Tài liệu Luận văn tốt nghiệp “Xây dựng các mặt hàng xuát khẩu chủ lực của Việt Nam: thực trạng và giải pháp phát triển.” - Pdf 84



…………..o0o…………..

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

Xây dựng các mặt hàng xuát khẩu
chủ lực của Việt Nam: thực trạng và
giải pháp phát triển.
Khoá luận tốt nghiệp Nghiêm Thị Thu Hà

1
LỜI MỞ ĐẦU

Trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế hiện nay, Việt Nam đang
thực hiện chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu. Nhà nước đã chủ

2
Để góp phần đánh giá một cách đúng đắn, khách quan và đưa ra một số
giải pháp chủ yếu để hoạt động xây dựng các mặt hàng xuất khẩu chủ lực
của Việt nam đạt hiệu quả cao, em đã chọn đề tài: “Xây dựng các mặt hàng
xuát khẩu chủ lực của Việt Nam: thực trạng và giải pháp phát triển.” là đề
tài cho khoá luận tốt nghiệp của mình.
Trong bài viết, em xin trình bày các nội dung:

• Chương I: Sự cần thiết phải xây dựng các mặt hàng xuất khẩu chủ
lực của Việt Nam.
• Chương II: Thực trạng xây dựng các mặt hàng xuất khẩu chủ lực
của Việt Nam.
• Chương III: Các giải pháp xây dựng, đẩy mạnh sản xuất và xuất
khẩu các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.
Trong quá trình nghiên cứu và trình bày, do kiến thức hiểu biế
t còn hạn
chế nên bài viết không tránh khỏi những sai sót, khiếm khuyết. Rất mong
nhận được sự đóng góp của các thầy cô và các bạn để đề tài được hoàn
chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Nguyễn Hoàng Ánh đã tận tình hướng
dẫn và truyền đạt cho em những kiến thức quý báu để em hoàn thành khoá
luận này.
Hà nội, tháng 5 năm 2003
Sinh viên Nghiêm Thị Thu Hà

rằng tỷ trọng của mặt hàng được coi là mặt hàng xuất khẩu chủ lực khi nó
chiếm ít nhất 25% kim ngạch xuất khẩu của quốc gia. Ở Việt Nam, đầu thập
kỷ 90, người ta đã cho rằng việc xác định này không dựa theo tỷ trọng mà
lại căn cứ vào giá trị tuyệt đối và một mặt hàng ít ra là phải đạt 100 triệu
USD mới trở thành một mặt hàng xuất khẩ
u chủ lực. Còn theo các chuyên
gia kinh tế tại Viện Quản lý xuất khẩu công nghệ, Trường đại học Berkeley-

(1)
Giáo trình Kinh tế Ngoại thương - GS.TS. Bùi Xuân Lưu (trang 232).

Khoá luận tốt nghiệp Nghiêm Thị Thu Hà

4
Mỹ, thì không thể đưa ra một tỷ trọng cụ thể trong khái niệm hàng xuất khẩu
chủ lực, mà việc nhìn nhận một mặt hàng xuất khẩu chủ lực căn cứ vào
lượng USD lớn (“Large USD volume”) trong tổng kim ngạch xuất khẩu.
Như vậy có nghĩa là không có một cách nhìn hoàn toàn giống nhau về
tỷ trọng giá trị xuất khẩu của một mặt hàng chủ lực trong tổng kim ngạch
xuất khẩu ở tất cả các quốc gia, song nhìn chung có thể nhận thấy rằng một
mặt hàng xuất khẩu chủ lực cần phải có 3 yếu tố cơ bản sau:
- Có thị trường ổn định, luôn cạnh tranh được trên thị trường đó trong
một thời gian tương đối dài.
- Có nguồn lực để tổ chức sản xuất và sản xuất với chi phí thấp để thu
đượ
c lợi trong buôn bán.
- Có lượng kim ngạch lớn và mang tính chất quyết định đối với tổng kim
ngạch xuất khẩu của quốc gia.
(2)


23% (=3,3 tỷ USD/14,308 tỷ USD) tổng kim ngạch xuất khẩu Việt Nam. Có
thể thấy, kim ngạch các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của một quốc gia chiếm
tỷ trọng rất lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của quốc gia đó. Ví dụ như
kim ngạch xuất khẩu của 9 mặ
t hàng chủ lực của Đài Loan chiếm tới 67,8%
tổng kim ngạch xuất khẩu vào năm 1990
(3)
. Giá trị xuất khẩu của các mặt
hàng xuất khẩu chủ lực tăng mạnh sẽ là một nguồn quan trọng làm tăng tổng
kim ngạch xuất khẩu của quốc gia. Do vậy, nếu nước nào có được một cơ
cấu các mặt hàng xuất khẩu chủ lực phù hợp nhất với năng lực sản xuất và
xu thế phát triển kinh tế trong từng giai đoạn thì hoạt
động xuất khẩu của
nước đó sẽ đạt hiệu quả kinh tế cao nghĩa là thu được nhiều ngoại tệ, tăng
nhanh kim ngạch xuất khẩu và từ đó dẫn tới góp phần làm tăng ngân sách.
Bên cạnh đó, việc kim ngạch xuất khẩu tăng cũng tạo điều kiện cải thiện
đáng kể cán cân thương mại.
2.2. Mở rộng quy mô sản xuất trong nướ
c, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng CNH- HĐH
Việc xác định rõ được cơ cấu, số lượng và danh sách cụ thể các mặt hàng
xuất khẩu chủ lực sẽ giúp cho các nhà hoạch định chính sách đề ra những
chiến lược phát triển kinh tế phù hợp với tình hình hiện tại như quy hoạch,
mở rộng quy mô các vùng sản xuất nhằm phát huy tối đa hiệu quả sử dụng

(3)
"Đài Loan- nền kinh tế siêu tốc và bức tranh cho thế kỷ sau”- NXB chính trị quốc gia, Hà Nội 1997.

Khoá luận tốt nghiệp Nghiêm Thị Thu Hà


:
- Cầu về sản phẩm trên thị trường quốc tế;
- Lợi thế cạnh tranh có thể tạo ra được trong điều kiện nguồn lực quốc
gia trong từng giai đoạn phát triển.

(4)
Giáo trình kinh tế ngoại thương, trang 223.
Khoá luận tốt nghiệp Nghiêm Thị Thu Hà

7
Cơ sở lựa chọn thứ nhất này nói khác đi chính là quan điểm thứ hai trình
bày ở trên.
Vì vậy, xây dựng mặt hàng xuất khẩu chủ lực góp phần làm chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng có lợi hơn, quy mô sản xuất hiệu quả hơn. Bên
cạnh đó, yếu tố lợi thế cạnh tranh của một quốc gia không chỉ dựa vào
nguồn lực quốc gia có sẵ
n mà phải tạo ra các lợi thế, tất nhiên phải định
hướng và đầu tư dài hạn. Đặc biệt, lợi thế cạnh tranh của bất kỳ quốc gia
nào cũng luôn trong quá trình biến động và phát triển. Vì vậy, cơ cấu xuất
khẩu theo mặt hàng cũng phải thay đổi. Tính quy luật của sự thay đổi cơ cấu
sản phẩm xuất khẩu chủ lực là chuyển dần từ s
ản phẩm sử dụng nhiều lao
động rẻ không cần tay nghề cao như sản phẩm dệt, may, giầy da... sang các
sản phẩm xuất khẩu sử dụng nhiều lao động có tay nghề chuyên môn giỏi
như ngành hoá chất, sắt thép, điện tử, ô tô... , cuối cùng là chuyển sang sản
phẩm có hàm lượng vốn và công nghệ cao như cơ khí chính xác, tự động
hoá, thiết bị viễn thông, tin học, hàng điện tử nghe nhìn cao cấ
p... Chính quy
luật của sự thay đổi cơ cấu sản phẩm xuất khẩu chủ lực này là yếu tố quan
trọng kéo theo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH.

hàng chủ lực là một bộ phận lớn cấu thành trong hoạt động xuất khẩu nói
chung, cho nên nó cũng thực hiện chức năng quan trọng đó.
Thêm nữa, việc phát triển một ngành hàng xuất khẩu chủ lực thường đi
liền với việc lên kế hoạch, định hướng có quy mô và nhiều triển vọng chứng
tỏ đ
ó là một ngành hàng có sức cạnh tranh cao, điều này sẽ thu hút các nhà
đầu tư nước ngoài đầu tư vào.
2.4. Tạo điều kiện giữ vững, ổn định thị trường xuất khẩu và nhập khẩu
Với nhận thức rằng mặt hàng xuất khẩu chủ lực là con chủ bài trong nền
ngoại thương quốc gia, là mặt hàng có giá trị xuất khẩu mang tính chất
quyết định đối với t
ổng kim ngạch xuất khẩu, nên các quốc gia thường đưa
ra những chiến lược, định hướng sản xuất và xuất khẩu, đầu tư khoa học kỹ
thuật... để phát triển ngành hàng trong nước, nâng cao chất lượng, mẫu mã,
chủng loại mặt hàng, nhờ thế mà mặt hàng xuất khẩu chủ lực của một quốc
gia có thể thâm nhập và khẳng định vị trí của mình tại thị trườ
ng nước
ngoài, hay nói khác đi nó góp phần giữ vững thị trường xuất khẩu.
Một hệ quả tích cực của tác dụng này là sự củng cố vị trí của mặt hàng
xuất khẩu ở thị trường nước ngoài sẽ tạo nên một uy tín quốc gia trên thị

(5)
Tạp chí Cộng sản số 14 (7/2001), trang 25.
Khoá luận tốt nghiệp Nghiêm Thị Thu Hà

9
trường đó, do đó kéo theo sự xuất khẩu của các mặt hàng khác sang thị
trường nước ngoài đó. Như vậy, việc xuất khẩu các mặt hàng chủ lực không
chỉ giữ vững thị trường cho mặt hàng đó mà còn góp phần mở rộng thị
trường xuất khẩu.


10
3. Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam hiện nay
Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ buôn bán với 160 nước và vùng lãnh
thổ, có hiệp định thương mại với trên 70 nước mà gần đây nhất là việc ký
hiệp định thương mại với Hoa Kỳ. Riêng trong lĩnh vực xuất khẩu chúng ta
đã có những mặt hàng xuất khẩu chủ lực, kim ngạch xuất khẩu ngày càng
tăng. Trong 10 năm qua, kim ngạch xu
ất khẩu tăng 5,6 lần, từ 2,4 tỷ USD
năm 1990 lên 14,308 tỷ USD năm 2000, bình quân hàng năm tăng 18,4%.
Cơ cấu hàng xuất khẩu cũng có nhiều chuyển biến tích cực theo hướng tăng
dần tỷ trọng hàng đã qua chế biến. Nếu như hàng nguyên liệu thô năm 1991
chiếm trên 92% thì nay chỉ còn chiếm khoảng 60% kim ngạch xuất khẩu.
Hàng chế biến ( trong đó có hàng chế tạo) năm 1991 chiếm khoảng 8%,

m 1999 tăng lên khoảng 40%; nhóm hàng nông -lâm - thuỷ hải sản năm
1991 chiếm 53% đến nay xuống còn 36,5%; nhóm hàng tiểu thủ công
nghiệp năm 1991 chiếm 47% đã tăng lên 63,5% trong tổng kim ngạch xuất
khẩu năm 2002.
Bảng 1:Danh sách các mặt hàng xuất khẩu chủ lực Việt Nam
Số
TT
Mặt hàng
1991-
1992
1993
1994-
1995
1996
1997-

hàng thủ công mỹ nghệ và rau quả).
II. MỘT SỐ TỒN TẠI TRONG XUẤT KHẨU CÁC MẶT HÀNG CHỦ
LỰC C
ỦA VIỆT NAM HIỆN NAY
Công cuộc đổi mới quản lý kinh tế ở nước ta trong vòng 15 năm qua đã
giành được nhiều thắng lợi có tính chiến lược, tạo tiền đề và điều kiện để
nước ta hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới. Là một bộ phận cấu
thành của nền kinh tế đất nước, hoạt động xuất khẩu đã góp ph
ần xứng
đáng vào những thành tựu to lớn, rất quan trọng mà toàn Đảng, toàn dân đã
giành được trong thời kỳ đổi mới nói chung và trong hơn mười năm qua nói
riêng.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đó hoạt động xuất khẩu hàng hoá
nói chung và đặc biệt là xuất khẩu mặt hàng chủ lực vẫn còn bị hạn chế do
những tồn tại sau:
1. Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp còn kém
Khoá luận tốt nghiệp Nghiêm Thị Thu Hà

12
1.1. Năng lực cạnh tranh không ổn định
Năng lực cạnh tranh nói chung được thể hiện trên 3 cấp độ: quốc gia,
doanh nghiệp và sản phẩm. Một quốc gia đạt được lợi thế cạnh tranh nếu
những doanh nghiệp của nước đó xây dựng được năng lực cạnh tranh. Vì
chính doanh nghiệp chứ không phải quốc gia cạnh tranh vào thị trường quốc
tế. Doanh nghiệp sẽ có được n
ăng lực cạnh tranh thông qua hoạt động đổi
mới sáng tạo. Điều kiện để doanh nghiệp xây dựng được năng lực cạnh
tranh và thành công trên thị trường thế giới tập trung vào 4 yếu tố chính: yếu
tố sản xuất (vị thế của quốc gia trong lĩnh vực sản xuất như lao động có tay
nghề và cơ sở hạ tầng), nhu cầu thị trường (những khách hàng tinh tế

trường khó tính, đòi hỏi chất lượng cao.
Vị trí năng lực cạnh tranh của Việt Nam thấp là do hầu hết các chỉ số
thành phần đều thấp. Các chỉ số thấp nhất của Việt nam là 74 (công nghệ
thông tin), 68 (công nghệ và tham nhũng), 67 (chiến lược và hoạt động
doanh nghiệp). Đặc biệt số liệu về chi
ến lược và hoạt động doanh nghiệp là
chỉ tiêu quan trọng thể hiện sự hoạt động lâu dài của doanh nghiệp. Chiến
lược hoạt động lâu dài của doanh nghiệp thể hiện tầm nhìn chiến lược của
doanh nghiệp. Hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam đều chưa có một chiến
lược kinh doanh lâu dài, có tầm nhìn chiến lược mà chủ yếu làm theo cách
“ăn xổi ở thì”.
1.2. Nhận thức hạn ch
ế, thiếu thông tin về thị trường thế giới
Một trong những nguyên nhân khiến năng lực cạnh tranh của Việt Nam
còn thấp là do nhận thức và hiểu biết về sự cần thiết của cạnh tranh trong
nền kinh tế thị trường của các doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế. Đa số
các doanh nghiệp chưa biết các luật lệ cạnh tranh quốc tế, yếu về tiếp cậ
n thị
trường, thiếu thông tin về nhu cầu thị trường, công nghệ sản xuất lạc hậu
dẫn đến năng suất và chất lượng còn thấp.
Trong thời điểm hiện nay, khi mà hội nhập kinh tế khu vực và thế giới là
điều không tránh khỏi của bất kỳ quốc gia nào. Điều này có nghĩa là sự cạnh
tranh trên thị trường quốc tế và thậm chí là ở cả th
ị trường trong nước ngày
càng trở nên khốc liệt hơn rất nhiều thì còn nhiều doanh nghiệp vẫn chưa có
Khoá luận tốt nghiệp Nghiêm Thị Thu Hà

14
tinh thần chuẩn bị cao. Nhiều doanh nghiệp chưa nắm thông tin về hội nhập.
Theo báo cáo của Ban kinh tế Trung ương thì có 16% doanh nghiệp được


15
Điều này còn có thể thấy qua việc hiện nay Việt Nam là nước xuất
khẩu gạo nhiều thứ hai thế giới nhưng hạt gạo của chúng ta vẫn chưa có một
cái tên gọi chính thức trong khi đó gạo của Thái Lan đã được đăng ký bảo
hộ trên toàn thế giới.
1.4. Hoạt động quảng bá và giới thiệu về sản phẩm chưa đạt hiệu quả
Hoạt
động giới thiệu thông tin và quảng bá về sản phẩm của các doanh
nghiệp xuất nhập khẩu Việt nam còn yếu và thiếu tính chuyên nghiệp. Các
doanh nghiệp không có hoặc thiếu cán bộ giỏi, có năng lực phân tích và dự
báo tình hình kinh tế, thị trường nhất là tiếp cận thị trường quốc tế để có
được những định hướng và chiến lược kinh doanh phù hợp với từng giai
đoạn và thời kỳ.
Mộ
t số doanh nghiệp nếu có mạnh dạn tham gia các triển lãm, hội chợ
quốc tế ở nước ngoài thì chỉ giới thiệu hàng hoá của mình một cách âm thầm
tại gian hàng mà chưa biết khuyếch trương mặt hàng và tạo ra sự bất ngờ,
thu hút người tiêu dùng cũng như các nhà nhập khẩu, hãng phân phối lớn
của nước bạn. Các hình thức quảng cáo thì đơn điệu tẻ nhạt và hầu như
không mang lạ
i hiệu quả mong muốn.
2. Năng suất, chất lượng hàng xuất khẩu chưa cao và không ổn định
Việt Nam đang hướng nền kinh tế phát triển theo hướng tập trung đẩy
mạnh xuất khẩu song do quy mô sản xuất còn nhỏ, manh mún, không tập
trung, chưa có sự liên kết chặt chẽ giữa sản xuất và các nhà xuất khẩu nên
năng suất thấp và chất lượng không ổn định ( nhất là hàng nông sản như

gạo, rau quả, cà phê...)
Một trong những yếu điểm của hàng hoá Việt Nam là chất lượng chưa

1 tỷ USD. Hàng thuỷ sản Việt Nam xuất sang các thị trường lớn như EU,
Nhật Bản, Mỹ... Đây là những thị trường có đòi hỏi rất khắt khe về yêu cầu
chất lượng và an toàn thực phẩm. Thuỷ sản Việt Nam đang dần lấy lòng tin
của người tiêu dùng nước ngoài, tuy nhiên vẫn còn tình trạng bị trả lại hàng
do dư lượng thuốc kháng sinh trong các chế phẩ
m cao hơn mức cho phép.
Đây là lỗi của các nhà chế biến do chưa thông hiểu và thiếu sự nghiêm ngặt
Khoá luận tốt nghiệp Nghiêm Thị Thu Hà

17
trong khâu kiểm tra chất lượng sản phẩm trước khi xuất, làm các nhà nhập
khẩu không thật sự yên tâm khi nhập hàng thuỷ sản của Việt Nam .
3. Hiệu quả kinh tế thấp
Hàng Việt Nam được xuất khẩu chủ yếu dưới dạng nguyên liệu thô, lại
xuất khẩu qua nhiều khâu trung gian nên nhìn chung giá bán thấp hơn giá
của thị trường quốc tế và khu vực trong khi chi phí cho một đơn vị sản phẩm
cao h
ơn các nước trong khu vực dẫn đến giá thành cao do đó hiệu quả kinh
tế thấp, lợi nhuận thu được không được như mong muốn.
Thêm vào đó là khâu tổ chức quản lý xuất khẩu không tốt dẫn đến tình
trạng tranh bán. Các đối tác nước ngoài lợi dụng điều này để ép giá làm cho
giá bán giảm dẫn đến thiệt cho cả người sản xuất (chủ yếu là người nông
dân) cũng như nhà xuất khẩu. Tình tr
ạng này xảy ra chủ yếu đối với các mặt
hàng nông sản như gạo, cà phê, nhân điều..., một phần là do tính chất thời
vụ của hàng nông sản, thêm vào đó là do khâu bảo quản của các doanh
nghiệp xuất khẩu còn kém.
4. Thiếu am hiểu về pháp luật và tập quán mua bán quốc tế
Điểm yếu của các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam hiện nay là trình độ
chuyên môn về kinh doanh xuất nhập khẩ

cạnh tranh nặng ký như Trung Quốc, Thái Lan... trong lĩnh vực sản xuất và
xuất khẩu các mặt hàng công nghiệp nhẹ vốn là thế mạnh của Việt Nam.
Trung Quốc có lợi thế về giá nhân công rẻ, nguyên liệu dồi dào và có sự hỗ
trợ rất lớn của Chính phủ trong xuất khẩu. Thái Lan lại là mộ
t nước đi trước
trong nền kinh tế thị trường nên họ có kinh nghiệm hơn ta trong việc tổ chức
sản xuất, chế biến cũng như chiến lược phân phối lưu thông hàng hoá đi các
thị trường quốc tế.
Không chỉ cạnh tranh với các nước láng giềng trong khu vực, hàng hoá
của Việt Nam còn phải chịu sức ép về thuế và cả vấn đề pháp lý cũng như
thương hi
ệu đối với các sản phẩm cùng loại ở nước nhập khẩu mà vụ án cá
Basa( Catfish) ở Hoa Kỳ là một minh chứng cụ thể nhất.
5.2. Hạn ngạch
Bên cạnh đó, hàng Việt Nam vào các thị trường Châu Âu lại phải chịu
hạn ngạch như dệt may, giày dép, thuỷ sản...và chủ yếu là hàng gia công nên
giá trị thu được thấp, kim ngạch chưa cao, không phát huy hết được công
Khoá luận tốt nghiệp Nghiêm Thị Thu Hà

19
suất, năng lực sản xuất. Nhiều doanh nghiệp dệt may, da giày chỉ có việc
một thời gian hoặc nửa năm do đã xuất hàng đủ hạn ngạch được giao.
5.3. Tình hình chính trị quốc tế
Tình hình chính trị thế giới hiện nay rất phức tạp. Chiến tranh I-rắc,
khủng bố ở Mỹ và Trung Đông, xung đột sắc tộc ở các nước SNG gây mất ổn
định tình hình kinh tế xã hội
ở một số khu vực đã làm giảm nhu cầu tiêu dùng
của người dân dẫn đến giảm kim ngạch xuất nhập khẩu của một số quốc gia
liên quan.
III. CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI XUẤT KHẨU MẶT

thức hội nhập đặt ra mứ
c độ lợi ích thu được từ đó cũng rất khác nhau giữa
các nước. Tiến trình, cách thức hội nhập là đặc thù cho mỗi quốc gia.
Trong bối cảnh hợp tác kinh tế toàn cầu hiện nay, việc tham gia vào các
tổ chức kinh tế quốc tế là một bước đi đúng đắn. Chủ động hội nhập còn nhằm
nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá, chủ động tìm kiếm thị trường
mới.
2. Cơ hội
2.1. Ưu đãi về thuế quan
Có thể nói trong thập kỷ 90,Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu nổi
bật trong tiến trình hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới, khởi đầu bằng
việc gia nhập khu vực tự do thương mại ASEAN (AFTA) và bình thường
hoá quan hệ với Hoa Kỳ năm 1995, là thành viên của ASEM vào năm 1996
và của APEC vào năm 1998. Nước ta cũng
đã trở thành quan sát viên của tổ
chức thương mại thế giới -WTO từ năm 1995. Từ đó đến nay, chúng ta cũng
đã ký được một số hiệp định, thoả thuận thương mại song phương với nhiều
quốc gia là thành viên của WTO như Nhật Bản, EU...và đang tiếp tục đàm
phán với các thành viên khác để chuẩn bị gia nhập WTO. Như vậy, Việt
Nam sẽ ngày càng được hưởng nhữ
ng ưu đãi về thuế cho hàng hoá xuất
khẩu của mình từ các thị trường lớn như Nhật Bản, EU, Bắc Mỹ...
Theo lộ trình AFTA, chậm nhất là tới 2006, các nước thành viên
ASEAN sẽ phải cắt giảm mức thuế nhập khẩu xuống chỉ còn 0-5% đối với
hàng hoá của các nước trong khu vực. Hàng hoá của Việt Nam nếu có khả
Khoá luận tốt nghiệp Nghiêm Thị Thu Hà

21
năng cạnh tranh cao thì đây sẽ là một thuận lợi lớn trong việc chiếm lĩnh thị
trường Đông Nam Á vì đây là một thị trường khá lớn, dễ tính và gần với

Khoá luận tốt nghiệp Nghiêm Thị Thu Hà

22
sản, dệt may, da giầy...) thâm nhập được vào nhiều thị trường mới như Châu
Phi, Trung Đông, Bắc Mỹ...
2.3. Cải thiện vị thế thương mại trên thị trường quốc tế
Trong những năm gần đây, Việt Nam nổi lên là một nước xuất khẩu hàng
nông lâm thuỷ sản lớn trên thị trường thế giới với các mặt hàng gạo( thứ hai
thế giới), hạt tiêu (
đứng đầu thế giới), nhân điều, cà phê, thuỷ sản...Do đó,
Vị thế của Việt nam trên thị trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Hiện
nay, Việt nam đã là thành viên của Hiệp hội các nước sản xuất cà phê, chè,
tiêu...Việt nam cũng có chân trong Ban Thư ký gạo gồm năm nước xuất
khẩu gạo hàng đầu thế giới. Sắp tới, Việt Nam có ý định xin gia nhập Tổ
chức Cao su Quốc t
ế 3 bên (ITRO). Điều này cũng có nghĩa là các doanh
nghiệp của ta khi xuất khẩu sẽ được bảo vệ tốt hơn về mặt quyền lợi về giá
bán, về thông tin tình hình thị trường thế giới nhằm giảm thiểu những rủi ro
trong kinh doanh.
3. Thách thức
3.1. Cạnh tranh khốc liệt với các nước trong khu vực
Tuy nhiên, đi đôi cùng với những thuận lợi bao giờ cũng là những khó
khă
n, thách thức. Việt Nam đang nằm trong khu vực kinh tế tăng trưởng
mạnh và năng động. Các nước ASEAN với những nguồn tài nguyên tương
đồng như ta có thế mạnh trong sản xuất và xuất khẩu hàng hoá giống Việt
nam. Đặc biệt họ còn có lợi thế là tham gia thị trường quốc tế sớm hơn. Do
vậy, hàng hoá Việt Nam muốn đứng vững và phát triển được trên thị trường
thế giới thì ph
ải cạnh tranh khốc liệt với hàng hoá của các nước ASEAN

ngoại thương nhất là xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của Việt Nam nhằm
tăng kim ngạch xuất khẩu mang lại nguồn thu cho ngân sách để từng b
ước
Việt Nam thực hiện công cuộc CNH- HĐH đất nước.

Khoá luận tốt nghiệp Nghiêm Thị Thu Hà

24
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG XÂY DỰNG CÁC MẶT HÀNG CHỦ LỰC
CỦA VIỆT NAM

I. HIỆN TRẠNG XÂY DỰNG CÁC MẶT HÀNG XUẤT KHẨU CHỦ
LỰC CỦA VIỆT NAM
1. Chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng các mặt hàng xuất
khẩu chủ lực của Việt Nam
Việc đưa ra chiến lược phát triển kinh tế “hướng về xuất khẩu” mà mục
tiêu chủ yếu là xây dựng cho đượ
c một cơ cấu mặt hàng xuất khẩu chủ lực
phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của Việt Nam là vô cùng quan trọng.
Chiến lược tăng trưởng dựa vào xuất khẩu thực chất là chiến lược phát triển
kinh tế. Nó không phải là nhiệm vụ của một ngành cụ thể mà nó là nhiệm vụ
của nhiều ngành kinh tế, dịch vụ khác. Nó không phải chỉ là nhiệm vụ c
ủa
cơ quan xuất nhập khẩu mà còn là của cơ quan quản lý, cơ quan sản xuất...
Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra một số chính sách nhằm hỗ trợ và
đẩy mạnh hoạt động xây dựng các mặt hàng xuất khẩu chủ lực như sau.
1.1. Chính sách xây dựng cơ cấu hàng xuất khẩu chủ lực
Nhân tố quyết định quy mô, nhịp độ xuất khẩu hàng hoá là cơ cấu hàng
xu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status