HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ
NĂM 2010 Đề tài:
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
MÃ SỐ: B.10-15
Cơ quan chủ trì : VIỆN NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Chủ nhiệm đề tài :
15. ThS. Đào Ngọc Báu, Học Viện CT – HCQG HCM
16. NCVC. Nguyễn Kim Đạt, Học Viện CT – HCQG HCM
17. Mai Thị Thanh Tâm, Học Viện CT – HCQG HCM
18. ThS. Phạm Đứ
c Toàn, Bộ Nội vụ
19. Phạm Quang Tuệ, Sở Nội vụ tỉnh Vĩnh Phúc
20. Hoàng Văn Thành, Toà án nhân dân huyện Thạch Thất, Hà Nội.
21.Đào Thị Hương Giang, Văn phòng Đại diện khu vực miền Nam Bộ Nội Vụ
22. Nguyễn Ngọc Diệp, Học Viện CT – HCQG HCM
CÁC TỪ VIẾT TẮT
• CCHC
Cải cách hành chính
• QPPL
Quy phạm pháp luật
• HĐND
Hội đồng nhân dân
• UBND
Ủy ban nhân dân
• NSNN
Ngân sách Nhà nước
• HCNN
Hành chính nhà nước
• CNTT
Công nghệ thông tin
• QLHCNN
Quản lý hành chính nhà nước
• THH
Tin học hóa
12
1.1.
Bối cảnh và sự cần thiết thực hiện cải cách hành chính ở Việt Nam 12
1.2.
Quá trình hình thành và phát triển quan điểm, chủ trương của Đảng
Cộng sản Việt Nam về cải cách hành chính.
17
1.3
Quá trình hình thành và phát triển chủ trương, chính sách và pháp luật
của Nhà nước về cải cách hành chính.
21
1.4
Đánh giá chung về đặc điểm quá trình hình thành và phát triển quan
điểm chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước về
cải cách
hành chính
24
1.5
Khái quát cải cách hành chính một số nước trên thế giới và những giá
trị tham khảo cho Việt Nam
26
Phần thứ hai:
THỰC TRẠNG CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY
39
2.1.
Thực trạng cải cách thể chế
39
2.2.
Thực trạng cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước 81
sự nghiệp đổi mới để phát triển đất nước. Các cơ quan nhà nước, trong đó Chính
phủ đã ban hành và tổ chức thực hiện nhiều chương trình, kế hoạch đã triển khai
cải cách hành chính theo các ch
ủ trương, nghị quyết của Đảng, nhất là Chương
trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010. Đến năm
2011, Đảng ta tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, công cuộc cải
cách hành chính nhà nước do Đảng khởi xướng và lãnh đạo vừa tròn 20 năm.
Nhìn lại chặng đường 20 năm của công cuộc cải cách, chúng ta có thể
khẳng định rằng: Cải cách hành chính đã đạt nh
ững kết quả bước đầu quan
trọng, góp phần vào thành tựu chung của đất nước. Hệ thống thể chế, luật pháp
tiếp tục được đổi mới và hoàn thiện, hình thành dần cơ chế kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, đảm bảo ngày càng tốt hơn quyền dân chủ của
nhân dân. Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của các c
ơ quan trong hệ
thống hành chính nhà nước được điều chỉnh, sắp xếp phù hợp hơn, quản lý nhà
nước ngày càng tốt hơn trong điều kiện mới. Chất lượng đội ngũ cán bộ, công
chức trong bộ máy hành chính nhà nước có bước được nâng lên, đáp ứng tốt
hơn yêu cầu nhiệm vụ. Thể chế, pháp luật về quản lý tài chính công được tích
cực xây dựng và từng bước hoàn thiện. Th
ủ tục hành chính và hoạt động của các
cơ quan hành chính nhà nước có bước đổi mới, hiệu lực, hiệu quả, kỷ luật, kỷ
cương được tăng cường hơn. Những kết quả đạt được đó chứng tỏ đường lối đổi
mới của Đảng ta nói chung và cải cách hành chính nhà nước nói riêng dựa trên
nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là hoàn toàn đúng
đắn và sáng tạ
o, là phù hợp với hoàn cảnh thực tế Việt Nam và thích ứng với xu
thế thời đại.
Tuy nhiên, nền hành chính nhà nước còn nhiều hạn chế, yếu kém. Hệ
thống thể chế, pháp luật, nhất là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội
yêu cầu càng cao hơn thì cải cách hành chính càng trở thành khâu bức xúc và
quyết định thành bại của chiến lược phát triển. Cải cách hành chính ngày càng
trở thành yếu tố quan trọng trong chương trình nghị sự về cải cách của Việt
Nam. Đây không chỉ là điều kiện hết sức thiết yếu để Việt Nam có thể tối đa
hóa được các lợi thế của quá trình hội nhập, mà còn là công cụ
quan trọng đảm
bảo thực hiện thành công kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và góp phần thực
hiện các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ của Việt Nam. Tuy nhiên cải cách
hành chính ở Việt Nam là công việc mới mẻ, chưa có tiền lệ, lại diễn ra trong
điều kiện thiếu kiến thức và kinh nghiệm quản lý hành chính, có nhiều vấn đề
phải vừa làm vừa rút kinh nghiệm.
3
Với những lý do trên, việc nghiên cứu đánh giá đúng kết quả, hạn chế và
nguyên nhân của cải cách hành chính có ý nghĩa quan trọng trong việc tiếp tục
đẩy mạnh có hiệu quả của cải cách hành chính ở nước ta trong thời gian tới là
vấn đề cần thiết.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Trong đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị, cải cách hành chính luôn
được coi là vấn đề trọng tâm. Do vậy, vấn đề này đã và
đang thu hút được đông
đảo các cơ quan, tổ chức và cá nhân các nhà khoa học tham gia nghiên cứu. Ở
những góc độ khác nhau, đã có nhiều công trình về cải cách hành chính như
sách, bài đăng tạp chí, kỷ yếu đề tài, báo cáo
- Sách liên quan đến cải cách hành chính ở Việt Nam
+ Sách: “Cải cách hành chính nhà nước: thực trạng, nguyên nhân và giải
pháp” do TS Thang Văn Phúc chủ biên (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà
Nội, 2001). Công trình đã khái quát quan điểm của Đảng về cải cách hành chính
ở Vi
ệt Nam từ năm 1986 đến năm 2001; đánh giá công tác thực hiện cải cách
nhà nước” của Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội, 2005) chứa đựng một số qui định cơ bản về cải cách hành chính nhà nước
thông qua các vă
n kiện của Đảng từ Đại hội VI đến nay (2005); bên cạnh đó
công trình giới thiệu các văn bản về cải cách hành chính ở Việt Nam với các nội
dung cụ thể như cải cách thể chế, cải cách bộ máy, xây dựng đội ngũ cán bộ,
công chức và cải cách tài chính công.
Bên cạnh những công trình nghiên cứu về cải cách hành chính nhà nước
nói chung, nhiều công trình nghiên cứu từng nội dung của cải cách hành chính
đó là:
+ Sách: “Công vụ
và công chức nhà nước” của tác giả Phạm Hồng Thái
(Nxb Tư Pháp, Hà Nội, 2004)
+ Sách: “ Hệ thống công vụ và xu hướng cải cách của một số nước trên
thế giới” của tập thể tác giả Thang Văn Phúc, Nguyễn Minh Phương và Nguyễn
Thu Huyền ( Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004)
+ Sách: “ Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
trong thời kỳ đổi mới” do Nguyễn Văn Yể
u và GS.TS Lê Hữu Nghĩa chủ biên
(Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006). Nội dung cuốn sách dành một chương
nghiên cứu về đổi mới hoạt động hành pháp của Chính Phủ, đẩy mạnh cải cách
hành chính nhà nước (trang 286- 336)
+ Sách: “ Về chế độ công vụ Việt Nam” do PGS.TS. Nguyễn Trọng Điều
chủ biên (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007). Nội dung cuốn sách đề cập
5
một cách hệ thống về chế độ công vụ Việt Nam và yêu cầu đổi mới chế độ công
vụ, một trong những nội dung cơ bản của cải cách hành chính ở nước ta hiện
nay.
- Kỷ yếu Đề tài, Hội thảo khoa học liên quan đến cải cách hành chính
chính của Chính Phủ phối hợp với Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc
(UNDP) tổ chức trong hai ngày 24 - 25/11/2007 tại Hà Nội. Các tham luận tại
6
hội thảo tập trung vào bốn nội dung chính: Cải cách hành chính trong bối cảnh
phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế; Tiến tới xây dựng một Chính Phủ phục
vụ vì sự phát triển; Tính trách nhiệm, tính minh bạch và dân chủ trong bối cảnh
phân cấp; Tính chuyên biệt và hiện đại hóa của nền kinh tế.
+ Kỷ yếu đề tài khoa học cấp bộ: “ Những vấn đề lý luận và thực tiễn cơ
bản về nền hành chính Việt Nam trong giai đoạn 2006 - 2015” của Viện Nhà
nước và Pháp luật - Viện Khoa học và Xã hội Việt Nam do PGS.TS Vũ Thư làm
chủ nhiệm. Nội dung đề tài đề cập tới cải cách hành chính trên cả bốn yếu tố cấu
thành nền hành chính nhà nước.
- Các bài báo liên quan đến cải cách hành chính được đăng trên các tạp
chí chuyên ngành:
+ Bài: “Cải cách nền hành chính nhà nước-nội dung cơ bản cấp bách
trong việc đổi m
ới hệ thống chính trị hiện nay”, Tạp chí cộng sản, số 4 năm
1999 của Tạ Xuân Đại.
+ Bài: “Tiến trình cải cách hành chính ở nước ta - một số đánh giá
chung”, trong sách: Các giải pháp thúc đẩy cải cách hành chính ở Việt Nam,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà nội, 2001, tr 37-57.
+ Bài: “Cải cách hành chính: Góp một cái nhìn từ góc độ công chức,
công vụ”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 7 năm 2004 của Đào Minh Đức.
+ Bài: “Đảng lãnh đạo xây d
ựng nền hành chính nhà nước trong sạch,
dân chủ và hiện đại”, Tạp chí cộng sản số 10 năm 2006 của Nguyễn Khánh.
+ Bài: “Cải cách nền hành chính đáp ứng nhu cầu hội nhập”, Tạp chí
cộng sản, số 11 năm 2006 của Ngô Hướng.
năm 2008 củ
a Ths Phạm Đức Toàn.
+ Bài: “Tổ chức thực hiện quyền hành pháp trong cải cách hành chính ở
nước ta hiện nay”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 3 năm 2008 của Đinh
Văn Mậu.
+ Bài: “Cải cách hành chính và tăng trưởng kinh tế” Tạp chí cộng sản, số
6 năm 2008 của Nguyễn Sinh - Doãn Huề.
+ Bài: “Lại bàn về cải cách hành chính” Tạp chí cộng sản, Nguồn:
www.tapchicongsan.org.vn, số 7 năm 2008 của GS. Đỗ Quốc Sam.
+ Bài: “Đẩy mạnh hơn nữa cải cách hành chính để hội nhập và phát
triển”, Tạp chí cộng sản số 8 năm 2008 của Trần Văn Tuấn.
+ Bài: “Đẩy mạnh hơn nữa cải cách hành chính để hội nhập và phát
triển”, Nguồn: www.tapchicongsan.org.vn, số 16 năm 2008 của Bộ Trưởng Bộ
Nội Vụ Trần Văn Tuấn.
8
+ Bài: “Cải cách thủ tục hành chính từ khi Việt Nam gia nhập WTO đến
nay” Tạp chí cộng sản, Nguồn: www.tapchicongsan.org.vn, số 3 năm 2009 của
TS Hà Quang Ngọc.
+ Bài: “về cải cách hành chính hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, số 10 năm
200 của Đỗ Quang Trung.
- Báo cáo về chương trình thực hiện cải cách hành chính ở Việt Nam
+ Báo cáo của Chính phủ tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội IX (phần cải cách
hành chính), trong sách: Cải cách hành chính - những vấ
n đề cấp thiết để đổi
mới bộ máy nhà nước”, Nxb TP.Hồ Chí Minh, TP.Hồ Chí Minh, 2004, tr 74-77.
+ Báo cáo của Việt Nam tại diễn đàn toàn cầu hóa lần thứ V về tái tạo lại
Chính phủ, được tổ chức từ ngày 03-07/11/2003 tại Mexico City, trong sách:
Cải cách hành chính - những vấn đề cấp thiết để đổi mới bộ máy nhà nước”,
Nxb TP.Hồ Chí Minh, TP.Hồ Chí Minh, 2004,tr 78- 98.
được công bố trên có giá trị tham khảo tốt cho việc nghiên cứu và hoàn thiện đề
tài.
Đặt trong tổng thể chương trình nghiên cứu của cơ quan chủ trì Đề tài
đang được luận chứng sẽ trở thành Đề tài vừ
a có tính mới, và tiếp nối những kết
quả nghiên cứu đề tài Cấp cơ sở về Tổng kết kinh nghiệm cải cách hành chính
một số địa phương trong cả nước; đồng thời phù hợp với Chiến lược nghiên cứu
khoa học của Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh đến 2010.
Đề tài này sẽ là công trình khoa học nghiên cứu một cách cơ bản về cải
cách hành chính ởViệt Nam trong th
ời gian qua đồng thời đề xuất các giải pháp
tiếp tục hoàn thiện nền hành chính nhà nước trong thời gian tới.
3. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Nghiên quá trình phát triển quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách
Nhà nước về cải cách hành chính từ Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VI
(tháng 6 năm 1986) đến nay, cung cấp những luận cứ khoa học cho xây dựng
các chủ trương về cải cách hành chính ở nướ
c ta hiện nay.
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng thực hiện cải cách hành chính ở nước ta
từ năm 2001 đến 2010. Từ đó chỉ ra thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của quá
trình thực hiện cải cách hành chính trên các nội dung: cải cách thể chế, cải cách
bộ máy hành chính nhà nước, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức hành chính,
cải cách tài chính công và hiện đại hóa nền hành chính nhà nước.
- Đề xuất các giải pháp tiếp tục đẩy mạnh c
ải cách hành chính và hoàn
thiện nền hành chính ở nước ta hiện nay. 10
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1986 đến nay)
Nội dung thứ hai: Thực trạng cải cách hành chính ở Việt Nam và những
vấn đề đặt ra (nghiên cứu từ năm 2001, từ khi Chương trình Tổng thể cải cách
11
hành chính nhà nước 2001 – 2010 được ban hành và năm 2002, bắt đầu nhiệm
kỳ Quốc hội khóa XI, đến nay)
Nội dung thứ ba: Tiếp tục thực hiện đẩy mạnh cải cách hành chính ở Việt
Nam hiện nay
đó đã dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô và các nước
XHCN Đông Âu vào cuối những năm 80 đầu những năm 90 của thế kỷ XX.
Trong khi đó, các nước tư bản chủ nghĩa tuy cũng phải đối phó với những nguy
cơ mới, nhưng do có sự điều chỉnh cần thiết đặc biệt là sử dụng những thành
quả của cuộc cách mạng khoa họ
c và công nghệ hiện đại, nên đã vượt qua được
khó khăn và kinh tế có bước tăng trưởng đáng kể. Cùng với kinh tế phát triển
các nước này cũng luôn quan tâm đến cải cách tổ chức và hoạt động của bộ máy
nhà nước nói chung và nền hành chính nhà nước nói riêng; theo hướng xây
dựng nền hành chính đơn giản và hiện đại.
Công cuộc cải tổ, cải cách ở các nước trên đây đã có những tác động sâu
sắc
đến Việt Nam. Những bài học về cải cách của nhiều nước tiên tiến và các
nước đang phát triển theo nhiều con đường khác nhau đã tác động đến Việt Nam
13
làm thay đổi nhận thức của nhiều nhà lãnh đạo đất nước. Nhiều người cho rằng
cải cách bộ máy nhà nước nói chung, nền hành chính nói riêng là mang tính qui
luật, Việt Nam muốn phát triển không thể không tiến hành cải cách để đổi mới
nền hành chính nhà nước.
1.1.1.2 Bối cảnh trong nước
Sau khi giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải
phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Nhà nước ta tập trung vào xây dự
ng và
kiến thiết đất nước, trong đó trọng tâm là phát triển kinh tế. Đây là giai đoạn đầy
thử thách với Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân
dân ta đã đạt được những thành tựu to lớn trong công cuộc khôi phục sản xuất,
xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, phát triển giáo dục, y tế, văn hóa, khoa học.
Tuy nhiên, giai đoạn này, tình hình kinh tế gặp nhiề
u khó khăn. Nền kinh
hoạt động của đất nước trong quản lý kinh tế, phát triển kinh t
ế - xã hội. Cải
cách hành chính là công việc mới mẻ, diễn ra trong điều kiện Việt Nam còn
chưa có kiến thức , kinh nghiệm nhất là đội ngũ cán bộ phải vừa làm vừa học.
Do cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, nền hành chính nước ta vừa trì trệ, cồng
kềnh, mạng nặng bệnh giấy tờ và thành tích. Đại hội Đảng lần thứ VI đã đưa ra
đường hướng khởi đầ
u để tiến hành cải cách hành chính.
1.1.2. Sự cần thiết thực hiện cải cách hành chính ở Việt Nam
Mục 1.1.1 đã phân tích bối cảnh ra đời cải cách hành chính ở Việt Nam
và khẳng định cải cách hành chính mang tính qui luật hiện nay. Bên cạnh đó, cải
cách hành chính ở Việt Nam còn xuất phát từ những yêu cầu và đòi hỏi sau đây:
Một là: Xuất phát từ yêu cầu, đòi hỏi phát triển kinh tế thị trường định
h
ướng xã hội chủ nghĩa.
Sự tác động, yêu cầu và đòi hỏi của nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN đối với nền hành chính nhà nước thể hiện trên các mặt:
- Kinh tế thị trường định hướng XHCN tác động đến chức năng của nhà
nước, dẫn đến những thay đổi trong cơ cấu, tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của
các cơ quan hành chính nhà n
ước.
- Kinh tế thị trường định hướng XHCN tác động đến thể chế nền hành
chính nhà nước. Sự tác động này không chỉ thể hiện trên lĩnh vực kinh tế mà
trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội, thể chế về mối quan hệ giữa các cơ
quan nhà nước với các danh nghiệp, với công dân.
- Kinh tế thị trường định hướng XHCN tác động đến yêu cầu xây dựng
đội ngũ cán b
ộ, công chức hành chính nhà nước.
- Kinh tế thị trường định hướng XHCN tác động đến lĩnh vực tài chính
công của nhà nước.
chức, cá nhân trong hệ thống. Đó là một bộ máy hành chính nhà
nước mang tính chuyên nghiệp cao, hiện đại hóa, thực hiện nhiệm vụ quản lý
hành chính nhà nước bằng pháp luật và theo pháp luật, điều hành kinh tế - xã
hội một cách chủ động, độc lập tương đối. Đảm bảo thẩm quyền của Chính phủ
trong việc quản lý thống nhất các lĩnh vực đời sống kinh tế - xã hội của đất
nước, đồng thời phát huy tính năng động, sáng tạo và quyền tự chủ, tự chịu
trách nhiệm của chính quyền địa phương.
Bộ máy hành chính trong Nhà nước pháp quyền là bộ máy do nhân dân
lập nên và để phục vụ nhân dân. Tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính
16
nhà nước phải tạo môi trường và điều kiện cho các cá nhân, tổ chức phát huy
tính chủ động, sáng tạo trong sản xuất, kinh doanh và tổ chức cuộc sống của
mình, bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của công dân. Có chế định trách nhiệm
công vụ rõ ràng, bồi thường thiệt hại do tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong
bộ máy hành chính gây ra. Bảo đảm các quyền khiếu nại, tố cáo, khiếu kiện
trước tòa án củ
a công dân, tức là áp dụng định chế tài phán hành chính để kiểm
tra tính hợp pháp, hợp lý các quy định của cơ quan hành chính. Tạo điều kiện và
tăng cường khả năng kiểm tra, giám sát các hoạt động của bộ máy công quyền
từ phía nhân dân để hạn chế tình trạng quan liêu, lãng phí, tham nhũng.
Cải cách, hoàn thiện mô hình tổ chức và hoạt động của bộ máy hành
chính nhà nước với tư cách là một trong những thiết chế quan trọng nhấ
t của
quyền lực nhà nước - quyền hành pháp, tạo cơ sở pháp lý và động lực cho công
cuộc cải cách hệ thống chính trị nói chung, xây dựng Nhà nước pháp quyền
XHCN nói riêng.
Ba là: xuất phát từ yêu cầu và đòi hỏi của nền hành chính nhà nước trong
bối cảnh hội nhập quốc tế.
Toàn cầu hóa, hợp tác và cạnh tranh là xu thế khách quan của thế giới ngày
đã buộc các quốc gia trên thế giới đều nàm trong quá trình cải cách hành
chính nhà nước.
Bộ máy nhà nước nói chung, bộ máy hành chính nhà nước nói riêng phải
thay đổi phong cách, phương pháp làm việc hướng tới hiệu quả ngày càng cao.
Khi áp dụng các tiến bộ khoa học vào nên hành chính nhà nước sẽ dẫn đến
những thay đổi trong nền hành chính nhà nước. Đó là thay đổi về thể chế hành
chính; thay đổi về tổ chức, cơ cấu bộ máy hành chính; về cán bộ công chức và
v
ề quản lý tài chính công.
1.2. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN QUAN ĐIỂM, CHỦ
TRƯƠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
Phân tích, lý giải, tổng kết quá trình hình thành và phát triển quan điểm,
chủ trương của Đảng về cải cách hành chính qua các kỳ Đại hội (Từ Đại hội đại
biểu Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 6/1986) đến Đại hội đại biểu Đảng toàn
quốc lần thứ X (năm 2006). Tập trung ở các Văn kiện sau:
- Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (tháng 6/1986) Đảng đã
đề ra
chủ trương thực hiện một cuộc cải cải lớn về tổ chức bộ máy của các cơ quan
nhà nước, theo phương hướng xây dựng và thực hiện một cơ chế quản lý nhà
nước thể hiện quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động ở tất cả các cấp.
- Đến Đại hội VII (năm 1991), Cải cách hành chính lần đầu tiên được đặt
trong m
ột chỉnh thể thống nhất là đổi mới hệ thống chính trị, trên tinh thần lấy
đổi mới kinh tế làm trọng tâm, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, nâng cao
hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước và mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa,
18
bảo đảm tất cả quyền lực thuộc về nhân dân. Từ những kinh nghiệm và bài
học rút ra sau 5 năm đổi mới, thực hiện cải cách bộ máy nhà nước, Nghị
quyết Đại hội VII đã xác định mục tiêu có tính chất chiến lược cho cả chặng
Trung ương 8, đó là cải cách thể chế của nền hành chính, chấn chỉnh tổ chức bộ
máy và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức
. Việc thực hiện Nghị quyết Trung
ương 8 khóa VII đã mở ra một giai đoạn mới, giai đoạn chuyển biến thật sự
19
trong cải cách hành chính ở nước ta. Có thể nói Nghị quyết Trung ương 8 (khóa
VII) có ý nghĩa quan trọng thúc đẩy tiến trình cải cách hành chính của 20 năm
đổi mới vừa qua.
Tiếp tục khẳng định cải cách hành chính là trọng tâm của việc xây dựng,
hoàn thiện Nhà nước trong những năm trước mắt, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ VIII (năm 1996) nhấn mạnh yêu cầu tiến hành cải cách hành chính
đồng bộ, d
ựa trên cơ sở pháp luật, coi đó là một giải pháp cơ bản để thực hiện
các nhiệm vụ, mục tiêu chủ yếu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm
1996-2000.
Hội nghị lần thứ 3 của Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII (tháng 6
năm 1997) ra Nghị quyết về phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây
dựng nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Một trong nh
ững chủ
trương và giải pháp lớn về cải cách hành chính được nhấn mạnh trong Nghị
quyết quan trọng này là bảo đảm thực hiện dân chủ hóa đời sống chính trị của
xã hội, giữ vững và phát huy bản chất tốt đẹp của Nhà nước, phát huy quyền
làm chủ của nhân dân trong xây dựng và bảo vệ nhà nước, trong giám sát hoạt
động của bộ máy nhà nước và hoạt động của cán bộ, công chức. Từ
đó, Chính
phủ ban hành các quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở.
Trong việc xây dựng chiến lược về cán bộ cho thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2020, Nghị quyết Trung ương 3 đặc
biệt nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và
hành chính; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có nă
ng lực; thiết
lập trật tự kỷ cương, chống quan liêu, tham nhũng.
Đại hội Đảng lần thứ X (năm 2006) tiếp tục khẳng định mục tiêu
thực hiện cải cách hành chính là xây dựng nền hành chính dân chủ, trong
sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại.Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành
chính, coi đây là nhiệm vụ thường xuyên của tất cả các tổ chức trong hệ
thống chính trị.
Tại Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa X (ngày
1/8/2007) Đảng tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực,
hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước, khẳng định đẩy mạnh cải cách
hành chính nhằm tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa; xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững
mạnh, từ
ng bước hiện đại; đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất và
năng lực; hệ thống các cơ quan nhà nước hoạt động có hiệu lực, hiệu quả,
phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội
nhập kinh tế quốc tế; đáp ứng tốt yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của
đất nướ
c.
21
1.3. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CHỦ TRƯƠNG,
CHÍNH SÁCH VÀ PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC VỀ CẢI CÁCH HÀNH
Quá trình hình thành và phát triển chủ trương, chính sách, pháp luật của
nhà nước về cải cách hành chính nhà nước gắn chặt với quá trình thể chế hóa
quan điểm chủ trương của Đảng về cải cách hành chính qua các thời kỳ.
1.3.1. Giai đoạn từ 1991 đến 2000
Thể chế hóa chủ trương cải cách hành chính của Đại hội VII về xây dựng