Chính sách quản lý ngoại thương trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và vấn đề hoàn thiện pháp luật của việt nam - Pdf 13


BỘ CÔNG THƯƠNG
_______________
ĐỀ TÀI NCKH CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ NGOẠI THƯƠNG TRONG
BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ VẤN
ĐỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT CỦA VIỆT NAM Chủ nhiệm đề tài:

Các thành viên:

Th.s Nguyễn Sinh Nhật Tân

Th.s Phạm Đình Thưởng
Th.s Nguyễn Việt Hùng
Th.s Bùi Bình Giang
Th.s Ngô Đức Minh
C.N Nguyễn Đức Hạnh
C.N Vũ Thị Vân Nga
C.N Trần Trung Hiếu
C.N Hoàng Thị Hải Hà

1.2.2 Chính sách phi thuế quan 15
1.2.3 Các biện pháp phòng vệ thương mại 24
1.2.4 Chính sách xúc tiến xuất khẩu 31
Chương 2: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ
NGOẠI THƯƠNG CỦA VI
ỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ
QUỐC TẾ
34
2.1 Hệ thống chính sách, pháp luật về quản lý ngoại thương của Việt Nam hiện nay
34
2.1.1 Định hướng phát triển ngoại thương 34
2.1.2 Hệ thống chính sách, pháp luật về quản lý ngoại thương của Việt Nam 36
2.2 Những cam kết quốc tế liên quan đến ngoại thương
61
2.2.1 Hệ thống các cam kết quốc tế của Việt Nam 61
2.2.2 Các nội dung cam kết liên quan đến ngoại thương 62
2.2.3 Những đối xử đặc biệt và khác biệt trong các hiệp định dành cho Việt Nam 79
Chương 3: HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VÀ THỂ CHẾ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
NGOẠI THƯƠNG CỦA MỘT SỐ NƯỚC VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
94
3.1 Hệ thống pháp luật ngoại thương của một số nước trên thế giới
94
3.1.1 Hệ thống pháp luật quản lý hoạt động ngoại thương ở Hoa Kỳ 94
3.1.2 Các nước có luật ngoại thương 96
3.2 Mô hình các cơ quan quản lý nhà nước về ngoại thương của một số nước trên
thế giới
107
3.2.1. Mô hình của Thái Lan 107
3.2.2. Mô hình của Ấn Độ 109
3.2.3 Mô hình của Trung Quốc 111
Chính sách quản lý ngoại thương trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và vấn đề hoàn thiện pháp luật của Việt Nam 1
LỜI NÓI ĐẦU

Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế,
cụ thể là suốt quá trình đàm phán gia nhập WTO từ năm 1995, Việt Nam đã liên tục
cải thiện chính sách, công cụ pháp luật để thực hiện quản lý các mặt của nền kinh tế
phù hợp với điều kiện hội nhập, nhất là chính sách ngoại thương.

Sau khi gia nhập WTO, Việt Nam vẫ
n đang nỗ lực hoàn thiện chính sách quản
lý nhà nước về thương mại, đặc biệt là thương mại quốc tế để tận dụng cơ hội hội
nhập đồng thời hạn chế những bất lợi về vị thế và năng lực cạnh tranh trong thương
mại quốc tế. Tuy nhiên, thực tiễn công tác quản lý nhà nước về thương mại cho thấy
Việt Nam ch
ưa có một hệ thống công cụ pháp luật hoàn chỉnh để điều hành xuất
khẩu, nhập khẩu, tận dụng những công cụ được WTO cho phép để tạo dựng các biện
pháp tự vệ thương mại và những hàng rào cần thiết để bảo vệ sản xuất trong nước,
chưa tận dụng được những đối xử khác biệt và đặc biệt mà WTO dành cho các nước
đang phát triển. Sau khi Lu
ật Thương mại 2005 ra đời, công tác điều hành xuất nhập
khẩu đã có những bước cải tiến rõ rệt, minh bạch hơn và tạo thuận lợi cho thương
mại hơn, song vẫn còn nhiều văn bản quy phạm tản mạn, rải rác ở nhiều khâu, nhiều
lĩnh vực rời rạc mà không nằm trong hệ thống chung.

Sự thiếu sót của các công cụ pháp luật để thực hi


2
sản xuất trong nước (kể cả về kỹ thuật, công nghệ) để khuyến khích xuất khẩu theo
hướng tăng sức cạnh tranh (ví dụ các địa phương đề xuất hỗ trợ giống lúa, giống mía,
công nghệ sau thu hoạch… nhưng chưa có… cơ chế).
- Về nhập khẩu hàng hóa, chúng ta chưa kiểm soát được tình trạng hàng nhập
khẩu, thể hiện ở ba điểm chính. Một là, chưa ki
ểm soát được kim ngạch nhập khẩu,
bao gồm kim ngạch nhập khẩu chung một cách cập nhật và kim ngạch nhập khẩu
theo từng mặt hàng có khả năng ảnh hưởng đến ngành công nghiệp trong nước. Hai
là, chưa kiểm soát được chất lượng hàng nhập khẩu, nhất là hàng có xuất xứ từ Trung
Quốc. Ba là, chưa kiểm soát được khả năng bán phá giá hoặc trợ cấp của hàng nhập
khẩu vào thị tr
ường Việt Nam. Do vậy, chúng ta đặt ra các sắc thuế nhập khẩu đa số
dựa trên thực hiện cam kết mà không phải dựa trên tính toán kinh tế và cũng chưa sử
dụng được các công cụ tự vệ thương mại. Hệ quả của những hạn chế này là không
kiểm soát được thâm hụt thương mại hàng hóa và thâm hụt cán cân vãng lai, dễ dẫn
đến lạm phát và khủng hoảng, nhân dân phải tiêu dùng sản phẩm độc h
ại, doanh
nghiệp phải chịu cạnh tranh không lành mạnh với nước ngòai ngay trên thị trường
nội địa.
- Về thương mại dịch vụ: Ngoài các quy định trong các ngành dịch vụ kinh
doanh có điều kiện, hiện chúng ta chưa có các quy định nhằm thực hiện quản lý xuất,
nhập khẩu dịch vụ, nhất là theo các mode 1 và 4.
- Bên cạnh đó, do không có một chiến lược quản lý ngoại thương thống nhất,
minh bạch, lâu dài nên các doanh nghi
ệp thường phải chịu những quyết định “bất
ngờ” của cơ quan quản lý nhà nước. Ví dụ, việc cấp phép tự động được thực hiện đối
với một số mặt hàng tiêu dùng nhưng được thực hiện gấp làm cho rất nhiều hàng hóa
về đến cảng nhưng không được khai báo hải quan, gây thiệt hại cho doanh nghiệp

thương và nghiên cứu cơ bản các công cụ quản lý ngoại thươ
ng tạo cơ sở đánh giá
thực trạng của Việt Nam. Đề tài nghiên cứu và đánh giá thực trạng hệ thống chính
sách và pháp luật hiện hành liên quan đến quản lý ngoại thương để chỉ ra những tồn
tại, đồng thời nghiên cứu chính sách, pháp luật và hệ thống cơ quan quản lý nhà
nước về ngoại thương của một số nước để rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
4.
Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở áp dụng những phương pháp nghiên cứu chung trong khoa học xã
hội, Nhóm nghiên cứu sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
• Phương pháp lịch sử

Đề tài nghiên cứu một lĩnh vực chính sách, pháp luật kinh tế được áp dụng
trong thực tiễn, do vậy cần thiết phải sử dụng phương pháp lịch sử để tổng hợp vấn
đề trong mộ
t khoảng thời gian dài. Sử dụng phương pháp này,

• Phương pháp điển cứu (nghiên cứu trường hợp)

Để rút ra bài học kinh nghiệm, Đề tài sử dụng phương pháp này để nghiên cứu
một số trường hợp đã xảy ra trong thực tiễn phản ánh những tồn tại, bất cập của các
quy định hiện hành.

• Phương pháp toán học

Để có thể đánh giá các số liệ
u nghiên cứu cũng như đánh giá về mặt lý thuyết
tính hiệu quả của chính sách, Đề tài sử dụng phương pháp toán học để phân tích và
đưa ra những đánh giá những công cụ được sử dụng trong quản lý ngoại thương.
5. Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước

nước này.

- Tên : Trade policies and Economic Growth
Tác giả: Francisco Rodriguez (University of Maryland) and Dani Rodrik
(Kennedy School of Government – Havard University) 2000

Đề tài sử dụng các thước đo, tính toán kinh tế để đo đạc ảnh hưởng của các
chính sách ngoại thương lên tăng trưởng kinh tế. Cơ sở dữ liệu được tập hợp dựa trên
số liệu của hầu hết các quốc gia đã tham gia WTO và một số không tham gia WTO,
được chia thành các khu vực kinh t
ế tại cả 5 châu lục.
* Nghiên cứu trong nước:
Trong nước, đã có một số công trình nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau
của chính sách kinh tế nói chung và chính sách ngoại thương nói riêng, tuy nhiên
chưa có nghiên cứu nào toàn diện về hệ thống pháp luật liên quan đến ngoại thương,
cụ thể có một số nghiên cứu sau:
- David O. Dapice: “Chính sách kinh tế của Việt Nam từ năm 2001” (2003):
đây là nghiên cứu nhiều mặt về chính sách kinh tế của Việt Nam tuy nhiên ở mức
độ
cơ bản và ngắn gọn. Đề cập đến chính sách ngoại thương, nghiên cứu này chỉ nêu ra
những khía cạnh cơ bản mà chưa có đề xuất cụ thể về cải cách pháp luật.
- Luận án Tiến sĩ Kinh tế cấp Nhà nước “Điều chỉnh chính sách thương mại
của các nước đang phát triển ở Châu Á trong mối quan hệ với công nghiệp hoá, hiện
đại hoá và hội nhập kinh tế
quốc tế - Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam”. (NCS
Phạm Thị Hồng Yến) Ngày 15/9/2008.
Nghiên cứu tìm hiểu kinh nghiệm điều chỉnh chính sách thương mại của một
số nước đang phát triển ở châu Á trong quá trình CNH, HĐH và hội nhập KTQT và
rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam cũng như đề xuất phương hướng và
giải pháp vận dụng các kinh nghiệm đó vào điều chỉnh chính sách thươ

thương;
- Chỉ ra những tồn tại, bất cập của pháp luật hiện hành về ngoại thương của
Việt Nam;
- Chỉ ra những nội dung cam kết và đối xử khác bi
ệt và đặc biệt dành cho Việt
Nam trong các cam kết quốc tế;
- Kiến nghị những giải pháp cụ thể để hoàn thiện hệ thống pháp luật làm công
cụ thực hiện chính sách ngoại thương.

Chính sách quản lý ngoại thương trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và vấn đề hoàn thiện pháp luật của Việt Nam 6
Chương 1
NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG VÀ
CÁC CÔNG CỤ ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG NGOẠI THƯƠNG

1.1 Chính sách ngoại thương hiện đại
1.1.1 Xu hướng chính sách ngoại thương được áp dụng trên thế giới
Xét trên khía cạnh lịch sử kinh tế, trong những thập kỷ gần đây, hầu hết các
quốc gia đang phát triển đều sử dụng một trong hai chính sách (chiến lược) ngoạ
i
thương chính, đó là (1) công nghiệp hóa thế nhập khẩu (import substituting
industrialization) và (2) công nghiệp hóa hướng xuất khẩu (export-oriented
industrialization).
1

Trên phương diện lý thuyết, các chiến lược này đòi hỏi các quốc gia thực hiện
các yêu cầu cụ thể khác nhau xuất phát từ những đặc điểm của từng chiến lược
(Bảng 1).

Tạo nhiều công ăn việc làm
Mặt trái
Hạn chế mức độ cạnh tranh
Thị trường các yếu tố đầu vào bị méo
mó, thiếu hụt.
Chi phí hành chính tăng cao.
Thâm hụt cán cân thương mại kéo dài
(do duy trì nhập khẩu trong nhiều năm).
Ảnh hưởng lớn của các nhóm lợi ích.
(Các ngành công nghiệp non trẻ từ chối
“trưởng thành”).
Thiếu thông tin nhiều mặt về
thị trường, đối tác
Gặp phải vấn đề tiếp cậ
n thị
trường (do các đối tác dựng rào
cản)
Khó khăn tạo sự lan tỏa lợi ích
trong nền kinh tế (khó để thuyết
phục các nhóm lợi ích về tự do
hóa thương mại)

1
Chang Ha Joon,(2002), “Kick away the development ladder”, Antchem Press London 2002.
Chính sách quản lý ngoại thương trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và vấn đề hoàn thiện pháp luật của Việt Nam 7
Phát triển sản xuất thay thế nhập khẩu là một hướng chiến lược chủ chốt của
các nước đang phát triển từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến những năm giữa thập

Biểu đồ 1: Hàng rào thuế quan tại các nước đang phát triển 1980-1999

Nguồn: World Bank (2001) 2
Xem CHANG Ha Joon,(2002), « Kick away the development ladder », Antchem Press London 2002.
Chính sách quản lý ngoại thương trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và vấn đề hoàn thiện pháp luật của Việt Nam 8
Trên thực tế, hầu hết các quốc gia bám chặt lấy hệ thống chính sách phát triển
này đều đã thất bại. Từ những năm 1950 cho đến những năm của thập kỷ 70, người
dân Ấn Độ chỉ thấy thu nhập của họ tăng vài phần trăm (ví dụ của Ấn Độ phản ánh
tình trạng chung của các nước Nam Á). Các nước Châu Mỹ latin có nước ở trong
tình trạng cải thi
ện hơn chút ít (Braxin) nhưng cũng có nước trước đó được xếp hạng
là nước giàu phải chứng kiến thu nhập trên đầu người của họ sụt giảm(Áchentina)
cho đến khi những cải cách ngoại thương được áp dụng. Tại Châu Mỹ Latin
3
, chỉ có
duy nhất một nước đã vươn lên để trở nên giàu có hơn là Chilê do đã có một bước
chuyển hướng chiến lược vào giữa những năm 70: dưới sự độc tài của giới quân sự,
đặc biệt của tướng Pinôchê, đất nước Chilê gặp phải rất nhiều khó khăn do kinh tế
suy giảm nghiêm trọng (giá của nhôm – sản phẩm xuất khẩu duy nhất của Chilê đã
sụt gi
ảm nghiêm trọng). Tuy nhiên, dưới ảnh hưởng của một nhóm các nhà kinh tế
học theo trường phái Chicago, chính sách ngoại thương của Chilê đã sang một bước
hoàn toàn khác: các hàng rào thuế quan được hạ xuống triệt để, tỉ trọng xuất nhập
khẩu tăng cao. Kể từ sau các cuộc cải cách đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Chilê

không? Tự do hóa thương mại có phải là lời giải cho phát triển kinh tế thần kỳ hay
không? Các nghiên cứu thực nghiệm (empirical studies) đều cho các kết quả không
rõ ràng
5
: Hoặc là các nước HPAEs đều hạ hàng rào thuế quan nhưng không triệt tiêu

3
Rajagopal(2003),Institutional reforms and Trade competitiveness in Latin America, Institute of Technology
and Higher Education, Mehico.
4
High Performance Asian Economies.
5
Xem Krugman. P, Osfeld. M, International Economic. Theory and Policy. 7th Edition, Addison and Wesley
Publisher.
Chính sách quản lý ngoại thương trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và vấn đề hoàn thiện pháp luật của Việt Nam 9
hoàn toàn hoặc tất cả các nước đều sử dụng các biện pháp phi thuế quan (TBT, SPS)
khác để hạn chế ngoại thương (Biểu đồ 2):
Biểu đồ 2: Xu hướng tăng sử dụng hàng rào kỹ thuật/Xu hướng giảm thuế quan
tại các nước phát triển và đang phát triển

Ngoài ra, nhiều nghiên cứu cho rằng việc áp dụng rập khuôn các mô hình phát
triển chưa chắc đã mang lại hiệu quả tốt nhất cho nền kinh tế. Theo đó, việc tốt nhất
mà các nước đang phát triển có thể làm là áp dụng các công cụ chính sách ngoại
thương một cách tốt nhất trong hoàn cảnh của các nước đó thông qua các thể chế
hiện có. Một bước đột phá trong hiệu quả sử dụng các công cụ củ
a chính sách ngoại
thương chỉ có thể thông qua sự cải cách các thể chế hiện có (tăng cường năng lực, sự


10
10.000 tỉ USD). Ngoài ra, việc đưa yếu tố dịch vụ vào khuôn khổ luật pháp thương
mại quốc tế - GATT (GATS) cũng là một bằng chứng cho thấy thương mại dịch vụ
là một phần không thể tách rời của ngoại thương
8
.
1.1.3 Một số quan điểm về chính sách ngoại thương
Các nghiên cứu về ngoại thương thường được thực hiện xung quanh ba khu
vực nghiên cứu chính: (a) lý thuyết về ngoại thương; (b) các nghiên cứu thực
nghiệm; (c) chính sách ngoại thương. Khu vực nghiên cứu đầu tiên nhằm mang đến
hiểu biết một cách sâu sắc, cơ bản về ngoại thương thông qua những mô hình được
cấu trúc chặt chẽ và những giả thuy
ết chuyên biệt. Khu vực nghiên cứu thứ hai nhằm
mục đích khảo nghiệm những tìm tòi do khu vực nghiên cứu thứ nhất đã tìm ra,
nghiên cứu các dòng thương mại toàn cầu hoặc tìm ra các mối quan hệ giữa các chỉ
số kinh tế quan trọng với vai trò của ngoại thương. Về khu vực thứ ba, nghiên cứu
chính sách ngoại thương – như mọi chính sách kinh tế khác của Chính phủ, nhằm
mục đích phân tích các can thiệp trực ti
ếp hay gián tiếp của Chính phủ vào môi
trường buôn bán hàng hóa, dịch vụ quốc tế. Những phân tích này thường đưa đến kết
luận về những nhóm được hưởng lợi (winners) và những nhóm chịu thiệt thòi
(losers) từ hoạt động ngoại thương sau khi có sự can thiệp của hệ thống chính sách
ngoại thương của Chính phủ. Nói như vậy, chính sách ngoại thương là một hệ thống
mở: chúng chịu ảnh hưở
ng của các lợi ích từ các nhóm khác nhau của nền kinh tế và
do vậy, phải phản ánh được những lợi ích của các nhóm này trong nội hàm của các
chính sách.
Hiện nay, cách hiểu về chính sách ngoại thương rất phong phú, phụ thuộc rất
lớn vào góc nhìn của các đối tượng nghiên cứu chúng. Tựu chung lại, có thể tập hợp

phương) làm giảm hiệu quả quản lý rõ rệt, thậm chí “khai tử” nhiều công cụ chính
sách áp dụng tại biên giới; chính sách thương mại phải đối mặt với độ phức tạp gia
tăng với sự giao thoa chặt chẽ với các lĩnh vực chính sách khác như khoa học công
nghệ (an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường), với xu hướng tiêu dùng (bảo vệ súc
vật, lao động trẻ em), với văn hóa – xã hội (phát tri
ển bền vững, nhận dạng văn hóa,
các tiêu chuẩn lao động ). Và như là một kết quả tất yếu, chính sách ngoại thương
đã được mở rộng đến những câu hỏi tưởng chừng hoàn toàn nằm ngoài phạm vi
nghiên cứu như: Việc hạn chế buôn bán một số loài thủy sản thông qua áp đặt các
phương pháp đánh bắt có được lý giải hợp lý bởi sự bảo vệ các loài đó khỏi s
ự nguy
hiểm hay không? Việc yêu sách một số đối tác xuất khẩu (các nước đang phát triển)
phải đáp ứng các tiêu chuẩn về lao động (nhất là về lao động trẻ em, an toàn lao
động) của các nước phát triển là một biện pháp bảo vệ quyền con người hay là bảo
hộ trá hình không? Áp đặt yêu cầu về tiêu chuẩn môi trường của Châu Âu cho một
đối tác xuất khẩu đang phát triển của Châu Phi là hành động bảo vệ môi tr
ường hay
hành vi bảo hộ hàng hóa trong nước? v.v. Những câu hỏi như vậy là những chủ đề
tranh cãi của cả khoa học và ứng dụng chính sách.
Để trả lời cho các khó khăn mà các chính sách ngoại thương theo dòng quan
điểm thứ nhất gặp phải, (2) một dòng quan điểm mới được chấp nhận và cổ vũ bởi
các nhà hoạch định chính sách, bởi các tổ chức quốc tế (đặc biệt là WB) và bởi một
nhóm đang mở rộng các nhà kinh tế theo trường phái kinh tế học thể chế (the
institutionalists và neo-institutionalist): đó là chính là trường phái hướng chính sách
đến các vấn đề về thể chế (behind the border lines).
Trên thực tế, dòng quan điểm này không còn quá mới đối với kinh tế học mà
tổ chức quốc tế như Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)
hay các tổ chức hợp tác kinh tế như OECD (Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế)
đều đã bắ
t đầu triển khai các nghiên cứu theo hướng này từ giữa thập niên 80. Xuất
12
Mặc dù là một lĩnh vực quan trọng, các nghiên cứu thể chế liên quan
đến chính sách ngoại thương dường như còn bị lép về so với các nghiên cứu
hướng đến môi trường kinh doanh, trợ giúp doanh nghiệp vừa và nhỏ hay
hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô hướng. Bên cạnh đó, như đã trình bày ở
trên, nhiều nghiên cứu loại này lại hướng chủ yếu đến phân tích các công cụ,
tính đầy đủ và hiệu quả của các công c
ụ này thông qua các phân tích định
lượng sắc sảo nhưng không xây dựng nên được một nền tảng lý thuyết phân
tích các vấn đề thiết chế, cơ chế xoay quanh chính sách ngoại thương. Vấn
đề chủ yếu nằm ở chỗ hướng nghiên cứu đó chỉ hiểu theo cách hạn hẹp là
chính sách ngoại thương tương đương với việc áp dụng các công cụ chính
sách tại biên giới, thiết lập các công cụ bổ tr
ợ “đằng sau biên giới”. Ngược
lại, kinh tế học thể chế cho rằng chính sách ngoại thương phải được hiểu
theo một nghĩa rộng hơn: đó là phải được nhìn theo sự vận động của cả nền
kinh tế, trong đó các thiết chế hoạt động vốn riêng rẽ nay phải có các cơ chế
để đánh giá mức độ hiệu quả của các thiết chế này (các thiết ch
ế đã làm việc
hiểu quả, đã đáp ứng các yêu cầu chưa) cũng như giúp chúng làm việc với
nhau (khi nhiều thiết chế phải hoạt động) phục vụ cho một chiến lược ngoại
thương cụ thể, với các định hướng, mục tiêu rõ ràng (và nếu như các cơ chế
phối hợp này đã có sẵn thì điều gì khiến chúng không hiệu quả). Các thiết
chế trong dòng quan
điểm này có thể hiểu là các cơ quan chính phủ, các cơ
quan đại diện của xã hội dân sự, và thậm chí các tầng lớp nhân dân. Sự
thừa nhận chính sách ngoại thương theo nghĩa rộng có ý muốn nói rằng
chính phủ và xã hội dân sự phải có một mục tiêu rộng, tổng thể và phải xem

đối với sự an ninh lương thực hay an ninh quốc gia được đặt lên trên hết. Tuy nhiên,
cả thuế nhập khẩu và thuế xuất khẩu đều có tác dụng tăng nguồn thu cho ngân sách
nhà nước. Thực tế ở nhiều nước đang phát triển, nguồn thu từ thuế
chiếm một tỷ
trọng rất lớn trong ngân sách quốc gia.
WTO thừa nhận thuế quan nhập khẩu là công cụ hợp pháp duy nhất để bảo hộ
các ngành sản xuất trong nước. Các hàng rào bảo hộ phi thuế phải được bãi bỏ. Điều
này được đặt ra do thuế quan là biện pháp bảo hộ ít bóp méo thương mại nhất và
cũng là biện pháp mang tính minh bạch hơn cả. Thuế quan phải được áp dụng trên
nguyên t
ắc Tối huệ quốc (MFN) cho tất cả các thành viên WTO.
b) Phân loại
Thuế quan có thể được chia làm nhiều loại phụ thuộc vào các tiêu chí phân
loại khác nhau.
- Nếu dựa trên đối tượng chịu thuế, thuế quan gồm hai loại: thuế nhập khẩu,
thuế xuất khẩu.
- Nếu căn cứ vào phương thức tính thuế, thuế quan được chia thành ba loại:
thuế quan đặc định, thuế theo giá trị và thuế quan hỗn hợp.
Thuế quan đặc định (specific tariff) là loại thuế được tính theo giá trị cố định
bằng tiền trên một đơn vị hàng hóa (ví dụ: một tấn hàng hóa nhập khẩu sẽ phải chịu
một mức thuế là 25$). Khoản thuế do vậy sẽ phụ thuộc vào lượng hàng xuất, nhập
khẩu mà không phụ thuộc vào giá cả hay giá trị của hàng hóa. Ưu điểm của loại thuế
này là dễ thu, h
ạn chế việc khai man giá hàng hóa để trốn thuế. Tuy nhiên, cách thu
này khá cứng nhắc nên hiệu quả bảo hộ có thể không được đảm bảo. Ví dụ: nếu giá
cả của hàng hóa nhập khẩu là $5 và mức thuế quan là $1 trên một đơn vị sản phẩm,
mức thuế này tương đương với 20%. Tuy nhiên, nếu như lạm phát xảy ra và giá cả
của hàng hóa nhập khẩu tăng lên $10, thì mức thuế này bây giờ tương đương vớ
i chỉ
có 10% trên giá trị hàng hóa nhập khẩu. Hơn nữa, cách tính thuế này tỏ ra thiên vị

- Thuế suất ưu đãi đặc biệt: Áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ
từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ thực hiện ưu đãi đặc biệt về thuế nhập khẩu
với quốc gia đó theo thể chế khu vực th
ương mại tự do, liên minh thuế quan hoặc để
tạo thuận lợi cho giao lưu thương mại biên giới và trường hợp ưu đãi đặc biệt khác.
- Thuế suất thông thường: Áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ
nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ không thực hiện quy chế tối huệ quốc cũng
như không thực hiện ưu đãi đặc biệt về
thuế nhập khẩu với quốc gia đó. Thuế suất
thông thường luôn luôn cao hơn so với thuế suất ưu đãi và thuế suất ưu đãi đặc biệt
của cùng mặt hàng đó.
d) Tác động của thuế quan đến nền kinh tế
Tác động rõ nhất và trực tiếp nhất của thuế quan là tác động đối với mức giá
nội địa. Thuế quan chủ yếu là thuế nhậ
p khẩu, do đó chủ yếu tạo ra sự chênh lệch
giữa giá nội địa và giá thế giới của hàng hóa. Về mặt kinh tế, rõ ràng thuế nhập khẩu
gây thiệt hại cho người tiêu dùng, họ buộc phải trả nhiều tiền hơn, hoặc phải mua số
lượng hàng hoá ít hơn, hoặc cả hai. Ngược lại, nhờ thuế quan, các nhà sản xuất nội
địa thu được lợi thông qua gia tăng số lượ
ng cũng như giá bán các sản phẩm của họ.
Tuy nhiên, lợi ích nhà sản xuất thu được không bù đắp được thiệt hại người tiêu
dùng phải gánh chịu. Lí do rất đơn giản: các nhà sản xuất có lợi nhờ tăng giá chỉ với
lượng hàng nội địa, trong khi người tiêu dùng phải trả giá cao hơn cho cả hàng trong
nước và hàng nhập khẩu. Do đó, nếu chỉ tính đến nhà sản xuất và người tiêu dùng thì
thuế quan mang lại thiệ
t hại.
Song, ảnh hưởng của thuế quan lên nền kinh tế không chỉ là thay đổi thu nhập
của nhà sản xuất và người tiêu dùng, thuế quan còn mang thu nhập cho ngân sách
nhà nước.
Có sự khác nhau trong tác động của thuế quan nhập khẩu và xuất khẩu. Thuế

phi thuế có tính chất kín đáo, không rõ ràng nên có tác dụng hạn chế nhập khẩu tốt
hơn so với các biện pháp thuế. Mục tiêu của một nước khi sử dụng các NTMs có thể
là:
- Bảo hộ sản xuất trong nước;
- Bảo vệ sức khỏe con người, bảo vệ động thực vậ
t, bảo vệ môi trường;
- Hạn chế tiêu dùng;
- Đảm bảo cân bằng cán cân thanh toán;
- Đảm bảo an ninh quốc gia
Các biện pháp thuế quan có tính chất minh bạch hơn, dễ định lượng và được
WTO cũng như các định chế thương mại khu vực thừa nhận là biện pháp bảo vệ hợp
pháp duy nhất. Đối với các biện pháp phi thuế quan, WTO không cho phép áp dụng
các biện pháp hạn chế định lượng (trừ ngoại l
ệ). Một số các NTM khác như TBT,
SPS vẫn được WTO cho phép áp dụng với điều kiện tuân thủ những quy định cụ
thể.
b) Một số biện pháp phi thuế quan
Chính sách quản lý ngoại thương trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và vấn đề hoàn thiện pháp luật của Việt Nam 16
Phần nội dung sau đây sẽ đề cập tới một số biện pháp phi thuế quan thường
gặp.
 Nhóm các biện pháp hạn chế định lượng (quantitative restrictions)
¾
Cấm xuất khẩu, nhập khẩu
Cấm xuất khẩu, nhập khẩu là biện pháp bảo hộ cao nhất, gây ra hạn chế lớn
nhất đối với thương mại quốc tế và nói chung không được phép sử dụng trong WTO.
Tuy nhiên, các thành viên có thể thi hành các biện pháp cấm xuất khẩu, nhập khẩu
trên cơ sở không phân biệt đối xử trong một số trường hợp sau:

cầu trên. Một loạt các nước: Ấn Độ, Malaysia, Pakistan và Thái Lan đã phản đối quy
định này của Mỹ
và đưa vụ việc ra giải quyết tại WTO.
Chính sách quản lý ngoại thương trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và vấn đề hoàn thiện pháp luật của Việt Nam 17
¾
Hạn ngạch:
Hạn ngạch hay hạn ngạch nhập khẩu là quy định của nhà nước để giới hạn về
khối lượng hoặc giá trị của một số các hàng hóa nhất định được nhập khẩu nói chung
hoặc nhập khẩu từ một thị trường nào đó, trong một thời hạn nhất định, thường là
1năm. Trên thực tế, các hạn ngạch về s
ố lượng được áp dụng nhiều hơn hạn ngạch về
giá trị, do việc quản lý các hạn ngạch về giá trị khó thực hiện hơn.
Một ví dụ cho việc sử dụng hạn ngạch nhập khẩu có thể kể đến trường hợp
Nhật Bản. Hệ thống hạn ngạch của Nhật bản được phân chia làm 4 nhóm: nhóm Hạn
ngạch nhập khẩu theo kế hoạ
ch, Hạn ngạch nhập khẩu hỗn hợp, Hạn ngạch đặc biệt
cho vùng Okinawa, và Các hạn ngạch vì mục đích đặc biệt. Các mặt hàng thuộc
phạm vi điều chỉnh của hệ thống hạn ngạch nhập khẩu của Nhật Bản bao gồm:
- Nhóm mặt hàng không được đưa vào tự do hóa theo quy định của WTO do
có khả năng gây tổn hại tới cộng đồng (vũ khí, súng cầm tay các lo
ại, thuốc phiện );
- Nhóm mặt hàng cần hạn chế nhập khẩu để bảo vệ sản xuất trong nước (chủ
yếu là sản phẩm nông sản, hải sản );
- Nhóm mặt hàng động thực vật thuộc danh sách cần bảo vệ theo Công ước
Washington.
Các mặt hàng thuộc danh mục cần hạn ngạch nhập khẩu ở Nhật Bản sẽ được
liệt kê trong bản "Thông báo nhập khẩ

tr
ọng dự trữ tiền tệ;
- Trong trường hợp một thành viên có dự trữ tiền tệ rất thấp, để đạt được một
mức tăng hợp lý dự trữ tiền tệ.
¾
Hạn chế xuất khẩu tự nguyện (VER)
Hạn chế xuất khẩu tự nguyện là thỏa thuận về thị trường, theo đó, một nước
đồng ý hạn chế xuất khẩu của mình sang nước khác đối với một măt hàng nhất định
một cách tự nguyện. Thực chất đây là yêu cầu của nước nhập khẩu và nước xuất
khẩu bắt bu
ộc phải chấp nhận nếu không muốn bị áp dụng các biện pháp trả đũa
quyết liệt.
Trong giai đoạn 1981-1984, dưới sức ép của Mỹ, Chính phủ Nhật đã tự
nguyện hạn chế xuất khẩu mặt hàng ô tô sang thị trường Mỹ. Hạn chế xuất khẩu này
đã giúp ngành công nghiệp ô tô của Mỹ loại bỏ bớt đối thủ cạnh tranh từ thị trưởng
bên ngoài.
¾
Cấp phép nhập khẩu
Thủ tục cấp phép nhập khẩu được xác định như các thủ tục hành chính đòi hỏi
doanh nghiệp phải đệ trình đơn và/hoặc các tài liệu khác (ngoài mục đích hải quan)
cho một cơ quan hành chính để được phép nhập khẩu hàng hóa.
Giấy phép nhập khẩu là một biện pháp thường được sử dụng ở những nước
gặp khó khăn trong điều hòa cán cân xuất nh
ập khẩu. Giấy phép này cũng được sử
dụng phổ biến để khống chế số lượng nhập khẩu một mặt hàng nhất định hoặc thu
thập dữ liệu thống kê về mặt hàng đó.
Giấy phép nhập khẩu có hai loại thường gặp: Giấy phép tự động và giấy phép
không tự động. Đối với giấy phép tự động: Người nhập khẩu xin phép nhậ
p khẩu thì
cấp ngay không điều kiện nào, và thường phục vụ mục đích thống kê. Đối với loại

pháp làm tăng chi phí đối với hàng hóa nhập khẩu theo cách tương tự như các biện
pháp thuế quan, nghĩa là làm tăng thêm một tỷ lệ phần trăm nhất định hay một mức
nhất định, được tính theo giá trị và số lượng. Các biện pháp này đòi hỏi ngườ
i nhập
khẩu phải trả một khoản tiền nhất định làm tăng chi phí nhập khẩu, nhưng lại không
phải thuế quan, nên được gọi là tương tự thuế quan. UNCTAD cũng liệt kê 4 biện
pháp nằm trong nhóm này, bao gồm: phụ phí hải quan; các khoản phí và lệ phí bổ
sung; thuế và phí nội địa đánh vào hàng nhập khẩu và định giá hải quan theo quy
định.
¾
Phụ phí hải quan
Phụ phí hải quan, còn gọi là phí thu thêm hay thuế bổ sung, là một phương
tiện chính sách thương mại độc lập để tăng thu nhập tài chính hoặc bảo hộ sản xuất
trong nước.
¾
Các khoản phí và lệ phí bổ sung
Phí và lệ phí bổ sung bao gồm thuế và lệ phí khác nhau đặt ra đối với hàng
hóa nhập khẩu cùng với thuế và phụ phí hải quan. Điều VIII của GATT 1994 quy
định các khoản chi phí bổ sung ngoài thuế hải quan và các khoản thuế nội địa phải
được giới hạn trong chừng mực đủ bù các chi phí cung cấp dịch vụ và không mang
tính bảo hộ gián tiếp cho sản phẩm nội địa hay là thuế đánh vào xu
ất nhập khẩu với
mục đích thu ngân sách.
Các khoản phí bổ sung này có thể bao gồm:
- Thuế đối với các giao dịch chuyển đổi ngoại tệ
Chính sách quản lý ngoại thương trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và vấn đề hoàn thiện pháp luật của Việt Nam 20
- Thuế dán tem

những tiêu chuẩn rõ ràng được thừa nhận chung. Mặc dù "rõ ràng" như vậy song việc
xác đị
nh các biện pháp kỹ thuật liệu có hình thành nên hàng rào kỹ thuật không lại
không hề dễ thực hiện.
Chính sách quản lý ngoại thương trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và vấn đề hoàn thiện pháp luật của Việt Nam 21
Quy chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn kỹ thuật đặt ra các yêu cầu cụ thể về sản
phẩm. Đó có thể là:
- Các yêu cầu về đặc tính: kích thước, hình dáng, thiết kế, chức năng của sản
phẩm;
- Các quy định về phương pháp sản xuất, phương thức vận chuyển, bảo quản;
- Các yêu cầu về nhãn mác;
- Quy định về đóng gói, bao bì
Mục đích của các quy chuẩn và tiêu chuẩ
n này là để đảm bảo chất lượng hàng
hóa, bảo vệ đời sống, sức khỏe của con người và động thực vật, bảo vệ an ninh và
môi trường, ngăn chặn các hành vi lừa dối. Các quy chuẩn và tiêu chuẩn kỹ thuật
được coi là một trong những cản trở lớn đối với việc tiếp cận thị trường, đặc biệt là
tiếp cận các thị trường phát triển do các nước phát triể
n thường có những quy định
rất chặt chẽ mà các nước kém phát triển và đang phát triển thường không đủ điều
kiện để đảm bảo.
Có thể tham khảo nội dung này trong Hiệp định về rào cản kỹ thuật trong
thương mại của WTO (Hiệp định TBT). WTO quy định các nước thành viên khi áp
dụng các biện pháp kỹ thuật phải đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc:
- Không phân biệt đối xử;
- Không cả
n trở thương mại;

chất độc, chất ô nhiễm, sinh vật gây bệnh trong đồ ăn uống, các bệnh tật lan truyền từ
động thực vật;
- Bảo v
ệ các loài động thực vật khỏi nguy cơ từ việc xâm nhập, phát sinh hoặc
lan truyền các loài sinh vật gây bệnh và mang bệnh;
- Khoanh vùng, ngăn chặn việc xâm nhập, phát sinh hoặc lan truyền các loài
sâu bệnh.
Dưới góc độ của nước nhập khẩu, việc đưa ra các quy định chặt chẽ về kiểm
dịch là cần thiết để bảo vệ người tiêu dùng trong nước và bảo vệ nền kinh tế nông
nghiệp củ
a mình. Nhưng dưới góc độ nước xuất khẩu, những biện pháp kiểm dịch
mà nước nhập khẩu áp dụng có thể gây khó khăn, nhiều khi trở thành "rào cản" đối
với hàng xuất khẩu của họ. Những quy định về kiểm dịch quá mức cần thiết nhiều
khi sẽ bị quy kết là một biện pháp nhằm bảo hộ sản xuất trong nước.
Hiệp định về các bi
ện pháp vệ sinh dịch tễ của WTO (Hiệp định SPS) đã đưa
ra quy định:
- Các thành viên được phép áp dụng các biện pháp SPS dựa trên cơ sở khoa
học;
- Không được sử dụng các biện pháp này như một công cụ trá hình để hạn chế
thương mại quốc tế;
- Cần phải hài hòa các tiêu chuẩn;
- Cần công nhận tính tương đương của các biện pháp SPS của các thành viên
khác;
- Đảm bảo thông tin kịp thời thông qua đi
ểm hỏi đáp.
Có khá nhiều các vụ tranh chấp trong WTO liên quan tới vấn đề này. Chẳng
hạn như vụ EC-Hoóc môn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status