1
BỘ TƯ PHÁP
VIỆN KHOA HỌC PHÁP LÝ BÁO CÁO PHÚC TRÌNH
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ
CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI NGHỀ NGHIỆP VÀ HIỆP HỘI KINH TẾ
VỚI VIỆC XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH VÀ PHÁP LUẬT KINH TẾ
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI : TS. VÕ ĐÌNH TOÀN
PHÓ CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: LUẬT GIA: TRẦN HỮU HUỲNH
THƯ KÝ ĐỀ TÀI: TH.S: VŨ VĂN CƯƠNG
nh hng n nm 2020 ch rừ: T nay n nm 2010 v cỏc nm tip theo
tip tc xõy dng v hon thin th ch kinh t th trng nh hng xó hi ch
ngha, tp trung vo mt s lnh vc phỏp lut kinh t trng
im ỏp ng kp thi
yờu cu cụng nghip hoỏ, hin i hoỏ t nc, hi nhp kinh t quc t.
K t khi cụng cuc i mi ton din t nc c ng v Nh nc ta
khi ng, c bờt l trong nhng nm gn õy, h thng phỏp lut ca nc ta
trong ú cú phỏp lut kinh t tng bc c i m
i v hng ti s phự hp vi
nhng ũi hi ca kinh t th trng v yờu cu ca hi nhp kinh t quc t. Tuy
nhiờn, thc t thi hnh cho thy, phỏp lut kinh t nc ta cũn cha n nh v
thiu ng b. Cỏc quy nh phỏp lut cha bo m tớnh d bỏo cao nờn cũn lc
hu so vi s vn ng v phỏt trin ca cỏc quan h kinh t, d
n ti tỡnh trng
phi sa i, b sung nhiu. nõng cao cht lng ca phỏp lut kinh t ũi hi
ng thi phi tin hnh nhiu gii phỏp, trong ú cú vic thu hỳt ụng o cỏc lc 1
Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
3
lượng xã hội, các tầng lớp, các tổ chức tham gia vào quá trình xây dựng chính sách
và pháp luật kinh tế .
Các tổ chức xã hội nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế là hình thức tổ chức tập
hợp các cá nhân, các tổ chức kinh tế gắn với các quan hệ sản xuất, kinh doanh
trong nền kinh tế. Chính vì vậy, việc thu hút lực lượng xã hội này tham gia vào quá
trình xây dựng chính sách và pháp luật kinh tế trong nền kinh tế thị trường ở nướ
4
những năm tiếp theo; trực tiếp phục vụ việc xây dựng đề án đổi mới quy trình xây
dựng pháp luật kinh tế.
- Sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ việc nâng cao ý thức, trách nhiệm
của các tổ chức xã hội nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế trong việc xây dựng chính
sách và pháp luật kinh tế ở Việt Nam.
- Sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cán bộ
nghiên cứu, giảng dạy, học
tập liên quan tới xây dựng chính sách và pháp luật kinh tế.
4.Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài nhằm mục đích xác định cơ sở lý luận và thực tiễn
của việc thực hiện vai trò của các tổ chức xã hội nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế
trong xây dựng chính sách pháp luật kinh tế, để trên cơ sở đó tìm giải pháp phát
huy vai trò của các t
ổ chức này. Do đó, việc nghiên cứu đề tài không nhằm mục
đích xác định vai trò của các tổ chức xã hội nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế trong
tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội hay xác định tư cách chủ thể quan
hệ pháp luật nói chung của các tổ chức này. Ngoài ra, việc tiếp cận nghiên cứu đề
tài cũng chỉ giới hạn ở góc độ công trình nghiên cứu khoa h
ọc pháp lý.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu mà đề tài đặt ra, phương pháp luận nghiên
cứu là phép biện chứng duy vật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về phát triển
nền kinh tế nhiều thành phần, về phát huy dân chủ và xây dựng nhà nước pháp
quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể gồm:
phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, điều tra xã hội học, th
ống kê v.v.
6.Kết cấu của đề tài
Công trình nghiên cứu sẽ tập trung giải quyết các vấn đề sau:
a) Tham gia của các tổ chức xã hội nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế vào việc
xây dựng chính sách và pháp luật kinh tế là xã hội hoá công việc của Nhà nước, đó
là trao quyền của Nhà nước cho các tổ chức này mà không phải là sự phân công
hay phân cấp trong một hệ thống quyền lực. Trong xây dựng chính sách và pháp
luật kinh tế sự tham gia của các tổ chức xã hội nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế là
do nhu cầ
u nội tại của pháp luật kinh tế trong nền kinh tế thị trường mà không phải
là sự ban phát quyền lợi của Nhà nước.
b) Các quy định của pháp luật về sự tham gia của hội, hiệp hội trong xây
dựng chính sách và pháp luật kinh tế là điều kiện bắt buộc phải có để thực hiện
việc tham gia của các tổ chức xã hội nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế. Cùng với các
6
quy định về trao quyền tham gia rõ rang, minh bạch, pháp luật phải có các quy
định cụ thể về cơ chế bảo đảm thực hiện quyền tham gia của các tổ chức xã hội
nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế trong xây dựng chính sách, pháp luật kinh tế, đồng
thời chính bản thân Nhà nước phải quan tâm thực sự đến việc tổ chức thì việc tham
gia của các tổ chức này mới có hiệu quả
thiết thực.
c) Cơ chế tham gia của các tổ chức xã hội nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế
trong việc xây dựng chính sách và pháp luật kinh tế phụ thuộc cơ chế thực hiện
quyền lực nhà nước nên ở Việt Nam việc nâng cao vai trò, phát huy hiệu quả của
các tổ chức này phải đi theo côn đường đổi mới mà không phải là con đường cải
tổ.
Để thực hiện đổi mớ
i việc tham gia xây dựng chính sách, pháp luật kinh tế
của các tổ chức xã hội nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế, Nhà nước không chỉ đóng
vai trò là chủ thể trao quyền mà phải là chủ thể tổ chức mang tính định hướng, tạo
Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã
hội, văn hoá, khoa học những năm qua đã giúp sức cho từng cá nhân trong xã hội
nâng cao thêm ý thức tự chủ, tự chịu trách nhiệm và tính sáng tạo của mình. Trong
điều ki
ện như vậy, quần chúng nhân dân đã có thêm cơ hội để phát triển bản thân,
muốn đóng góp ngày càng nhiều hơn cho phát triển xã hội và đó chính là lý do làm
cho các tổ chức dân sự ngày càng trở nên có sức hấp dẫn và có chiều hướng phát
triển tích cực.
Theo quy định của pháp luật, ngoài các tổ chức chính trị, tổ chức tôn giáo ở
Việt Nam hiện có các loại tổ chức dân sự sau đây:
8
Thứ nhất, các tổ chức chính trị - xã hội (Công đoàn, Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam và các tổ chức thành viên: Hội Phụ nữ, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí
Minh, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh);
Trong quá trình tổ chức và hoạt động, các tổ chức chính trị - xã hội thể hiện
rõ nét 2 tính chất: tính chất chính trị và tính chất xã hội như sau:
Về tính chất chính trị: Tính chấ
t chính trị của các tổ chức này có được là
nhờ 2 yếu tố cơ bản sau đây:
Một là, các tổ chức chính trị - xã hội là tổ chức gần gũi và có quan hệ chặt
chẽ nhất với các cơ quan của Đảng cầm quyền, nói cách khác là các tổ chức này
chịu sự lãnh đạo trực tiếp nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thông qua các tổ
chức chính trị - xã hộ
i, Đảng tập hợp quần chúng. Các tổ chức chính trị - xã hội
phản ánh trung thành những nhu cầu, nguyện vọng, tâm tư của hội viên với Đảng
để Đảng có những chủ trương, đường lối, chính sách đúng. Căn cứ từ đường lối,
chính sách của Đảng, các tổ chức chính trị - xã hội hướng dẫn hội viên thực hiện
Hội nhà văn, Hội nhà báo…)
Thứ ba, tổ chức xã hội thuần tuý (Hội người cao tuổi, Hội khuyến học, Hội
phẫu thuật nụ cười, Hội phục hồi chức năng ) Trong các tổ chức xã hội, tính xã
hội này còn được thể hiện đậm nét hơn ở những biểu hiện cụ thể sau đây:
- Trong kết cấu tổ chứ
c, các tổ chức xã hội là tổ chức liên kết hoàn toàn tự
nguyện của công dân, không phân biệt thành phần xã hội, trình độ chuyên môn, tín
ngưỡng, giàu, nghèo, nam, nữ. Hình thức tổ chức cũng như tên gọi của các tổ chức
này là hết sức đa dạng, phong phú, phù hợp với nhu cầu và nguyện vọng của các
công dân. Các tổ chức xã hội, đoàn thể vừa là người đại diện, vừa là người bảo vệ
lợ
i ích của các thành viên trong những mối quan hệ xã hội nhất định.
- Trong nội dung hoạt động, các tổ chức xã hội luôn lấy mặt xã hội của sản
xuất, kinh tế, chính trị, văn hoá (tức là từ nhân tố con người) để hoạch định nội
dung hoạt động của mình nhằm thoả mãn các nhu cầu, sở thích, nguyện vọng của
các thành viên.
- Phương thức hoạt động, các tổ chức này hoạ
t động theo những nguyên tắc
và phương pháp hết sức mềm dẻo. Cán bộ của các tổ chức xã hội thường được bầu
ra trên cơ sở uy tín và sự tôn vinh của các thành viên nên họ thực sự là thủ lĩnh của
tổ chức, là người đại diện thật sự của các thành viên. Không có biện pháp cưỡng
chế hành chính nhà nước nào được áp dụng trong quan hệ giữa các tổ chức và hội
viên cũng như giữ
a các hội viên với nhau. Các quan hệ này được xác lập và xử lý
trên cơ sở giáo dục, thuyết phục và tính tự giác cao.
- Các tổ chức xã hội, đoàn thể hoạt động dựa trên cơ sở pháp luật và các quy
chế, điều lệ do tổ chức tự ban hành mà không cần có sự phê duyệt của cơ quan nhà
nước.
Thứ tư, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp (các hội, hiệp hội ngành nghề
);
1.1.2. Khái niệm,
đặc điểm của tổ chức xã hội - nghề nghiệp
Tổ chức xã hội - nghề nghiệp là một loại pháp nhân hoạt động theo các quy
định của Bộ luật Dân sự, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thành
lập, chuẩn y điều lệ và có hội viên là cá nhân, tổ chức tự nguyện đóng góp tài sản
hoặc hội phí nhằm phục vụ nhu cầu chung của hội viên và mục
đích của hội
2
2
§iÒu 104 Bé luËt D©n sù 2005.
11
T chc xó hi - ngh nghip chu trỏch nhim dõn s bng ti sn ca mỡnh.
Hi viờn khụng chu trỏch nhim dõn s bng ti sn riờng v vic thc hin ngha
v dõn s ca t chc xó hi - ngh nghip. Trong trng hp t chc xó hi -
ngh nghip chm dt hot ng, thỡ ti sn ca t chc ú khụng
c phõn chia
cho cỏc hi viờn m phi c gii quyt theo quy nh ca phỏp lut
3
.
Nghiờn cu cỏc quy nh ca phỏp lut, cú th rỳt ra mt s c im ca
cỏc t chc xó hi - ngh nghip nh sau:
Th nht, t chc xó hi - ngh nghip l mt phỏp nhõn;
Th hai, t chc xó hi - ngh nghip c thnh lp theo sỏng kin v ý chớ
t nguyn ca cỏc thnh viờn;
thông, dịch vụ.
12
tế hoặc các quy chế hoạt động của từng tổ chức liên kết, để tiến hành phân công
sản xuất chuyên môn hoá và hiệp tác hoá, nhằm khai thác tốt tiềm năng của từng
đơn vị tham gia liên kết, góp phần nâng cao sản lượng, chất lượng sản phẩm, nâng
cao hiệu quả kinh tế, nâng cao thu nhập của các bên liên kết, cũng như tăng thu
ngân sách Nhà nước, hoặc để cùng nhau tạo thị trường chung, phân đị
nh hạn mức
sản lượng cho từng đơn vị thành viên, giá cả cho từng loại sản phẩm, để bảo vệ lợi
ích kinh tế của nhau, tạo cho nhau có khoản thu nhập cao nhất.
5
Trong cơ chế kinh tế thị trường hiện nay ở Việt Nam, các doanh nghiệp cần
thiết gia nhập các hiệp hội vì những lý do sau đây:
Thứ nhất, tiến trình cải cách hành chính, đổi mới tổ chức và hoạt động của
các cơ quan quản lý nhà nước đang diễn ra một cách mạnh mẽ mà trọng tâm của nó
là tách bạch chức năng quản lý hành chính của các cơ quan quản lý nhà nước với
chứ
c năng sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, tiến tới xoá bỏ sự can thiệp
quá sâu của các cơ quan quản lý nhà nước vào hoạt động của các doanh nghiệp.
Theo đó, khái niệm “cơ quan chủ quản” của doanh nghiệp (kể cả doanh nghiệp nhà
nước) sẽ dần mất đi, một số điều kiện thuận lợi do cơ quan chủ quản đưa lại sẽ
không còn, mọi doanh nghiệp s
ẽ bình đẳng trước pháp luật, do vậy, nhu cầu dựa
vào các hiệp hội để hỗ trợ và đại diện bảo vệ quyền lợi sẽ tăng lên.
Thứ hai, trong quá trình phát triển và hội nhập, các doanh nghiệp Việt Nam
(nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa) sẽ bị cạnh tranh mạnh. Trong khi đó, với
ội
doanh nghiệp, có chương trình hỗ trợ nâng cao năng lực hoạt động của các hiệp
hội
Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ về trợ giúp
phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng nêu rõ: “Chính phủ khuyến khích thành
lập và củng cố việc trợ giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc các cơ quan, các tổ
chức chính trị, xã hội, tổ chức nghề nghiệp”.
Nghị định s
ố 88/2003/NĐ-CP ngày 30/7/2003 của Chính phủ đã tạo lập cơ
sở pháp lý quan trọng để giải quyết các vấn đề về tổ chức, hoạt động và quản lý
hội. Theo quy định tại khoản 4, Điều 37 của Nghị định số 88/2003/NĐ-CP thì:
Hiệp hội của các tổ chức kinh tế được thành lập theo Quyết định số 38-HĐBT
ngày 10/4/19989 của Hội đồng Bộ trưở
ng (nay là Chính phủ) về liên kết kinh tế
trong sản xuất, lưu thông, dịch vụ không phải xin phép thành lập lại. Nếu như
trước đây, có một số tổ chức nghề nghiệp vẫn được gọi là Hội, Đoàn… khiến có sự
thiếu rõ ràng về vai trò, tính chất của tổ chức, dễ gây nhầm lẫn ảnh hưởng đến
phương thức hoạt động của hiệp hội thì nay, t
ại Thông tư số 01/2004/TT-BNV
ngày 15/01/2004 của Bộ Nội vụ, các hình thức liên kết về kinh tế được gọi thống
nhất là hiệp hội của các tổ chức kinh tế.
Hiệp hội của các tổ chức kinh tế là tổ chức xã hội - nghề nghiệp được hình
thành trên cơ sở tự nguyện của các tổ chức kinh tế cùng ngành nghề, thuộc mọi
thành phần kinh tế, có tư cách pháp nhân, nhằ
m bảo vệ và phát triển ngành nghề.
14
Hip hi kinh t hot ng theo nguyờn tc t nguyn, t ch, t qun, t trang
v ng ký hot ng vi c quan Ni v ch khụng phi do B, S qun lý ngnh
ng ra thnh lp hoc cho phộp cng nh phờ duyt iu l
7
. Núi cỏch khỏc, hip
hi chu s iu chnh ca phỏp lut v dõn s thay vỡ phỏp lut v doanh nghip. 6
Khoản 2, điều 3 Luật cạnh tranh
7
Điều 14 và Điều 15 Nghị định số 88/2003/NĐ - CP ngày 30/7/2003 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động
và quản lý hội.
15
Điều này cần được nhấn mạnh, bởi lẽ, lâu nay có nhiều trường hợp các Bộ, Sở
quản lý ngành vẫn hành xử như là cơ quan chủ quản của các hiệp hội, thậm chí có
Thứ trưởng, Giám đốc Sở đứng ra làm Chủ tịch hiệp hội.
Thứ ba, về phương thức hoạt động của hiệp hội, hiệp hội không hoạt độ
ng
như một cơ quan quản lý kinh doanh, không can thiệp vào các hoạt động tự chủ
của các đơn vị thành viên. Bản thân hiệp hội cũng không tổ chức hoạt động kinh
doanh tìm kiếm lợi nhuận mà chỉ có thể tổ chức một số dịch vụ phục vụ nội bộ
hiệp hội để gây quỹ hoạt động tự trang trải kinh phí hoặc tạo thêm phúc lợi tập thể.
Mọi chủ trương của hiệp hội đều thông qua thương lượng dân chủ, bình
đẳng giữa các thành viên, phục vụ quyền lợi chung của hiệp hội, có sự nhất trí cao.
Các hoạt động chung được huy động lực lượng từ các đơn vị thành viên với
sự phân công hợp lý có sự điều phối của cơ quan điều hành hiệp hội. Bộ máy giúp
việc cơ quan điều hành hi
giám đốc đơn vị thành viên kiêm nhiệm, chỉ trường hợp hiệp hội có quy mô toàn
quốc mới cần có người chuyên trách (tổng thư ký). Nói chung, mô hình tổ chức cơ
quan điều hành là đa dạng với nguyên tắc gọn nhẹ với số cán bộ, nhân viên giúp
việc tối thiểu. Hiệp hội có thể có ban kiểm soát (tài chính) do đại hội bầu ra (ngoài
ban điều hành), hoặc chỉ cần 1 uỷ viên kiểm soát. Khi cần thiế
t có thể sử dụng cơ
quan kiểm toán để xử lý.
Các nguồn thu kinh phí của hiệp hội bao gồm:
- Đóng góp vào quỹ của các hội viên (do Đại hội quy định), không nhất
thiết bình quân mà tuỳ quy mô và thực lực của từng đơn vị;
- Tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước;
- Hỗ trợ của Nhà nước do đóng góp có hiệu qủa vào các nhiệm vụ của Nhà
nước;
- Các nguồn thu hợp pháp khác (gửi tiết kiệm, dịch vụ gây quỹ )
1.1.4. Những điểm khác biệt giữa tổ chức xã hội - nghề nghiệp và hiệp hội
của các tổ chức kinh tế theo pháp luật Việt Nam
Trước hết phải khẳng định: về bản chất, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp và
hiệp hội của các tổ chức kinh tế là những hình thứ
c tổ chức tập hợp các cá nhân,
các tổ chức kinh tế gắn với các quan hệ sản xuất, kinh doanh trong nền kinh tế.
Đây là những tổ chức phi Chính phủ, được các thành viên tự nguyện gia nhập, hoạt
động theo pháp luật, nội quy và điều lệ của tổ chức. Các tổ chức này vừa mang tính
xã hội, vừa mang tính nghề nghiệp, đặc biệt phát triển và phát huy tác dụng trong
cơ chế kinh tế thị trườ
ng.
Theo pháp luật hiện hành, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp và hiệp hội của
các tổ chức kinh tế có những loại sau:
1.2.Những yêu cầu đặt ra trong xây dựng chính sách pháp luật kinh tế trong
nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
1.2.1. Nhận xét sơ lược về hệ thống pháp luật kinh tế của Việt Nam.
18
Chính sách pháp luật là hệ thống quan điểm, tư tưởng, đường hướng có tính
chỉ đạo chi phối nội dung pháp luật, những nội dung cơ bản trong chính sách đó
được thể chế hoá thành các quy phạm pháp luật.
Pháp luật kinh tế là một mảng pháp luật khá rộng lớn, bao trùm lên mọi hoạt
động quản lý nhà nước về kinh tế, hoạt động sản xuất, kinh doanh và tổ chức, hoạt
động c
ủa chủ thể kinh doanh Ngoại trừ hệ thống pháp luật về quyền cơ bản của
công dân, hình sự, tố tụng và tổ chức bộ máy nhà nước, còn lại mọi văn bản pháp
luật đều liên quan (trực tiếp hoặc gián tiếp) đến hoạt động sản xuất, kinh doanh -
tạo thành hệ thống pháp luật về kinh tế. Pháp luật kinh tế bao gồm các lĩnh vực
sau: Lĩnh vực tổ
chức và hoạt động của doanh nghiệp; Lĩnh vực tài chính - thuế -
ngân hàng - chứng khoán.; Lĩnh vực Thương mại, đầu tư - xuất nhập khẩu; Lĩnh
vực đất đai, xây dựng; Lĩnh vực kế toán - thống kê; lĩnh vực lao động ….
Pháp luật quy định về việc tham gia xây dựng chính sách và pháp luật kinh
tế của các tổ chức xã hội nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế có thể hiể
u theo nghĩa
rộng hẹp khác nhau.
Theo nghĩa rộng đó chính là tổng thể các quy định của Nhà nước trong hệ
thống pháp luật hiện hành, có liên quan đến việc điều chỉnh nhiều mặt tổ chức và
hoạt động của các thiết chế nhà nước và xã hội như: Tổ chức và hoạt động của bộ
máy nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp); chế độ dân chủ trực tiếp và quy chế
dân chủ ở cơ sở; tổ chức và hoạt động của các hội nói chung và các tổ chức xã hội
ạo sự
ổn định về cuộc sống cho nhân dân. Kinh tế Việt Nam giai đoạn này không phải là
nền kinh tế hàng hóa mà là nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung quan liêu bao cấp,
không có cạnh tranh mà chỉ có sự độc quyền của Nhà nước trong mọi lĩnh vực.
Việt Nam bắt đầu công cuộc đổi mới từ năm 1986, dưới sự lãnh đạo của
Đảng cộng sản Việt Nam, nền kinh tế Việt Nam
đã có sự thay đổi lớn. Nền kinh tế
Việt Nam từng bước chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa sang nền kinh tế hàng
hóa nhiều thành phần. Chính vì vậy, các quy định pháp luật không thừa nhận sự
phát triển của kinh tế tư nhân cần được thay thế và đến ngày 21 -12-1990 Luật
Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân đã ra đời. Pháp luật về kinh tế thời kỳ này
dựa trên nguyên tắc bảo
đảm quyền con người trong đó có quyền tự do kinh doanh,
quyền sở hữu là những quyền cơ bản nhất. Sự can thiệp của pháp luật vào kinh tế
theo phương thức liệt kê những điều cấm và những điều pháp luật cho phép để tổ
chức, cá nhân dựa vào các quy định pháp luật đó mà thực hiện.
Hiến pháp 1992 ra đời đã khẳng định: “Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng
hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý nhà nước, theo định
hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ
20
chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập
thể, sở hữu tư nhân trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng” (Điều
15), “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế
xã hội chủ nghĩa. Các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ
chức xã hội, đơn vị vũ
trang nhân dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp
luật, đấu tranh phòng ngừa chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp, pháp
21
nguồn lực của xã hội nhằm hình thành môi trường cạnh tranh lành mạnh; từng
bước xác lập nguyên tắc công dân được làm tất cả những gì mà pháp luật không
cấm trong hoạt động kinh doanh; Các nguyên tắc hành chính trong điều chỉnh các
quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại đang từng bước được thay thế bằng các
nguyên tắc dân luật truyền thống; Đồng thời, để hỗ trợ cho các doanh nghiệp, trong
lĩ
nh vực pháp luật hành chính và cải cách hành chính, nhà nước đã có những bước
tiến tích cực, giảm thiểu sự can thiệp của cơ quan nhà nước bằng các biện pháp
hành chính vào các quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại nói chung và các hoạt
động của các doanh nghiệp nói riêng, giảm cơ chế xin cho. Chức năng, nhiệm vụ
của các cơ quan nhà nước, pháp luật công chức, công vụ ngày càng được xác định
rành mạch, rõ ràng; cải cách hành chính theo hướng đơn giản, công khai, dễ ti
ếp
cận và dễ kiểm tra
[8]
.
Đặc biệt là tại kỳ họp thứ 7 của Quốc hội khóa XI đã thông qua Bộ luật Dân
sự mới thay thế Bộ luật Dân sự năm 1995, Luật Thương mại mới thay thế Luật
Thương mại năm 1997. Trong đó đã xác định Bộ luật Dân sự là Bộ luật gốc quy
định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân
các chủ thể khác về nhân thân, về
tài sản trong quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình,
kinh doanh, thương mại, lao động. Năm 2005 tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội đã thông
qua Luật Doanh nghiệp (áp dụng chung cho các loại hình doanh nghiệp), Luật Đầu
tư (áp dụng chung cho đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài) nhằm tạo sự bình
đẳng giữa các chủ thể trong các quan hệ kinh tế. Sự ra đời của Luật Cạnh tranh
năm 2004 đã cho thấy chúng ta đã b
ắt đầu nhận thức về sự cần thiết phải bảo vệ
Trong lĩnh vực kinh tế, pháp luật ch
ưa thực sự tạo động lực mạnh mẽ cho
hoạt động kinh doanh, cạnh tranh lành mạnh, nhà nước vẫn sử dụng một số biện
pháp can thiệp vào thị trường như can thiệp bằng giá, can thiệp bằng con đường
hành chính. Các quy định về thanh tra, chức năng thanh tra ít thay đổi, chồng chéo,
gây phiền hà cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó, trong một số lĩnh vực quan trọng, sự
liên kết các doanh nghiệp nhà nước bằng các quy
ết định hành chính thành tổng
công ty đã tạo ra sự hạn chế cạnh tranh và có thể dẫn tới tình trạng độc quyền hơn
là đáp ứng mong muốn ban đầu chỉ là tạo ra các tổng công ty nhà nước thực sự đủ
mạnh để cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài trong tiến trình hội nhập.
Thứ ba, còn tồn tại những văn bản quy phạm pháp luật chỉ có hiệu lự
c trên
giấy tờ mà thiếu tính thực tế. Ví dụ Luật Thương mại năm 1997, Pháp lệnh Hợp
đồng kinh tế năm 1989 – các văn bản này đã tồn tại trong suốt thời kỳ chuyển từ
nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường và cho đến gần
đây mới được xóa bỏ. Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tuy đã được
thông qua ngày 27-4-1999, nhưng quyề
n lợi của người tiêu dùng vẫn không được
bảo vệ một cách hữu hiệu…
23
Thứ tư, một số văn bản quy phạm pháp luật còn thiếu tính chính xác, thiếu
đồng bộ. Ví dụ các văn bản pháp luật về đất đai và Bộ luật Dân sự là một minh
chứng. Mặc dù tại thời điểm ban hành Bộ luật Dân sự, các quy định về chuyển
quyền sử dụng đất trong Bộ luật Dân sự là phù hợp với quy định của Luậ
t Đất đai
năm 1993, nhưng đứng trước xu thế vận động của các quan hệ đất đai, Luật Đất đai
24
chế xây dựng, sửa đổi văn bản quy phạm pháp luật chưa hợp lý. Điều này được thể
hiện ở cách phân công và thực hiện quy trình soạn thảo dễ dẫn đến tình trạng bảo
vệ lợi ích cục bộ của ngành, địa phương, chưa thật sự vì lợi ích chung và vì sự
thuận lợi cho người dân. Việc thông qua luật hoặc pháp lệnh thường chậm, còn
hi
ện tượng vấn đề dễ soạn thảo thì thông qua trước, vấn đề rất bức xúc nhưng khó
thì vẫn để lại tiếp tục nghiên cứu mà không có các giải pháp thúc đẩy, hỗ trợ tích
cực cho việc soạn thảo. Nội dung của văn bản luật thường thiếu cụ thể, những nội
dung khó thường dành cho nghị định và các văn bản của Bộ, ngành quy định. Vì
vậy, đã dẫ
n đến tình trạng văn bản dưới luật mở rộng hoặc thu hẹp hơn phạm vi
điều chỉnh của luật, luật tuy đã được ban hành nhưng không thể áp dụng được ngay
mà còn phải chờ văn bản hướng dẫn thi hành. Mặc dù Luật Ban hành văn bản quy
phạm pháp luật (sửa đổi tháng 12 năm 2002) đã đổi mới một bước trình tự xem
xét, thông qua luật, pháp lệnh nhưng vẫ
n còn nhiều vấn đề chưa được đề cập, cần
tiếp tục nghiên cứu như: chưa có phương thức để có thể sửa đổi, bổ sung đồng thời
các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan với một luật, pháp lệnh mới được ban
hành hoặc mới được sửa đổi, bổ sung. Điều này dẫn đến sự không đồng bộ về nội
dung của các v
ăn bản quy phạm pháp luật nói chung và văn bản quy phạm pháp
luật kinh tế nói riêng, gây khó khăn cho việc thi hành luật. Quá trình xây dựng các
văn bản quy phạm pháp luật chưa có đủ cơ chế thu hút các chuyên gia giỏi, những
người trực tiếp thi hành pháp luật và huy động thực sự hiệu quả trí tuệ của nhân
dân, của thành viên các tổ chức xã hội, hiệp hội nghề nghiệp vào hoạt động xây
dựng pháp luật. Việc tổ ch
ức lấy ý kiến tham gia của các Bộ, ngành, của các thành
luật của Việt Nam hiện nay dành một phần lớn nguồn lực để xây dựng hệ thống
văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động kinh doanh. Ngh
ị quyết số 48-NQ/TW
ngày 24 tháng 5 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện
hệ thống pháp luật ở Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 tại Mục
II.3 - Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về dân sự, kinh tế, trọng tâm là hoàn thiện
thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã chỉ rõ từ nay đến năm
2010 và các n
ăm tiếp theo tiếp tục xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tập trung vào một số lĩnh vực pháp luật kinh
tế trọng điểm đáp ứng kịp thời yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội
nhập kinh tế quốc tế.
Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về sở hữu, quyền tự
do kinh doanh. Làm
rõ nội hàm và cơ chế quản lý tài sản thuộc sở hữu toàn dân, chủ sở hữu nhà nước
và các chủ sở hữu khác, cơ chế bảo đảm quyền sở hữu và hạn chế quyền sở hữu.
Hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền tự do kinh doanh, tạo lập môi trường pháp lý cho
cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng, phù hợp với nguyên tắc của WTO, các cam kết
quốc t
ế và lộ trình đã công bố; thực hiện nguyên tắc công dân được làm tất cả