên tắc chỉ đạo kiểm toán quốc tế (IAG) số 21- Ngày ghi
trên báo cáo kiểm toán, các sự kiện sau ngày lập bảng tổng kết tài sản, các sự
kiện phát hiện sau ngày phát hành Báo cáo tài chính còn đa ra một số biện
pháp nhằm khảo sát các sự kiện sau ngày kết thúc nh: soát lại các biện pháp mà
nhà lãnh đạo doanh nghiệp đã áp dụng để khẳng định rằng các sự kiện tiếp sau
quan trọng đều đợc xác định, đọc các báo cáo tài chính sơ bộ gần nhất của đơn
vị cũng nh các văn bản khác, nếu cần, nh các báo cáo về ngân sách, dự trù lu trữ
tiền tệ và các báo cáo quản lý khác, thu thập th kiến nghị của khách hàng.
3.3. Xem xét các sự kiện phát hiện sau ngày kí báo cáo kiểm toán:
Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 560, đối với các sự kiện, vấn đề
có liên quan đến Báo cáo tài chính xảy ra sau ngày ký báo cáo kiểm toán trớc
ngày phát hành Báo cáo tài chính nếu gây ảnh hởng trọng yếu trong Báo cáo tài
chính thì kiểm toán viên phải cân nhắc xem xét có nên sửa lại Báo cáo tài chính
hay không? Và cần thảo luận vấn đề này với Ban giám đốc đơn vị để có biện
pháp phù hợp tuỳ theo hoàn cảnh cụ thể.
Thông thờng, khi phát hiện ra các Báo cáo tài chính có sai sót thì kiểm
toán viên phải yêu cầu đơn vị khách hàng tiến hành sửa đổi báo cáo tài chính và
giải thích lý do của sự sửa đổi đó. Nếu các Báo cáo tài chính của kì tiếp sau
đủ để đảm bảo cho kết luận của mình cha, phải xem xét lại những điều công
khai trên Báo cáo tài chính, thu thập th kiến nghị của khách hàng, đánh giá liệu
bằng chứng kiểm toán đã thu thập có ủng hộ cho quan điểm của kiểm toán viên
hay không? đọc các báo cáo thông tin khác trên báo cáo hàng năm, xem xét lại
các t liệu kiểm toán và xem xét độc lập lại cuộc kiểm toán.
4.1. Đánh giá tính đầy đủ của bằng chứng kiểm toán:
Cuối mỗi cuộc kiểm toán, kiểm toán viên phải xem xét lại toàn bộ cuộc
kiểm toán để đánh giá xem tất cả các khía cạnh quan trọng đã đợc khảo sát đầy
đủ hay cha? Trong quá trình này, bớc chủ yếu nhất kiểm toán viên cần thực hiện
là xem xét lại trình tự kiểm toán để đảm bảo tất cả các giai đoạn trớc đó đã đợc
hoàn thành chính xác và có các bằng chứng đầy đủ để chứng minh.
Đoạn 02 trong Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VSA) số 500 - Bằng
chứng kiểm toán ghi rõ: Kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải thu thập
đầy đủ các bằng chứng kiểm toán thích hợp để làm cơ sở đa ra ý kiến của mình
về báo cáo tài chính của đơn vị đợc kiểm toán [9, 56]. Nh vậy, việc xem xét và
đánh giá đầy đủ về của bằng chứng kiểm toán là cực kỳ cần thiết. Tuy nhiên, để
đa ra ý kiến mình, kiểm toán viên không nhất thiết phải kiểm tra toàn bộ các
thông tin có sẵn (bằng chứng kiểm toán) bởi vì kiểm toán viên có thể có kết
luận trên số d của một tài khoản hay trên một thủ tục kiểm soát bằng cách áp
dụng kiểm tra trên một tập mẫu chọn ra theo xét đoán cá nhân hay theo thống
kê có nghĩa là khi đánh giá về tính đầy đủ của bằng chứng kiểm toán phải xem
xét trong mối quan hệ với tính thích hợp của các bằng chứng đó.
Phơng pháp thông dụng nhất mà kiểm toán viên sử dụng để xem xét liệu
bằng chứng kiểm toán đã đợc thu thập đầy đủ hay cha, chơng trình kiểm toán
có đầy đủ, có xét đến tất cả các lĩnh vực có vấn đề đã đợc phát hiện trong quá
trình kiểm toán hay không là lập bảng danh sách kiểm tra việc hoàn thành hợp
đồng kiểm toán. Thí dụ minh hoạ một phần bảng danh sách kiểm tra việc hoàn
thành hợp đồng kiểm toán đợc trình bày trong bảng số 1.
Bảng số 1 : Bản danh sách kiểm tra việc hoàn thành hợp đồng
Có Không
Nguồn: Hình 22 - 4 (Kiểm toán - Alvin A. Arens, James K. Loebbecke) [1, 520]
Nếu kiểm toán viên kết luận là cha đầy đủ bằng chứng kiểm toán để đa ra
kết luận về tính trung thực trong các Báo cáo tài chính của khách hàng, ta phải
tiếp tục thu thập thêm các bằng chứng còn thiếu, hoặc đa ra ý kiến chấp nhận
các loại trừ hoặc ý kiến không chấp nhận.
4.2. Kiểm tra lại các khoản công khai trên Báo cáo tài chính:
Việc xác định xem tất cả các sự việc cần công khai trên Báo cáo tài chính
đã đầy đủ hay cha là vấn đề xem xét chính trong giai đoạn hoàn thành cuộc
kiểm toán. Trong suốt cuộc kiểm toán, bên cạnh việc đánh giá về bằng chứng
kiểm toán đối với những mục tiêu kiểm toán, cần phải kiểm tra lại Báo cáo tài
chính sau khi đã thực hiện những điều chỉnh và cân nhắc xem liệu Báo cáo tài
chính đợc lập có phù hợp với các chế độ kế toán thích hợp đợc áp dụng nhất
quán hoặc nếu có thay đổi thì về những chế độ kế toán này có đợc trình bày
thích hợp hay không? Liệu các nguyên tắc kế toán đã đợc thừa nhận có đợc vận
dụng đúng đắn, nhất quán với năm trớc hay không?
Để hỗ trợ cho việc kiểm tra lại nội dung công khai đầy đủ các Báo cáo tài
chính, kiểm toán viên cần thực hiện những thủ tục phân tích nh so sánh tỷ suất
và xu hớng trong Báo cáo tài chính với những tỷ suất và xu hớng theo ớc tính
của mình. Từ đó kiểm toán viên cần cân nhắc xem liệu dựa vào bằng chứng
Ngoài các sai sót trọng yếu, thờng có một số lợng lớn các sai sót không trọng
yếu mà không cần thiết phải lập bút toán điều chỉnh khi tìm ra chúng. Tuy các
sai sót này sẽ không trọng yếu nếu xét riêng lẻ nhng có thể sẽ trở nên trọng yếu
khi kết hợp chúng lại với nhau. Vì vậy kiểm toán viên cần theo dõi các sai sót
cha đợc điều chỉnh này và kết hợp chúng theo một số cách khác nhau để xem
khi tích lũy lại thì chúng có trở nên trọng yếu hay không? Để làm đợc điều này,
kiểm toán viên cần ghi lại các sai sót cha đợc điều chỉnh này trong lúc kiểm tra
các khoản mục. Đến khi chuẩn bị hoàn thành kiểm toán, kiểm toán viên sẽ tiến
hành đánh giá tổng hợp ảnh hởng của chúng đến Báo cáo tài chính. Một công
cụ thờng đợc dùng trong trờng hợp này là Bảng các sai sót cha đợc điều chỉnh.
Tiếp đó, kiểm toán viên cần đánh giá tổng hợp các sai sót dự kiến của Báo cáo
tài chính, vì khi áp dụng kỹ thuật lấy mẫu kiểm toán, kiểm toán viên không xác
định đợc sai sót thực sự của khoản mục (tổng thể) mà chỉ dựa vào kết quả mẫu
để ớc tính sai sót của khoản mục, gọi là sai sót dự kiến. Sai sót dự kiến sẽ đợc
so sánh với mức sai sót có thể bỏ qua để quyết định xem có thể chấp nhận
khoản mục đó hay không? Cuối cùng, kiểm toán viên cần tổng hợp toàn bộ sai
sót dự kiến của các khoản mục để xem xét chúng có vợt mức trọng yếu của Báo
cáo tài chính hay không, và kết hợp với ảnh hởng của các sai sót cha đợc điều
chỉnh. Nếu sai sót tổng hợp này vợt mức trọng yếu hoặc xấp xỉ mức trọng yếu,
kiểm toán viên không đa ra Báo cáo kiểm toán chấp nhận toàn bộ mà sẽ yêu cầu
đơn vị điều chỉnh lại các sai sót cha đợc điều chỉnh, hoặc tiến hành thêm các
thủ tục kiểm toán bổ sung, hoặc đa ra báo cáo không chấp nhận, hoặc chấp
nhận có ngoại trừ.
4.4. Thu thập th kiến nghị của khách hàng:
Văn bản số 19 về chuẩn mực của kiểm toán (SAS 19) ban hành năm 1972
quy định kiểm toán viên nên phải có một lá th kiến nghị của Ban quản trị đơn vị
khách hàng. Kiểm toán viên có thể thu thập đợc bằng chứng kiểm toán rằng
các nhà quản lí doanh nghiệp đã thừa nhận những trách nhiệm này và phê chuẩn
các biên bản họp ban giám đốc hoặc các tổ chức tơng tự hoặc bằng cách thu
thập các văn bản giải trình của các nhà quản lí hoặc các bản sao Báo cáo tài
Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 500 - Bằng chứng kiểm toán,
bằng chứng kiểm toán là tất cả các tài liệu, thông tin mà kiểm toán viên thu
thập đợc liên quan đến cuộc kiểm toán và dựa trên thông tin này kiểm toán viên
hình thành nên ý kiến của mình. Nh vậy, th kiến nghị của khách hàng cũng đợc
xem là một bằng chứng kiểm toán. Tuy nhiên, th kiến nghị là một báo cáo bằng
văn bản từ một nguồn không độc lập và do đó không thể thay thế cho các bằng
chứng khác. Th thờng chỉ cung cấp bằng chứng tối thiểu là Ban quản trị đã đợc
hỏi một số vấn đề, nhng mục đích của th có tính tâm lý và để bảo đảm kiểm
toán viên không bị Ban quản trị từ chối hợp tác vì họ không nhận thức đợc trách
nhiệm của mình.
4.5. Xem xét những thông tin khác trong tài liệu chứa đựng Báo cáo tài
chính đã kiểm toán:
Thông thờng, hàng năm, các doanh nghiệp phát hành một bộ tài liệu bao
gồm Báo cáo tài chính đã đợc kiểm toán cùng với báo cáo kiểm toán. Tập tài
liệu này thờng đợc gọi là báo cáo thờng niên hay báo cáo hàng năm. Theo luật
lệ hay thông lệ, một doanh nghiệp khi phát hành bộ tài liệu này có thể đa vào
đó những thông tin tài chính và những thông tin phi tài chính khác gọi tắt là
những thông tin khác, ví dụ nh báo cáo quản lí của ban giám đốc và hội đồng
quản trị về những hoạt động của doanh nghiệp, về những tóm tắt hay những số
liệu quan trọng, về số liệu nhân sự, về những chi tiêu lớn theo kế hoạch, về các
tỷ suất tài chính, về tên cán bộ, các uỷ viên và về những số liệu theo quý đợc
chọn lọc.
Lê Thị Khánh Linh Lớp Kiểm toán 41
17
Luận văn tốt nghiệp
Văn bản số 8 về chuẩn mực kiểm toán (SAS 8) đòi hỏi kiểm toán viên phải
đọc những thông tin khác trên các báo cáo hàng năm đã công bố có liên quan
trực tiếp đến các Báo cáo tài chính. Đoạn 3 của nguyên tắc số 14 - Các thông
tin khác trong Báo cáo tài chính đã đợc kiểm toán trong các nguyên tắc chỉ đạo
kiểm toán quốc tế (ISA 720) cũng chỉ rõ: Kiểm toán viên cần cân nhắc các
mục tiêu ban đầu.
Quá trình xem xét lại t liệu kiểm toán phải đợc tiến hành bởi kiểm toán
viên có đủ kiến thức về công ty khách hàng và những tình huống bất ngờ phát
sinh trong cuộc kiểm toán thờng đó là ngời giám sát trực tiếp của kiểm toán
viên đã thực hiện kiểm toán. Thí dụ nh công việc của kiểm toán viên ít kinh
nghiệm nhất thờng đợc xem xét lại bởi tổ trởng tổ kiểm toán, cấp trên trực tiếp
của tổ trởng sẽ xem xét lại công việc của tổ trởng và cũng qua các t liệu của
kiểm toán viên thiếu kinh nghiệm. Việc xem xét lại t liệu kiểm toán thờng có
tính hiệu quả hơn và hỗ trợ cho quá trình giao tiếp với khách hàng nếu đợc thực
hiện ở ngay tại cơ sở của khách hàng và liên tục trong suốt quá trình kiểm toán.
Kết thúc mỗi cuộc kiểm toán cần có quá trình báo cáo những phát hiện của
kiểm toán viên cho khách hàng cũng nh cho ngời sử dụng Báo cáo tài chính
trong một báo cáo kiểm toán đa ra ý kiến rõ ràng về Báo cáo tài chính và các
thông tin tài chính khác mà khách hàng có liên quan. Quá trình báo cáo là cần
thiết đối với một cuộc kiểm toán vì nó giải thích những gì kiểm toán viên đã
Lê Thị Khánh Linh Lớp Kiểm toán 41
18
Luận văn tốt nghiệp
làm và các kết luận đã đạt đợc [1, 34]. Trong mục tiếp theo chúng ta sẽ đi vào
tìm hiểu quá trình này.
IV. Lập và công bố báo cáo kiểm toán hoặc biên bản kiểm
toán:
1. Báo cáo kiểm toán về Báo cáo tài chính:
1.1. Khái quát về báo cáo kiểm toán:
1.1.1. Khái niệm báo cáo kiểm toán về Báo cáo tài chính:
Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 700 - Báo cáo kiểm toán về Báo
cáo tài chính: Báo cáo kiểm toán là loại báo cáo bằng văn bản do kiểm toán
viên và công ty kiểm toán lập và công bố để trình bày ý kiến của mình về Báo
cáo tài chính hoặc thông tin tài chính của một đơn vị đã đợc kiểm toán [2, 61].
Khi kết thúc cuộc kiểm toán Báo cáo tài chính, kiểm toán viên phải lập báo
Đối với ngời sử dụng thông tin tài chính, báo cáo kiểm toán là căn cứ để họ
đánh giá đợc độ tin cậy của các thông tin này trên cơ sở đó mà họ đa ra các
quyết định đúng đắn và hiệu quả. Để đảm bảo vai trò này, báo cáo phải rõ ràng,
dễ hiểu để không gây sự hiểu lầm.
Đối với đơn vị đợc kiểm toán, trong một số trờng hợp, thí dụ nh kiểm toán
hoạt động, báo cáo kiểm toán và th quản lí (nếu có) còn là căn cứ để đánh giá
Lê Thị Khánh Linh Lớp Kiểm toán 41
19
Luận văn tốt nghiệp
và cải thiện hoạt động của đơn vị nói chung, kiểm soát nội bộ hoặc công tác kế
toán tài chính nói riêng.
Vai trò và ý nghĩa của báo cáo kiểm toán về Báo cáo tài chính đợc thể hiện
qua sơ đồ 2.
Sơ đồ 2 : Mối quan hệ giữa thông tin tài chính của đơn vị đợc kiểm
toán, báo cáo kiểm toán của kiểm toán viên lập và ngời sử dụng thông tin
tài chính
Nguồn: Sơ đồ 7.2. Mối quan hệ giữa Báo cáo tài chính, báo cáo kiểm toán
về Báo cáo tài chính và ngời sử dụng Báo cáo tài chính [9, 155]
1.1.3. Các căn cứ để lập báo cáo kiểm toán:
Khi tiến hành lập báo cáo kiểm toán phải dựa vào ba căn cứ chủ yếu:
a. Căn cứ vào mục đích yêu cầu của cuộc kiểm toán đã đợc xác định trong
kế hoạch kiểm toán:
Mỗi cuộc kiểm toán trớc khi triển khai đều đợc xác định cụ thể về mục
đích và yêu cầu mà cuộc kiểm toán phải đạt đợc trong kế hoạch kiểm toán đã đ-
ợc cấp có thẩm quyền phê duyệt. Tuỳ theo khách thể kiểm toán và đối tợng
kiểm toán, cấp có thẩm quyền sẽ đặt ra những mục đích, yêu cầu - đó là những
định hớng cơ bản cần phải đạt đợc của một cuộc kiểm toán do trởng đoàn hoặc
kiểm toán viên đợc giao thực hiện.
Mục đích yêu cầu chung của các cuộc kiểm toán độc lập đã đợc quy định
ra còn phải thực hiện các quy định trong Quy chế về kiểm toán độc lập trong
nền kinh tế quốc dân nh sau:
Thứ nhất, khi kết thúc công việc kiểm toán, kiểm toán viên phải lập báo
cáo kiểm toán, ghi ý kiến nhận xét của mình vào báo cáo kiểm toán và chịu
hoàn toàn trách nhiệm về các ý kiến nhận xét đó. Báo cáo kiểm toán phải có
những nội dung chủ yếu theo quy định.
Thứ hai, báo cáo kiểm toán phải trung thực, khách quan, phải có chữ kí của
kiểm toán viên và phải đợc lãnh đạo của tổ chức kiểm toán xác nhận, kí tên,
đóng dấu.
Trởng nhóm kiểm toán thành lập và trực tiếp chỉ đạo tổ soạn thảo báo cáo
kiểm toán. Tổ bao gồm một số kiểm toán viên có khả năng phân tích, tổng hợp
kết quả kiểm toán. Các chỉ tiêu, biểu mẫu tổng hợp phải thống nhất trớc khi tiến
hành kiểm toán. Tổ soạn thảo tiến hành tổng hợp kết quả kiểm toán ngay trong
quá trình kiểm toán.
c. Căn cứ vào bằng chứng kiểm toán - cơ sở để lập báo cáo kiểm toán:
Nội dung chủ yếu và quan trọng nhất của việc chuẩn bị lập báo cáo kiểm
toán là thu thập và tổng hợp đầy đủ các bằng chứng kiểm toán, kết quả kiểm
toán, bao gồm:
Một là, các hồ sơ tài liệu, số liệu đã đợc thu thập và đánh giá, xác minh
trong quá trình kiểm toán để chứng minh cho ý kiến nhận xét, đánh giá kết
luận, kiến nghị của kiểm toán viên, của trởng đoàn kiểm toán về những vấn đề
đợc kiểm toán.
Hai là, các bằng chứng thu thập qua điều tra thực tiễn, qua các buổi phỏng
vấn và trao đổi trực tiếp đã đợc kiểm toán viên xem xét, nghiên cứu.
Ba là, biên bản kết quả các buổi làm việc với những ngời có trách nhiệm
giải trình các vấn đề kiểm toán viên yêu cầu phải làm rõ.
Bốn là, biên bản kiểm toán của các tổ thực hiện kiểm toán các đơn vị thành
viên (xác nhận số liệu, nhận xét, đánh giá và kiến nghị tại đơn vị thành viên).
Năm là, bảng tổng hợp kết quả theo từng nội dung, từng chỉ tiêu kiểm toán
đã đợc nêu trong quyết định kiểm toán.
dòng đầu, ví dụ: "Kính gửi Hội đồng quản trị và Tổng Giám đốc Tổng Công
ty ".
e) Mở đầu của báo cáo kiểm toán về Báo cáo tài chính:
Phần mở đầu của báo cáo kiểm toán về Báo cáo tài chính phải ghi rõ đối t-
ợng của cuộc kiểm toán là các Báo cáo tài chính cũng nh ghi rõ ngày và niên độ
lập Báo cáo tài chính; khẳng định rõ rằng việc lập Báo cáo tài chính là thuộc
trách nhiệm của Giám đốc (hoặc ngời đứng đầu) đơn vị đợc kiểm toán trên các
mặt: tuân thủ chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành hoặc đợc chấp nhận và
lựa chọn các nguyên tắc và phơng pháp kế toán, các ớc tính kế toán thích hợp.
Ngợc lại, nêu rõ trách nhiệm của kiểm toán viên là kiểm tra các thông tin định
lợng trên Báo cáo tài chính và đa ra ý kiến về Báo cáo tài chính dựa trên kết quả
kiểm toán của mình.
f) Phạm vi và căn cứ thực hiện cuộc kiểm toán:
Thứ nhất, báo cáo kiểm toán về Báo cáo tài chính phải nêu rõ phạm vi và
căn cứ thực hiện cuộc kiểm toán bằng sự khẳng định công việc kiểm toán đợc
thực hiện theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam hoặc chuẩn mực kiểm toán quốc
tế đợc thừa nhận.
Phạm vi và căn cứ này chỉ khả năng của kiểm toán viên khi thực hiện các
thủ tục kiểm toán phải đợc dựa trên cơ sở chuẩn mực kiểm toán và đợc vận
dụng các quy định tuỳ theo tình huống cụ thể. Thủ tục này là cần thiết để đảm
bảo cho ngời sử dụng báo cáo kiểm toán hiểu rằng cuộc kiểm toán đã đợc thực
hiện theo các chuẩn mực và thông lệ đợc thừa nhận. Trong trờng hợp riêng biệt,
kiểm toán viên đã thực hiện các thủ tục kiểm toán khác thì cần phải ghi rõ trong
báo cáo kiểm toán về Báo cáo tài chính.
Trờng hợp không xác định đợc chuẩn mực kế toán đợc sử dụng để lập Báo
cáo tài chính là của quốc gia nào thì tên của nớc - nơi doanh nghiệp khách hàng
hoạt động phải đợc nêu ra trong báo cáo kiểm toán về Báo cáo tài chính.
Thứ hai, báo cáo kiểm toán về Báo cáo tài chính phải ghi rõ là công việc
kiểm toán đã đợc lập kế hoạch và thực hiện để có đợc sự đảm bảo hợp lý là các
Báo cáo tài chính không chứa đựng những sai sót trọng yếu.
Khi đa ra ý kiến chấp nhận không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần (ý
kiến chấp nhận từng phần, ý kiến từ chối hoặc ý kiến không chấp nhận) thì phải
mô tả rõ ràng trong báo cáo kiểm toán về Báo cáo tài chính tất cả những lý do
chủ yếu dẫn đến ý kiến đó và định lợng, nếu đợc, những ảnh hởng đến Báo cáo
tài chính.
Ngoài ra, để giúp doanh nghiệp chấn chỉnh công tác tài chính, kế toán, xây
dựng và hoàn thiện hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán
viên còn lu hành Th quản lý gửi cho Giám đốc đơn vị kiểm toán hoặc gửi cho
hội đồng quản trị.
Th quản lý mô tả về từng sự kiện cụ thể, gồm: hiện trạng thực tế, khả năng
rủi ro, kiến nghị của kiểm toán viên và ý kiến của ngời quản lý liên quan đến sự
kiện đó. Th quản lý đợc trình bày về một hay nhiều sự kiện do kiểm toán viên
quyết định.
Th quản lý là một phần kết quả của cuộc kiểm toán, nhng không nhất thiết
phải đính kèm báo cáo kiểm toán về Báo cáo tài chính.
h) Địa điểm và thời gian lập báo cáo kiểm toán về Báo cáo tài chính:
Báo cáo kiểm toán về Báo cáo tài chính phải ghi rõ ngày, tháng, năm kết
thúc toàn bộ công việc kiểm toán. Điều này cho phép ngời sử dụng Báo cáo tài
chính biết rằng kiểm toán viên đã xem xét đến các sự kiện (nếu có) ảnh hởng
đến Báo cáo tài chính cho đến tận ngày ký báo cáo kiểm toán về Báo cáo tài
chính.
Ngày ký báo cáo kiểm toán không đợc ghi trớc ngày Giám đốc hoặc ngời
đứng đầu đơn vị ký Báo cáo tài chính, nếu Báo cáo tài chính đợc điều chỉnh và
Lê Thị Khánh Linh Lớp Kiểm toán 41
23
Luận văn tốt nghiệp
lập lại trong quá trình kiểm toán thì ngày ký báo cáo kiểm toán đợc phép ghi
cùng ngày với ngày ký Báo cáo tài chính.
Báo cáo kiểm toán về Báo cáo tài chính phải ghi rõ địa điểm (tỉnh, thành
phố) của công ty hoặc chi nhánh công ty kiểm toán chịu trách nhiệm phát hành
nguyên tắc kế toán và các tác động của chúng đã đợc xem xét, đánh giá một
cách đầy đủ và đã đợc đơn vị nêu rõ trong phần thuyết minh Báo cáo tài chính
đợc kiểm toán là hoàn toàn đúng, hoặc có thể có sai sót nhng sai sót đó là
không trọng yếu.
ý kiến chấp nhận toàn phần đợc áp dụng cho cả trờng hợp Báo cáo tài
chính đợc kiểm toán có những sai sót nhng đã đợc kiểm toán viên phát hiện và
đơn vị đã điều chỉnh theo ý kiến của kiểm toán viên; Báo cáo tài chính sau khi
điều chỉnh dã đợc kiểm toán viên chấp nhận.
Ngoài ra, ý kiến này còn đợc áp dụng trong cả trờng hợp báo cáo kiểm
toán có một đoạn nhận xét để làm sáng tỏ một số yếu tố ảnh hởng không trọng
yếu đến Báo cáo tài chính, nhng không có ảnh hởng đến báo cáo kiểm toán.
Đoạn nhận xét này thờng đặt sau đoạn đa ra ý kiến nhằm giúp ngời đọc đánh
giá ảnh hởng của các yếu tố đến Báo cáo tài chính.
1.3.2. ý kiến chấp nhận từng phần:
Lê Thị Khánh Linh Lớp Kiểm toán 41
24
Luận văn tốt nghiệp
Báo cáo kiểm toán về Báo cáo tài chính đa ra ý kiến chấp nhận từng phần
đợc trình bày trong trờng hợp kiểm toán viên và công ty kiểm toán cho rằng Báo
cáo tài chính chỉ phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu
tình hình tài chính của đơn vị, nếu không bị ảnh hởng của yếu tố tuỳ thuộc mà
kiểm toán viên đã nêu ra trong Báo cáo kiểm toán về Báo cáo tài chính có ảnh
hởng trọng yếu đến Báo cáo tài chính thì Báo cáo tài chính đó đã không phản
ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu.
Yếu tố tuỳ thuộc là yếu tố trọng yếu nhng không chắc chắn, nh các vấn đề
liên quan đến tính liên tục hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hoặc một
khoản doanh thu có thể không đựơc công nhận làm ảnh hởng đến kết quả kinh
doanh của doanh nghiệp.
ý kiến tuỳ thuộc của kiểm toán viên thờng liên quan đến các sự kiện có thể
xảy ra trong tơng lai, nằm ngoài khả năng kiểm soát của đơn vị và kiểm toán
Lê Thị Khánh Linh Lớp Kiểm toán 41
25