B CễNG THNG
TRUNG TM THễNG TIN CễNG NGHIP V THNG MI
BO CO TNG KT TI
NGHIấN CU XY DNG NH HNG C
CU HNG HểA XUT KHU CH LC
CA VIT NAM GIAI ON 2010 - 2015
(Thc hin theo Hp ng s 06709 RD/H-KHCN ngy 03 thỏng 03 nm 2009
gia B Cụng Thng v Trung tõm Thụng tin Cụng nghip v Thng mi)
Chủ nhiệm đề tài: ThS. Phạm Hng
Các thnh viên tham gia đề tài:
- Tạ Quang Trung
- Trần Xuân Thành
- Lê Thúy Hằng
- Phạm Văn Thắng
- Trần Mỹ Dung
- Lê Mai Thanh
- Nguyễn Xuân Hòa 7604
22/01/2010
2.1.2 Quá trình hình thành cơ cấu mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam
2.1.3 Một số mặt hàng xuất khẩu có tiềm năng đạt kim ngạch 1 tỷ USD
2.2 Thực trạng cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam
2.2.1. Cơ cấu mặt hàng xu
ất khẩu của Việt Nam
2.2.2 Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu đối với từng khu vực thị trường xuất khẩu
1
7
7
9
9
11
13
18
21
29
29
33
36
38
38
38
39
41
42
42
46
2.3. Thị trường xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của Việt Nam và triển
vọng đẩy mạnh xuất khẩu trong thời gian tới
2.3.1. Gạo
Kết luận
61
61
62
67
68
70
72
73
76
80
82
82
84
92
92
92
95
100
108
108
110
123
126
126
130
133
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Tỷ lệ hàng chế biến trong xuất khẩu giai đoạn 2005-2008 15
Bảng 3.1 Dự báo triển vọng cung cầu gạo thế giới 103
Bảng 3.2 Dự báo sản lượng cà phê thế giới theo niên vụ 104
Bảng 3.3 Dự báo tiêu thụ cà phê thế giới 104
Bảng 3.4 Xu hướng giá gỗ nguyên liệu trên thị trường thế giới 105
Bảng 3.5 Dự báo tiêu thụ giày dép thế giới 107
Bảng 3.6 Định hướng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam
giai đoạn 2010 – 2015 122
Bảng 3.7 Định hướng cơ
cấu sản phẩm xuất khẩu giai đoạn 2010 – 2015 125
Bảng 3.8 Định hướng tỷ lệ hàng chế biến trong xuất khẩu
giai đoạn 2010-2015 126 DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu 2.1: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam qua các năm 38
Biểu 2.2: Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam năm 2008 44
Biểu 2.3: So sánh cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam
năm 2004 và năm 2008 47
Biểu 3.1: Dự báo cơ cấu sản phẩm xuất khẩu năm 2010 124
Biểu 3.2: Định hướng cơ cấu sản phẩm xuất khẩu năm 2015 124
WEF
World Economic Forum
Diễn đàn Kinh tế thế giới
WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại thế giới
NXB Nhà Xuất bản
NHNN Ngân hàng Nhà nước
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
TCMN Thủ công mỹ nghệ 1
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết nghiên cứu
Trong giai đoạn kinh tế hiện nay, các chính sách hỗ trợ đẩy mạnh xuất
khẩu, giảm nhập siêu là một trong những nhóm chính sách quan trọng bảo đảm
tăng trưởng kinh tế hợp lý. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã đề
ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2006 – 2010, trong
đó có mục tiêu “Đẩy nhanh xuất khẩu, chủ động về nhậ
p khẩu, kiềm chế và
thu hẹp dần nhập siêu; phấn đấu tăng nhanh tỉ trọng xuất khẩu các sản phẩm
chế biến có giá trị gia tăng cao, giàu hàm lượng công nghệ, có sức cạnh tranh,
tạo thêm các sản phẩm xuất khẩu chủ lực mới, hết sức hạn chế và tiến tới
chấm dứt xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên và nông sản chưa qua chế biến.”
Thực hiện m
ục tiêu này, những năm qua cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt
Nam đã có những chuyển biến, xuất khẩu của nhiều nhóm hàng chủ lực đã có
nhiều sự thay đổi. Cơ cấu hàng xuất khẩu trong năm 2008 cho thấy biểu hiện tích
cực, trong đó tốc độ tăng trưởng của nhóm hàng nông, lâm, thủy sản đạt được ở
mức 29,6% với kim ngạch xuất khẩu đạ
cứu cụ thể để tiếp tục xây dựng cơ cấu hàng hóa xuất khẩu hợp lý hơn nữa, tìm
những mặt hàng có kim ngạch tương đối lớn, tốc độ tăng trưởng cao trong những
năm gần đây để tập trung các biện pháp mở rộng sản xuất, đẩy m
ạnh xuất khẩu,
đồng thời với việc nghiên cứu chính sách hỗ trợ xuất khẩu theo hướng chuyển
dần sang xuất khẩu các nhóm hàng chế tạo có giá trị gia tăng cao và tăng hiệu quả
kinh tế, chất lượng của xuất khẩu.
Xuất phát từ những lý do trên, đề tài “Nghiên cứu xây dựng định hướng
cơ cấu hàng hóa xuất khẩu chủ lực của Việt Nam giai đoạn 2010 – 2015
” đã
được chọn làm hướng nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu
Đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến chủ đề này như:
- Việt Nam hướng tới 2010 (tuyển tập báo cáo phối hợp nghiên cứu chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội của của các chuyên gia quốc tế và Việt Nam) NXB
chính trị quốc gia 2001. Sách gồm 2 tập trong đó tập 1 gồm 6 báo cáo. Nội dung
sách đã nêu bật vai trò của nhà nước và thị trường trong nền kinh tế, phân tích
đánh giá những cơ hội cũng như thách th
ức mà Việt Nam gặp phải khi tham gia
hội nhập kinh tế quốc tế.
- Hướng phát triển thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam tới 2010, NXB thống
kê 1997, nội dung sách gồm 3 chương trong đó chương 1 đã làm rõ những căn
3
cứ để xây dựng định hướng phát triển xuất nhập khẩu 1996-2000, các chính sách
và quyết định phát triển xuất nhập khẩu hiện hành và mới ban hành. Chính sách
mặt hàng và cơ chế điều hành xuất nhập khẩu năm 1997. Chương 2 tập trung nêu
và phân tích chính sách xuất nhập khẩu của các nước đối với Việt Nam. Chương
3 đề xuất các chính sách chuyển dịch cơ cấu thị trường xuất nhậ
p khẩu, chính
4
- Chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam – PGS. TS Nguyễn Hữu
Khải chủ biên, NXB thống kê, 2007 sách gồm 5 chương, chương 1 trình bày
những cơ sở lý luận của quá trình chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt
Nam. Chương 2 chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu của một số nước và bài học
kinh nghiệm đối với Việt Nam. Chương 3 thự
c trạng chuyển dịch cơ cấu hàng
xuất khẩu Việt Nam. Chương 4 định hướng chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu
Việt Nam chương 5 Một số biện pháp chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu Việt
Nam. Sách đã đánh giá tiềm năng xuất khẩu của Việt Nam, đưa ra các quan
điểm, định hướng và đề xuất các giải pháp chuyển dịch cơ cấ
u hợp lý, mang lại
hiệu quả kinh tế ngày càng cao hơn, góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước, đồng thời đáp ứng tốt các cam kết về hội nhập kinh tế quốc tế.
Tuy nhiên, cho đến thời điểm này vẫn chưa có công trình nào đánh giá
được thực trạng xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2005-2009, nhất là trong bối
cảnh khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế x
ảy ra vào nửa cuối 2008 kéo
dài suốt cả năm 2009, đồng thời đề xuất xây dựng một cơ cấu xuất khẩu hàng
hóa chủ lực phù hợp với những yêu cầu của giai đoạn tới (2010-2015). Với quan
điểm cập nhật về thời gian và những biến động của thị trường thế giới trong năm
2008 và 2009, đề tài kế thừa các quan điểm của các công trình nghiên cứ
u trước
đây và tiếp tục nghiên cứu bổ sung để xây dựng được định hướng cơ cấu hàng
hóa xuất khẩu chủ lực phù hợp nhất trong giai đoạn 2010 – 2015 sắp tới.
3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu vấn đề lý luận và thực tiễn của việc xây dựng định hướng cơ
cấu hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong điều kiện hiện nay.
- Đánh giá thực trạng hoạt động xuất khẩu và về cơ cấu hàng hóa xuất khẩu
chủ lực của Việt Nam thời gian qua.
khẩu của Việt Nam và vấn đề chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam.
- Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp.
- Lấy ý kiến chuyên gia, hội thảo khoa học về những nội dung đề tài
nghiên cứu. 6
6. Đóng góp của đề tài
- Về phía Bộ Công Thương: Đề tài là một căn cứ khoa học và thực tiễn
quan trọng để Bộ có thể tham khảo trong việc điều chỉnh chính sách và quản lý,
điều hành hoạt động xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2010 -2015 nhằm thúc
đẩy tăng trưởng xuất khẩu một cách hiệu quả.
- Đối với các doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam: Kết quả
nghiên c
ứu của đề tài sẽ là tài liệu tham khảo có tính chất định hướng cho việc
xây dựng, hoạch định kế hoạch phát triển hoạt động xuất khẩu trong ngắn hạn,
trung hạn để giúp doanh nghiệp chủ động trong công tác xây dựng chiến lược và
kế hoạch kinh doanh phù hợp giai đoạn mới, tập trung đầu tư cho các sản phẩm
phù hợp, đạt hiệu quả hơn trong hoạt động xuấ
t khẩu.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
đề tài gồm 3 chương như sau:
chuẩn về kỹ thuậ
t và vệ sinh an toàn thực phẩm, môi trường làm việc của người
lao động, để xác định mặt hàng xuất khẩu nào của Việt Nam được công nhận là
mặt hàng xuất khẩu chủ lực trong từng giai đoạn phát triển kinh tế của đất nước.
Tuy nhiên, thực tế hiện nay, tiêu chí được sử dụng phổ biến vẫn là kim ngạch
xuất khẩu trên 1 tỷ USD bởi vì khi một mặt hàng xuất khẩu
đạt kim ngạch trên 1
tỷ USD, đồng nghĩa với việc nhiều tiêu chí trên đã được đáp ứng ở các mức độ
khác nhau (ngoại trừ dầu thô, một số mặt hàng khoáng sản).
8
Trong năm 2008, ngoài 10 mặt hàng có kim ngạch trên 1 tỷ USD đã thực
hiện được từ năm 2007 (chủ yếu thuộc nhóm hàng công nghiệp chế biến, nông
sản) là: Thủy sản, gạo, cà phê, cao su, dầu thô, dệt may, giầy dép, điện tử và linh
kiện máy tính, sản phẩm gỗ và nhóm sản phẩm cơ khí, đã xuất hiện thêm 1 mặt
hàng đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD là dây điện và cáp điện. Một số mặt hàng xu
ất
khẩu chủ lực có khối lượng giảm nhưng do giá thế giới tăng mạnh nên về mặt trị
giá tăng khá so với năm 2007 như: Dầu thô tăng 23,1% nhưng lượng giảm 7,7%,
cà phê tăng 5,8% nhưng lượng giảm 18,3%, cao su tăng 14,6% nhưng lượng
giảm 9,8%
Mặt hàng xuất khẩu mũi nhọn của quốc gia, ngành hay địa phương là
mặt hàng xuất khẩu xác định căn cứ vào nhi
ệm vụ phát triển kinh tế của quốc
gia, ngành hay địa phương đó ở các thời kỳ phát triển khác nhau. Căn cứ vào
chiến lược phát triển kinh tế của cả nước hay của địa phương ở các thời kỳ phát
triển mà của quốc gia hay địa phương đó xác định phát triển các ngành mũi nhọn
để sản xuất ra sản phẩm xuất khẩu mũi nhọn. Ngành kinh tế mũ
i nhọn là các
ngành kinh tế có thể huy động mọi nguồn lực tạo bước đột phá trong phát triển
+ Đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng nông sản, thực phẩm chế biến trên
cơ sở phát triển sản xuất nông nghiệp, đổi mới giống cây trồng, vật nuôi, xây
dựng cơ sở chế biế
n
+ Tăng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng thủ công truyền thống trên cơ
sở phát triển tiểu thủ công nghiệp, làng nghề.
1.2 Vai trò của xuất khẩu và xuất khẩu các mặt hàng chủ lực với sự phát
triển kinh tế xã hội và hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay
1.2.1 Vai trò của xuất khẩu
Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế. Nó
không phả
i là hành vi buôn bán riêng lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ mua
bán phức tạp, có tổ chức, cả bên trong nước và ngoài nước nhằm mục tiêu lợi
nhuận, thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển, chuyển đổi kinh tế, và từng bước
nâng cao mức sống của dân cư của quốc gia. Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh
đem lại hiệu quả đột biến nhưng cũng phải đối mặt với nhiề
u rủi ro lớn vì nó phải
đối đầu với một hệ thống kinh tế khác từ bên ngoài mà các chủ thể trong nước
10
tham gia xuất nhập khẩu không dễ dàng và nhiều khi không thể khống chế hay
kiểm soát được.
Với khái niệm đó, vai trò của xuất khẩu đối với nền kinh tế và các
ngành kinh tế trong nước là rất lớn.
- Xuất khẩu là một bộ phận quan trọng của cơ cấu kinh tế, một mặt nó bị
chi phối và quyết định bởi cơ cấu của ngành và lĩnh vực chủ
yếu, mặt khác nó có
vai trò tạo tiền đề và thúc đẩy các ngành kinh tế trong quá trình hình thành và
phát triển một cơ cấu kinh tế hợp lý.
- Xuất khẩu đóng góp quan trọng vào tăng trưởng GDP. Tới nay, chưa có
i sự cạnh
tranh vô cùng khốc liệt của các đối thủ cạnh tranh trên toàn thế giới. Thông qua
xuất khẩu mà các doanh nghiệp có thể tự khẳng định mình và học hỏi được trình
độ, kinh nghiệm của các nền sản xuất tiên tiến trên thế giới, đặc biệt là công nghệ
và kỹ thuật của các nước phát triển. Cũng chính sự cạnh tranh quyết liệt trong
xuất khẩu mà việc hạ giá thành sản phẩm là m
ục tiêu phấn đấu trong việc xuất
khẩu của từng quốc gia.
- Xuất khẩu tạo điều kiện vật chất không những cho ngoại thương mà
còn cho các mặt cân đối khác về thanh toán, về tài chính và tín dụng. Đồng thời
thông qua xuất khẩu có thể tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện một chính
sách ngoại thương chủ động và tích cực.
- Xuất khẩu là mộ
t trong những hoạt động kinh tế trọng yếu của bất kỳ
quốc gia nào dù là phát triển hay đang phát triển. Việc thực hiện xuất khẩu hay
phát triển xuất khẩu sẽ tác động làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo ra nhiều việc
làm mới và góp phần cải thiện thu nhập cho người lao động. Mặt khác, phát triển
xuất khẩu sẽ tạo nguồn thu ngoại tệ lớn h
ơn để đáp ứng nhu cầu ngoại tệ cho
mua sắm máy móc thiết bị, nhập khẩu các sản phẩm trung gian phục vụ yêu cầu
phát triển kinh tế- xã hội của một quốc gia, đồng thời là nguồn để trả nợ nước
ngoài, giúp cân bằng và lành mạnh cán cân thanh toán quốc tế, ổn định tình hình
kinh tế, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế trong nước
1.2.2 Vai trò của xuất khẩu các mặt hàng ch
ủ lực
Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực với vai trò là các mặt hàng xuất khẩu chủ
yếu của mỗi quốc gia, chiếm trên 60% tổng kim ngạch xuất khẩu của quốc gia,
đóng góp vai trò như và thậm chí còn quan trọng hơn vai trò của xuất khẩu một
mặt hàng xuất khẩu thông thường. Nhiều khi, xuất khẩu các mặt hàng chủ lực
phẩm công nghiệp nặng. Cơ cấu kinh tế được chuyển dịch từ nông nghiệp sang
phát triển công nghiệp nhằm phục vụ tốt nhất cho chiến lược hướng mạnh về
xuất khẩu. Chính ph
ủ luôn hỗ trợ doanh nghiệp trong việc tìm kiếm thị trường
nước ngoài, ưu tiên nhập khẩu máy móc, công nghệ hiện đại, nguyên vật liệu cần
thiết để thực hiện mục tiêu quan trọng là tăng cường năng lực sản xuất trong
nước.
13
Đối với Việt Nam, vai trò của xuất khẩu được thể hiện qua việc xuất
khẩu các mặt hàng chủ lực, bởi xuất khẩu các mặt hàng này thường xuyên chiếm
đến trên 70% tổng kim ngạch xuất khẩu và đã khẳng định được vai trò quan
trọng đối với nền kinh tế quốc dân.
1.2.3 Sự cần thiết chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam trong bối
cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu và rộng
Những năm vừa qua, xuất khẩu của Việt Nam đã thu được những kết quả
khả quan và có những đóng góp to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước. Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trung bình giai đoạn
2001 - 2008 đạt 17,5%. Các sản phẩm đạt trị giá kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỉ
USD ngày càng tă
ng (như dầu thô, hàng dệt may, giày dép, thủy sản, đồ gỗ, hàng
linh kiện điện tử, cà phê, gạo, cao su, dây điện và cáp điện). Nhiều mặt hàng xuất
khẩu đã có chỗ đứng nhất định trên thị trường thế giới, thậm chí một số mặt hàng
đã có ảnh hưởng đến thị trường thế giới như gạo, cà phê, cao su, hạt tiêu, hạt điều
và chè.
Mặc dù kim ng
ạch xuất khẩu của Việt Nam trong những năm qua đạt
được mức tăng trưởng khả quan, nhưng nhìn về tổng thể quy mô xuất khẩu của
Việt Nam vẫn còn nhỏ bé. Năm 2008, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa toàn thế
giới đạt 15,78 nghìn tỷ USD, nhập khẩu đạt 16,12 nghìn tỷ USD. Trong khi đó,
bậc, xuống vị trí 70 trong bảng xếp hạng cạnh tranh toàn cầu 2008-2009. Bảng
khảo sát, công bố ngày 8-10-2008 t
ại Geneva, xếp hạng tính cạnh tranh của 134
nền kinh tế toàn cầu dựa trên phân tích những dữ liệu có sẵn và bảng khảo sát ý
kiến hơn 12.000 nhà lãnh đạo doanh nghiệp. Theo đó, Việt Nam có 23 chỉ tiêu
lợi thế và 90 chỉ tiêu bất lợi. Ưu điểm cạnh tranh của Việt Nam tập trung ở tính
hiệu quả của thị trường lao động (xếp hạng 47) nhờ có lợi thế về nhân công giá
rẻ. Trong khi
đó, những yếu tố bất lợi làm giảm tính cạnh tranh của Việt Nam là
lạm phát, cơ sở hạ tầng không đồng bộ, trình độ lực lượng lao động không đồng
đều, tham nhũng và các chính sách thiếu ổn định.
Những hạn chế trên một phần là do cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam
vẫn chưa hoàn thiện như: quá trình chuyển dịch cơ cấu mặt hàng xuất khẩu theo
hướng công nghiệp hóa diễn ra còn chậm. Tỷ trọng hàng hóa xuất khẩu là những
sản phẩm thô hoặc mới sơ chế chiếm tỷ trọng khá cao. Các mặt hàng có giá trị
gia tăng còn thấp…
Theo số liệu thống kê, trong năm 2007 tỷ trọng hàng chế biến hoặc đã
tinh chế đã nhích tăng so với hàng thô hoặc mới sơ chế. Nhưng sang năm 2008,
15
tình hình kinh tế thế giới gặp biến động lớn, kim ngạch xuất khẩu hàng thô hoặc
mới sơ chế tăng mạnh hơn so với các mặt hàng đã chế biến nhờ lợi thế về giá
trong các tháng đầu năm. Cuối năm 2008, do tác động của cuộc khủng hoảng tài
chính, xuất khẩu hàng chế biến hoặc đã tinh chế tăng trưởng chậm lại làm giảm
t
ỷ trọng của nhóm hàng này trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
Bảng 1.1: Tỷ lệ hàng chế biến trong xuất khẩu giai đoạn 2005-2008
2005 2006 2007 2008
Trị giá
Nguồn: Tổng cục thống kê
Trong cơ cấu hàng thô hoặc mới sơ chế, phần lớn là kim ngạch xuất khẩu
hàng nông, lâm, thủy sản. Tốc độ tăng trưởng trung bình của kim ngạch xuất
khẩu nông, lâm, thủy sản giai đoạn 2005-2008 đạt khoảng 25,5%/năm (trong khi
kim ngạch xuất khẩu hàng hóa nói chung là khoảng 20,5%/năm). Trong những
năm vừa qua, đặc biệt trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu và thu hẹp thị
trường xuất khẩu trong hai năm 2008 và 2009, vai trò của xuất khẩu nông sản
càng được đánh giá cao. Nông sản xuất khẩu tăng trưởng mạnh đã trở thành động
lực thúc đẩy nông nghiệp duy trì tốc độ tăng trưởng khá cao, góp phần chuyển
đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, hình thành nhiều vùng chuyên canh hàng hóa. Tuy
nhiên, nhìn về dài hạn trong một tương quan giữa cung xuất khẩu nông sản và
cầu nhập khẩu nông sản vẫn bộc lộ
nhiều vấn đề đáng quan tâm. Những yếu tố
16
yếu kém căn bản về cơ cấu trong chuỗi giá trị: giá thành cao, sản phẩm thô, chưa
có sản phẩm mũi nhọn có giá trị gia tăng cao, thương hiệu yếu, phụ thuộc nhập
khẩu nguyên liệu chế biến một số ngành hàng lớn… Chẳng hạn, giá gạo xuất
khẩu của Việt Nam luôn thấp hơn so với giá gạo của Thái Lan, Ấn Độ, Hoa Kỳ
và Pakistan. So sánh khác, Việt Nam xuất kh
ẩu gạo nhiều hơn Hoa Kỳ 21,5% về
lượng nhưng lợi nhuận thu được lại ít hơn 11,3% Ngoài ra, rất có nhiều khả
năng, một số ngành hàng xuất khẩu nông sản của Việt Nam đã tăng trưởng đến
ngưỡng, việc tăng kim ngạch khó khăn hơn. Nguyên nhân là do ngành nông
nghiệp còn rất nhiều hạn chế bởi phần lớn nông sản xuất khẩu dưới dạng thô, giá
trị
gia tăng thấp, nhiều lô hàng không đạt được chất lượng cao do sản xuất phân
tán, nhỏ lẻ, thị trường xuất khẩu lại thiếu ổn định, các nhà sản xuất chưa xây
dựng được thương hiệu cho sản phẩm của mình, hoặc nếu đã có lại không giữ gìn
đang được nhà nhập khẩu chỉ định mua nguyên phụ liệu, may theo mẫu họ đưa ra
và được hưởng 5% - 10% trên giá trị của sản phẩm. Các mặt hàng da giày, điện
tử, linh kiện máy tính xuất khẩu cũng trong tình trạng tương tự hàng dệt may.
Lực lượng lao động giá rẻ dồi dào được xem là một trong những lợ
i thế
cạnh tranh hiện nay của Việt Nam. Tuy nhiên, xét về lâu dài đây là vấn đề đáng
báo động. Lao động giá rẻ đồng nghĩa với chất lượng thấp, kéo theo mức trả
lương cho người lao động thấp; chất lượng lao động thấp sẽ không đáp ứng được
xu thế đổi mới, sử dụng công nghệ sản xuất, quản lý ngày càng cao của doanh
nghiệp. Nếu coi lao động giá rẻ là mộ
t lợi thế so sánh là sai lầm vì yếu tố quyết
định đến lợi nhuận của doanh nghiệp lại chính là năng suất lao động. Hiện nay,
năng suất lao động của người dân Nhật Bản đang cao hơn Việt Nam 135 lần,
Thái Lan cao gấp 30 lần, Malaysia gấp 20 lần và Indonesia gấp 10 lần. Chi phí
về lao động trên giá trị mới của Việt Nam rất cao, bằng 47,38%, tương đương với
Nhật Bản và Hoa Kỳ. Ch
ẳng hạn, trong lĩnh vực dệt thoi, một công nhân Việt
Nam đứng 10 máy, hiệu suất là 80%, trong khi một công nhân Đài Loan đứng 30
- 40 máy, hiệu suất 90%. Năng suất lao động trong ngành dệt của Việt Nam chỉ
bằng 90% của Trung Quốc, 85% của Thái Lan. Khi sử dụng lao động giá rẻ,
doanh nghiệp có thể tiết giảm được một phần trong quỹ tiền lương. Nhưng về lâu
dài, để tiếp tục phát triển, doanh nghiệp sẽ ph
ải bỏ chi phí để đào tạo nhân viên
và so với các nước, chi phí này của lao động Việt Nam cao hơn bình quân từ 15-
20 lần. Và đến lúc này, lợi thế về giá nhân công rẻ đã bị triệt tiêu hoàn toàn.
Với cơ cấu xuất khẩu này, Việt Nam đang phải đối mặt với thực trạng
xuất khẩu có hiệu quả kinh tế chưa cao. Bởi vì: Thứ nhất, tính co giãn về thu
nhập bình quân đầu người của c
ầu đối với những sản phẩm nông sản thực phẩm
xuất và cơ cấu của nền kinh tế là một nhân tố quan trọng quyết định đến cơ cấu
hàng xuất khẩu. Với những nước đang phát triển có lợi thế về lao độ
ng và tài
nguyên thiên nhiên, cơ cấu kinh tế của các nước này chủ yếu là nông nghiệp nên
cơ cấu xuất khẩu cũng tập trung vào các loại nông sản. Đối với các nước phát
19
triển có ưu thế về vốn và công nghệ, cơ cấu kinh tế tập trung vào khu vực công
nghiệp và dịch vụ nên cơ cấu xuất khẩu hàng hóa cũng thiên về sản phẩm có hàm
lượng kỹ thuật cao.
Đối với Việt Nam, trình độ khoa học, công nghệ, năng suất lao động còn
thấp dẫn đến giá thành nhiều sản phẩm của Việt Nam cao hơn so với khu vực và
thế giới. Kh
ả năng khai thác nguồn lực và tiềm năng trong nước chưa được tốt.
Đầu tư của Nhà nước chưa tập trung, bị thất thoát khá nhiều, khai thác và sử
dụng tài nguyên thiên nhiên chưa hợp lý. Tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn
chậm, chất lượng thấp. Sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của
doanh nghiệp nhà nước, nhất là cổ phần hóa chưa
đạt yêu cầu đề ra. Chất lượng
nguồn nhân lực thấp, lao động qua đào tạo còn thiếu, lao động nông nghiệp còn
chiếm tỷ lệ cao. Chính vì vậy, cơ cấu hàng xuất khẩu hiện nay của Việt Nam vẫn
nghiêng về các mặt hàng thô hoặc mới sơ chế như các mặt hàng nông sản, dầu
thô
Phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam là các doanh nghiệp vừa và nhỏ,
lối làm ăn theo kiểu manh mún, nhỏ lẻ
đã ngấm sâu vào tâm lý của nhiều doanh
nghiệp Việt Nam. Hậu quả là rất nhiều cơ hội lớn đã bị bỏ qua do đối tác nước
ngoài cần đặt lượng hàng lớn nhưng doanh nghiệp không có khả năng đáp ứng,
trong khi lại không liên kết với doanh nghiệp khác cùng làm. Không chỉ bỏ lỡ
các đơn hàng lớn mà sự thiếu liên kết còn khiến giá hàng hóa xuất khẩu không