Lời nói đầu
ớc sang thế kỷ thứ 21, xu hớng khu vực hoá và quốc tế hoá các nền kinh tế
đã đợc khẳng định. Trong xu hớng đó có 2 yếu tố nổi bật và quan trọng
nhất là hợp tác chặt chẽ và cạnh tranh quyết liệt. Bị cuốn và vùng xoáy cạnh
tranh ngày càng trở nên gay gắt, để tồn tại và phát triển, đòi hỏi các doanh
nghiệp phải củng cố cũng nh dần từng bớc hoàn thiện bộ máy quản lý, qui trình
sản xuất để có thể sản xuất ra các sản phẩm có đủ sức cạnh tranh trên thị tr -
ờng với các sản phẩm cùng loại và đáp ứng đợc nhu cầu của thị trờng.
B
Để tiến kịp với sự đổi mới của đất nớc thì ngành dệt may Việt Nam nói
chung và Nhà máy dệt Hà Đông nói riêng trong những năm qua đã có những b-
ớc phát triển vợt bậc. Sau một vài năm bị khủng hoảng ở Liên Xô và các nớc
Đông Âu xụp đổ, ngành dệt đã nhanh chóng chuyển đổi và hiện nay đang tiến
mạnh mẽ cùng với sự tăng trởng của đất nớc. Ngành dệt đã đóng góp đáng kể
váo ngân sách Nhà nớc.
Hiện nay ngành dệt phục vụ cho việc may mặc và xuất khẩu yêu cầu với
số lợng lớn. Những mặt hàng này chủ yếu đợc xuất sang Nga, Hungary, Nhật
Bản, Mỹ và các nớc Châu Âu.
Yêu cầu về chất lợng đối với các lô hàng này xuất ra nớc ngoài là rất cao,
nh vậy chất lợng sản phẩm tốt, ngoài việc có trình độ tơng ứng cần phải có
nguyên liệu tốt, tính chất phù hợp với các yêu cầu của sản phẩm.
Nhà máy len Hà Đông là một doanh nghiệp Nhà nớc. Vì vậy để đáp ứng
những thông tin kịp thời cho đơn vị cấp trên đồng thời cũng giúp cho giám đốc
Nhà máy đa ra những giải pháp đúng đắn đồng thời có còn là cơ sở để xác định
giá bán cho từng thành phẩm và tổ chức tiêu thụ sản phẩm có hiệu quả nhằm
đem lại kết quả cao cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Qua thời gian thực tập tại Nhà máy len Hà Đông vừa qua cùng kết hợp
với kiến thức mà em đã đợc thầy cô truyền đạt cho em xin đợc trình bày luận
văn tốt nghiệp nh sau:
Kết cấu của luận văn tốt nghiệp gồm 3 chơng
Chơng I: Cơ sở lý luận về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sự giảm đi đơn thuần các loại vật t, tài sản, tiền vốn của doanh nghiệp. Chi tiêu
trong kỳ của doanh nghiệp bao gồm chi tiêu cho quá trình cung cấp (chi mua
sắm vật t, hàng hoá, ..)
Chi tiêu cho quá trình sản xuất kinh doanh (chi cho chế tạo sản phẩm, cho
công tác quản lý...) và chi tiêu cho quá trình tiêu thụ (chi vận chuyển bốc dỡ,
quảng cáo,..) chi tiêu cho quá trình cung cấp làm tăng tài sản, chi tiêu cho quá
trình sản xuất kinh doanh làm cho các khoản tiêu dùng cho quá trình này tăng lên.
Chi phí và chi tiêu là hai khái niệm khác nhau nhng có quan hệ mật thiết
với nhau. Chi tiêu là cơ sở phát sinh của chi phí. Chi phí và chi tiêu không những
khác nhau về lợng mà còn khác nhau về thời gian phát sinh, có những khoản chi
kỳ này nhng cha đợc tính vào chi phí (chi mua nguyên vật liệu về nhập kho cha
sử dụng) và có những khoản đợc tính vào chi phí kỳ này nhng cha thực tế chi
(chi phí trích trớc).
Do vậy, việc phân biệt giữa chi phí với chi tiêu rất có ý nghĩa trong việc
tìm hiểu bản chất cũng nh nôị dung, phạm vi và phơng pháp hạch toán chi phí
sản xuất.
ở mỗi quốc gia với chế độ quản lý khác nhau thì họ cũng có cách nhìn
nhận về chi phí khác nhau.
Theo quan điểm của kế toán Mỹ, chi phí đợc định nghĩa nh một khoản
hao phí bỏ ra để thu đợc của cải vật chất và dịch vụ. Khoản hao phí này có thể là
tiền mặt chi ra, có thể là tài sản chuyển nhợng, dịch vụ hoàn thành đợc đánh giá
trên căn cứ tiền mặt.
Theo quan điểm của kế toán Pháp, chi phí đợc định nghĩa là số tiền mà
đơn vị bỏ ra mua những yếu tố cần thiết để tạo ra sản phẩm mang lợi cho đơn vị.
Chi phí bao gồm: chi phí mua nguyên vật liệu, hàng hoá và các loại dự trữ khác.
Tóm lại: tuy có các định nghĩa khác nhau về chi phí nhng có thể nói thực
chất của chi phí sản xuất là sự dịch chuyển vốn của doanh nghiệp vào đối tợng
tính giá thành nhất định, nó là vốn của doanh nghiệp bỏ vào quá trình sản xuất
kinh doanh.
1.2- Phân loại chi phí sản xuất
liệu công nhân chính, nhiên liệu sử dụng vào mục đích trực tiếp sản xuất sản
phẩm, không tính vào khoản mục này những chi phí sử dụng vào mục đích sản
xuất chung và những hoạt động ngoài sản xuất.
- Chi phí nhân công trực tiếp: Gồm tiền lơng, phụ cấp lơng và các khoản
đợc trích theo tỷ lệ tiền lơng của bộ phận nhân công trực tiếp sản xuất, chế tạo
sản phẩm.
- Chi phí sản xuất chung: Là những chi phí sản xuất còn lại trong phạm vi
phân xởng sản xuất ngoài chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công
trực tiếp.
Đây là cách phân loại kết hợp vừa theo nội dung kinh tế vừa theo công
dụng của chi phí giúp cho việc đánh giá mức độ của chi phí, trên cơ sở đối chiếu
với định mức tiêu hao của từng loại chi phí.
*Phân loại chi phí theo quan hệ giữa chi phí với khối lợng công việc,
sản phẩm hoàn thành.
- Biến phí: Là những chi phí về nguyên tắc không thay đổi theo tỷ lệ
thuận với sự thay đổi của khối lợng công việc sản phẩm hoàn thành.
- Định phí: Là những chi phí về nguyên tắc không thay đổi theo khối lợng
công việc, sản phẩm hoàn thành.
Phân loại chi phí sản xuất thành biến phí và định phí có tác dụng lớn đối
với quản trị kinh doanh, phân tích điểm hoà vốn và phục vụ cho việc ra các
quyết định quản lý giá thành sản phẩm để tăng hiệu quả kinh doanh.
* Phân loại chi phí theo lĩnh vực hoạt động.
- Chi phí hoạt động chính: Gồm các chi phí có liên quan đến hoạt động
sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và quản lý doanh nghiệp.
- Chi phí hoạt động tài chính: Gồm các chi phí có liên quan đến hoạt động
đầu t tài chính (tham gia liên doanh, đầu t chứng khoán ...).
Chi phí hoạt động bất thờng: Là những chi phí ngoài dự kiến (thanh lý tài
sản cố định).
* Phân loại chi phí theo mối quan hệ giữa chi phí và đối tợng tập hợp chi phí.
Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất đợc chia thành:
phức tạp đối tợng tập hợp chi phí sản xuất có thể là bộ phận, chi tiết sản phẩm,
các giai đoạn chế biến...
- Loại hình sản xuất: Đơn chiếc, sản xuất hàng loạt với khối lợng lớn. Đối
với sản xuất đơn chiếc, sản xuất hàng loạt nhỏ đối tợng tập hợp chi phí sản xuất
là đơn đặt hàng riêng biệt. Đối với sản xuất hàng loạt với khối lợng lớn phụ
thuộc vào qui trình công nghệ sản xuất mà đối tợng tập hợp chi phí sản xuất có
thể là sản phẩm, nhóm sản phẩm, chi tiết, nhóm chi tiết, giai đoạn công nghệ.
Yêu cầu về trình độ quản lý của doanh nghiệp: đối với các doanh nghiệp
hạch toán kinh tế nội bộ đòi hỏi phải kiểm tra, phân tích và xác đinh kết quả
từng phân xởng, từng công đoạn sản xuất.
Xác định đúng đắn đối tợng tập hợp chi phí sản xuất một cách kịp thời,
chính xác theo đúng đối tợng tập hợp chi phí sản xuất đã xác định là cơ sở, tiền
đề quan trọng để kiểm tra, kiểm soát quá trình chi phí, tăng cờng trách nhiệm
vật chất đối với các bộ phận, đồng thời cung cấp số liệu cần thiết cho việc tính
các chỉ tiêu giá thành theo yêu cầu quản trị doanh nghiệp.
2.2- Kế toán tập hợp chi phí sản xuất
2.2.1- Phơng pháp tập hợp chi phí sản xuất
Trên cơ sở xác định đối tợng tập hợp chi phí sản xuất, kế toán xác định
các phơng pháp tập hợp các chi phí sản xuất.
Phơng pháp hạch toán chi phí sản xuất là một phơng pháp hay hệ thống
các phơng pháp đợc sử dụng để tập hợp để phân loại các chi phí sản xuất trong
phạm vi giới hạn của của đối tợng hạch toán chi phí sản xuất. Nội dung cơ bản
của phơng pháp tập hợp chi phí sản xuất là kế toán mở sổ chi tiết hạch toán chi
phí sản xuất, phản ánh các chi phí phát sinh có liên quan đến đối tợng, hàng
tháng tập hợp chi phí theo từng đối tợng.
Tuỳ theo đối tợng tập hợp chi phí sản xuất đã xác định, ta áp dụng các ph-
ơng pháp thích hợp sau:
Phơng pháp tập hợp chi phí sản xuất theo sản phẩm;
Phơng pháp tập hợp chi phí sản xuất theo nhóm sản phẩm;
Phơng pháp tập hợp chi phí sản xuất theo giai đoạn công nghệ ;
Theo phơng pháp này các chi phí sản xuất đợc tập hợp và phân loại theo
đơn đặt hàng riêng biệt, khi đơn đặt hàng hoàn thành thì tổng số chi phí tập hợp
theo đơn đặt hàng là giá thành thực tế của sản phẩm.
Phơng pháp đợc áp dụng rộng rãi ở các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm
đơn chiếc.
Nh vậy việc lựa chọn phơng pháp nào để hạch toán chi phí sản xuất cần
phải căn cứ vào các đặc điểm sản xuất kinh doanh, đặc điểm quy trình công
nghệ,... của doanh nghiệp. Nhng với phơng pháp nào thì việc hạch toán chi phí
sản xuất đợc tiến hành theo một trình tự hợp lý, khoa học bao gồm các bớc sau:
Bớc một: Tập hợp chi phí cơ bản có liên quan trực tiếp cho từng đối tợng
sử dụng.
Bớc hai: Tính toán và phân bổ lao vụ của các ngành sản xuất kinh doanh
phụ có liên quan trực tiếp cho từng đối tợng sử dụng trên cơ sở khối lợng công
việc và giá thành đơn vị công việc.
Bớc ba: Tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung cho các loại sản
phẩm có liên quan.
Bớc bốn: Xác định chi phí dở dang cuối kỳ.
2.2.2- Phơng pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất
* Tổ chức hệ thống chứng từ ban đầu để hạch toán chi phí sản xuất
Kế toán trởng căn cứ vào đối tợng tập hợp chi phí sản xuất ở doanh
nghiệp, để tổ chức việc lập các chứng từ ban đầu cho từng đối tợng, tập hợp chi
phí nh đối với các chi phí vật t là các phiếu xuất kho, bảng phân bổ nguyên liệu
công cụ, dụng cụ; đối với các chi phí nhân công là bảng phân bổ tiền lơng, đối
với chi phí khấu hao tài sản cố định là bảng phân bổ và trích khấu hao tài sản cố
định.
* Tài khoản sử dụng
Tài khoản 621: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp;
Tài khoản 622: Chi phí nhân công trực tiếp ;
Tài khoản 627: Chi phí sản xuất chung.
Các tài khoản này đợc sử dụng để tập hợp toàn bộ các chi phí về nguyên
dịch vụ, lao vụ.
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp đợc căn cứ vào các chứng từ xuất kho
nguyên vật liệu để tính giá nguyên vật liệu trực tiếp vật liệu xuất dùng.
. Phơng pháp kết chuyển trực tiếp đợc áp dụng cho các nguyên vật liệu
trực tiếp chỉ liên quan đến một đối tợng kế toán tập hợp chi phí sản xuất.
. Phơng pháp phân bổ gián tiếp sử dụng trong kế toán tập hợp chi phí
nguyên vật liệu, trực tiếp liên quan đến những đối tợng. Khi đó phải lựa chọn
tiêu chuẩn hợp lý để tiến hành phân bổ theo định mức tiêu hao, theo hệ số, theo
tỷ lệ với trọng lợng sản phẩm.
Trình tự phân bổ đựoc tiến hành nh sau:
Chi phí vật cho từng
đối tợng phân bổ
=
Tiêu thức phân bổ
của từng đối tợng
x Hệ số phân bổ
Trong đó:
Tổng chi phí vật liệu cần phân bổ
Hệ số phân bổ =
Tổng tiêu thức phân bổ
Để sản xuất chi phí nguyên vật liệu thực tế trong kỳ, doanh nghiệp phải
tiến hành kiểm tra, xác định số nguyên vật liệu còn lại cha sử dụng cuối kỳ và
giá trị phế liệu thu hồi trong kỳ.
Chi phí thực tế
NVL trong kỳ
=
Giá trị NVL đa vào
sản xuất trong kỳ
-
Giá trị NVL còn
bổ có thể là tiền công hoặc giờ công định mức, giờ công lao động thực tế...
Kết cấu và nội dung phản ánh của tài khoản 622.
Bên Nợ : Chi phí nhân công trực tiếp tham ra vào hoạt động sản xuất kinh
doanh gồm : Tiền lơng, tiền công lao động, và các khoản trích theo lơng quy định.
Bên Có : Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vào các tài khoản liên quan.
Sơ đồ hạch toán tổng hợp chi phí nhân công trực tiếp.
TK334 TK622 TK154
Lơng, phụ cấp phải Kết chuyển chi phí
trả công nhân trực tiếp nhân công trực tiếp
TK335
Lơng nghỉ phép
trích trớc
TK338
Các khoản trích theo
tỷ lệ quy định
- Hạch toán chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung là những chi phí phục vụ cho sản xuất và những
chi phí cần thiết còn lại để sản xuất sản phẩm sau chi phí nguyên vật liệu trực
tiếp và chi phí nhân công trực tiếp. Đó là những chi phí phát sinh trong phạm vi
phân xởng, bộ phận sản xuất của doanh nghiệp.
Tài khoản 627 có 6 tài khoản cấp 2
TK6271 : Chi phí nhân viên phân xởng;
TK6272 : Chi phí vật liệu (dầu, mỡ...);
TK6273 : Chi phí dụng cụ sản xuất;
TK6274 : Chi phí khấu hao tài sản cố định;
TK6277 : Chi phí dịch vụ mua ngoài
TK6278 : Chi phí bằng tiền khác.
Do đó chi phí sản xuất chung có liên quan đến nhiều loại sản phẩm, dịch
TK133
VAT khÊu trõ
TK214
TK111, 112, 331
Chi phí khấu hao TSCĐ
- Hạch toán các khoản thiệt hại trong sản xuất
Hạch toán thiệt hại về sản phẩm hỏng
Sản phẩm hỏng là sản phẩm không thoả mãn các tiêu chuẩn về chất lợng
và đặc điểm kỹ thuât của sản xuất. Tuỳ theo mức độ h hỏng đợc chia làm hai loại :
Sản phẩm hỏng có thể sửa chữa đợc: Là những sản phẩm hỏng mà về mặt
kỹ thuật có thể sửa chữa đợc và việc sửa chữa đó có lợi về mặt kinh tế.
Sản phẩm hỏng không sửa chữa đợc: Là những sản phẩm hỏng về mặt kỹ
thuật không sửa chữa đợc hoặc có thể sửa chữa đợc nhng không có lợi về mặt
kinh tế.
Đối với sản phẩm hỏng có thể sửa chữa đợc: Khi phát sinh chi phí sửa
chữa, kế toán sử dụng TK 142 - Chi phí trả trớc để tập hợp và sửa chữa thiệt hại.
Sơ đồ hạch toán thiệt hại về sản phẩm hỏng có thể sửa chữa đợc
TK 152, 153, 334, .... TK 142 TK 821
Số thiệt hại tính
Chi phí sửa chữa vào chi phí bất thờng
sản phẩm hỏng phát sinh TK 627
Số thiệt hại tính vào
giá thành chính phẩm
TK 138, 152,..
Giá trị phế liệu thu
hồi bồi thờng
§èi víi s¶n phÈm háng kh«ng thÓ söa ch÷a ®îc : Gi¸ trÞ thiÖt h¹i chÝnh lµ
gi¸ trÞ s¶n phÈm háng kh«ng söa ch÷a ®îc trõ gi¸ trÞ phÕ liÖu thu håi vµ kho¶n
båi thêng cña ngêi g©y ra s¶n phÈm háng (nÕu cã).
thiệt hại.
Sơ đồ hạch toán ngừng sản xuất ngoài kế hoạch
TK 152, 334, 338,... TK 142 TK 138
Tập hợp chi phí phát sinh
trong thời gian ngừng SX Khoản bồi thờng
TK 821
Tính vào chi phí
bất thờng
* Nếu hạch toán hàng tồn kho theo phơng pháp kiểm kê định kỳ
Phơng pháp kiểm kê định kỳ là phơng pháp hạch toán căn cứ vào kết quả
kiểm kê cuối kỳ của các loại vật t hàng hoá trên sổ kế toán tổng hợp qua đó xác
định hàng xuất dùng trong kỳ. Đặc trng của phơng pháp này là những tài khoản
phản ảnh hàng tồn kho thì không phản ánh biến động hàng tồn kho, do đó việc
phản ánh biến động hàng tồn kho đợc ghi vào TK 611 - Mua hàng
Tài khoản sử dụng: 621, 622, 627,631
Kết cấu và nội dung của TK 631- Giá thành sản phẩm
Bên Nợ: Phản ánh giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ và chi phí sản xuất
phát sinh trong kỳ liên quan đến chế tạo sản phẩm hay thực hiện lao vụ, dịch vụ.
Bên Có: - Kết chuyển giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ.
- Tổng giá thành sản phẩm, lao vụ, dịch vụ hoàn thành.
- Giá trị thu hồi ghi giảm chi phí từ sản xuất.
TK 631 không có số d cuối kỳ
* Phơng pháp hạch toán
- Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
Do đặc điểm của phơng pháp hàng tồn kho theo phơng pháp kiểm kê định
kỳ (không theo dõi thờng xuyên liên tục) nên chi phí vật liệu rất khó đợc phân
định đợc đâu là xuất cho mục đích sản xuất hoặc cho quản lý hay cho tiêu thụ.
Vì vậy để hạch toán cho việc tính giá thành sản phẩm dịch vụ, lao vụ kế
toán tính chi tiết các chi phí phát sinh liên quan đến đối tợng từng bộ phận sản xuất.
Sơ đồ hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
TK 133
3- Đánh giá sản phẩm dở dang
Đánh giá sản phẩm dở dang là tính toán xác định phần chi phí sản xuất
mà sản xuất dở dang cuối kỳ phải chịu. Việc đánh giá sản phẩm dở dang hợp lý
là một trong những yếu tố quyết định đến tính trung thực, hợp lý của giá thành
sản phẩm hoàn thành trong kỳ. Tuy nhiên, việc tính giá thành sản phẩm dở dang
cuối kỳ là một công việc rất phức tạp, khó có thể xác định đợc một cách tuyệt
đối. Kế toán phải tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể về tổ chức sản xuất, về quy trình
công nghệ, về tính cấu thành của chi phí sản xuất và yêu cầu của trình độ quản
lý của từng doanh nghiệp để vận dụng phơng pháp đánh giá sản phẩm dở dang
cuối kỳ thích hợp.
3.1- Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí nguyên vật liệu chính trực tiếp
Theo phơng pháp này giá trị sản phẩm dở dang chỉ tính theo chi phí
nguyên vật liệu chính mà không tính chi phí chế biến. Chi phí chế biến tính hết
cho thành phẩm nhập kho.
Giá trị Giá trị sản phẩm Chi phí phát sinh
sản phẩm dở dang đầu kỳ trong kỳ Sản phẩm
dở dang = x dở dang
cuối kỳ Sản phẩm Sản phẩm cuối kỳ
hoàn thành trong kỳ dở dang cuối kỳ
Phơng pháp này tuy đơn giản nhng lại không chính xác nên thờng đợc áp
dụng trong các doanh nghiệp mà chi phí nguyên vật liệu trực tiếp chiếm tỷ trọng
lớn trong tổng chi phí sản xuất, khối lợng sản phẩm dở dang ít và không biến
động nhiều so với đầu kỳ.
Đánh giá sản phẩm dở dang theo 50% chi phí chế biến
Theo phơng pháp này sản phẩm dở dang gồm hai nội dung chi phí:
Chi phí nguyên vật liệu chính
Tính theo 50% chi phí chế biến: tức là quy đổi sản phẩm dở dang đã hoàn
thành ở mức độ 50% so với thành phẩm.
Sản phẩm dở
Chi phí phát sinh
trong kỳ
x
Số lợng
sản phẩm
dở dang
x 50%
Sản phẩm
hoàn thành
+
Sản phẩm dở dang
cuối kỳ x 50%
3.2- Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí sản xuất định mức
Theo phơng pháp này, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân
công trực tiếp tính vào sản phẩm dở dang theo các định mức tiêu hao nguyên vật
liệu, tiền lơng của đơn vị sản phẩm, các chi phí khác tính vào giá trị sản phẩm
dở dang dựa trên cơ sở tỷ lệ quy định so với khoản mục chi phí nhân công trực
tiếp hoặc dựa theo mức chi phí kế hoạch.
Theo phơng pháp này, việc tính toán đơn giản nhng không đảm bảo chính
xác vì vậy, chỉ áp dụng phơng pháp này ở những doanh nghiệp mà sản phẩm dở
dang có mức độ khá đồng đều giữa các tháng.
3.3- Đánh giá sản phẩm dở dang theo khối lợng sản phẩm hoàn thành tơng
đơng
Giá trị sản phẩm dở dang đánh giá theo phơng pháp này gồm hai bộ phận:
- Tổng chi phí nguyên vật liệu chính nằm trong sản phẩm dở dang
- Chi phí chế biến tính cho sản phẩm dở dang thành thành phẩm dựa theo
mức độ hoàn thành và số lợng sản phẩm dở dang. Tiêu chuẩn quy đổi thờng dựa
vào giờ công và tiền lơng định mức
Chi phí NVL
tính cho sản
Sản phẩm
hoàn thành
+
Sản phẩm dở dang
cuối kỳ x %HT
%HT: Mức độ hoàn thành
4- Tổng hợp chi phí sản xuất
4.1 Tổng hợp chi phí sản xuất theo phơng pháp kê khai thờng xuyên
Sơ đồ tổng hợp chi phí sản xuất theo phơng pháp kê khai thờng xuyên
TK 152, 111, 138
TK 155
TK 152,153 TK 621 TK 154
TK334, 338,335 TK 662
TK 111, 112, 214,334,335
TK 627
Tập hợp chi phí
trực tiếp trong kỳ
Kết chuyển chi phí
NVL trực tiếp
Các khoản ghi giảm
chi phí sản xuất
TK 157
TK 632
Tập hợp chí phí
nhân công trực tiếp
trong kỳ
Kết chuyển
chi phí nhân công cuối
kỳ
Nhập kho
Tập hợp chi phí
NVLtrực tiếp trong kỳ
Kết chuyển chi phí
NVL trực tiếp cuối kỳ
Giá trị sản phẩm
dở dang cuối kỳ
TK 138.2
Tập hợp chí phí
nhân công trực tiếp
trong kỳ
Kết chuyển chi phí
NC trực tiếp cuối kỳ
Tập hợp chí phí
sản xuất chung trong kỳ
Kết chuyển chi phí
SXC cuối kỳ
Bồi thường phải
thu cho SX
TK 632
Tổng giá thành SX
của SP dịch vụ hoàn
thành trong kỳ
Phế liệu thu hồi
sản phẩm hỏng
Giá thành trong một chừng mực nhất định đó vừa mang tính chủ quan,
vừa mang tính khách quan. Vì vậy, chúng ta phải xem xét giá thành trên nhiều
góc độ khác nhau nhằm sử dụng chỉ tiêu giá thành có hiệu quả nhất.
Thể hiện tính khách quan, giá thành là biểu hiện bằng tiền của giá trị t
liệu sản xuất và sức lao động kết tinh trong đơn vị sản xuất hàng hoá.
Đồng thời, thể hiện tính chủ quan ở chỗ dựa trên cơ sở chi phí sản xuất để