HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI KHOA HỌC
CẤP BỘ NĂM 2009
Mã số: B.09.06 CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP Ở NƯỚC TA
TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Cơ quan chủ trì: Viện Kinh tế
Chủ nhiệm đề tài: TS Đoàn Xuân Thủy
Thư ký đề tài: Th.S Nguyễn Thị Minh Tân
7940 HÀ NỘI – 2009
2. TS Phạm Ngọc Dũng - Học viện CT-HCQG Hồ Chí Minh
3. CN Nguyễn Dũng - Huyện Ủy Chư Sê tỉnh Gia Lai
4. CN Đàm Thùy Dương - Đại học Thái Nguyên
5. CN Nguyễn Thị Đa - Trường Chính trị tỉnh Hòa Bình
6. CN Nguyễn Văn Đông - Liên đoàn Lao động tỉnh Hòa Bình
7. CN Đinh Xuân Hùng - Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Hà Giang
8. CN Vũ Thị Hiền - Hội Nông dân huyện Chí Linh, Hải Dương
9. CN Nguyễn Vă
n Khang - Trường Trung cấp nghề tỉnh Hòa Bình
10. CN Phạm Hoàng Lam - Văn phòng UBND TP Hồ Chí Minh
11. PGS.TS Hoàng Thị Bích Loan - Học viện CT-HCQG Hồ Chí Minh
12. TS Đặng Ngọc Lợi - Học viện CT-HCQG Hồ Chí Minh
13. TS Đào Thị Ngọc Minh - Đại học Sư phạm Hà Nội
14. CN Nguyễn Thanh Minh - Ban tổ chức Thành ủy Hà Nội
15. Th.S Ngô Tuấn Nghĩa - Học viên CT-HCQG Hồ Chí Minh
16. TS Đinh Văn Phượng - Học viện Chính trị quân sự
17. TS Nguyễn Minh Quang - Học viện CT-HC QG Hồ Chí Minh
18. CN Nguyễ
n Trọng Sơn - Sở Tài chính tỉnh Hà Tĩnh
19. Th.S Nguyễn Thị Minh Tân - Học viện CT-HCQG Hồ Chí Minh
20. PGS.TS Nguyễn Khắc Thanh - Học viên CT-HCQG Hồ Chí Minh
21. CN Nguyễn Văn Thanh - Trường chính trị Lê Hồng Phong, Hà Nội
22. TS Đoàn Xuân Thủy - Học viện CT-HCQG Hồ Chí Minh
23. CN Nguyễn Quang Thử - Sở Công thương tỉnh Quảng Nam
24. TS Nguyễn Thị Tú - Học viện Tài chính
25. CN Phạm Anh Tuấn - Huyện ủy huyện Ứng Hòa, Hà Nội
26. CN Võ Văn Tiến - Ngân hàng NN&PTNT tỉnh Quảng Nam
27. CN Bùi Xuân Vinh - Công đoàn ngành Giao thông Thái Bình
28. CN Nguyễn Thanh Xuân - Trường Cao đẳng thủy sản, Bộ Thủy sản
CHỮ VIẾT TẮT
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ
SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾ
11
1.1. Chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp trong nền kinh tế thị trường. 11
1.2. Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế tới chính sách hỗ trợ sản xuất
nông nghiệp.
35
1.3. Kinh nghiệm một số quốc gia có điều kiện tương đồng với Việt Nam
về chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp.
48
Chương 2:
THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ SẢN XUẤT NÔNG
NGHIỆP Ở VIỆT NAM THỜI GIAN QUA
64
2.1. Quá trình hình thành hệ thống luật pháp, chính sách hỗ trợ sản xuất
nông nghiệp ở Việt Nam.
64
2.2. Thực trạng chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp. 70
Chương 3:
QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC HOÀN THIỆN CHÍNH
SÁCH HỖ TRỢ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TRONG HỘI
NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
134
3.1. Những quan điểm cơ bản về hoàn thiện chính sách hỗ trợ sản xuất
nông nghiệp ở Việt Nam.
134
nước ta, đặ
c biệt kể từ sau đổi mới.
Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5-8-2008 của Hội nghị lần thứ bảy
Ban Chấp hành Trung ương khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã
chỉ rõ những thành tựu chủ yếu của các chính sách hỗ trợ sản xuất nông
nghiệp (SXNN) trong quá trình đổi mới như: nông nghiệp tiếp tục phát triển
với tốc độ khá cao theo hướng sản xuất hàng hoá (SXHH); năng suất, chất
lượng và hi
ệu quả của sản xuất nông nghiệp được nâng cao không ngừng,
tạo cơ sở đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia; một số mặt hàng
xuất khẩu chiếm vị thế cao trên thị trường thế giới; kinh tế nông thôn đã có
bước chuyển dịch theo hướng tăng công nghiệp, dịch vụ, ngành nghề; các
hình thức tổ chức sản xuất tiếp tục đổ
i mới; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
được tăng cường; đời sống vật chất và tinh thần của dân cư ở hầu hết các
vùng nông thôn ngày càng được cải thiện; công tác xóa đói, giảm nghèo đạt
kết quả to lớn, hệ thống chính trị ở nông thôn được củng cố và tăng cường,
an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, vị thế chính trị củ
a
giai cấp nông dân ngày càng được nâng cao.
Bên cạnh đó Hội nghị cũng chỉ ra những hạn chế vướng mắc đang tồn
tại trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta ngày nay như, 1
Hồ Chí Minh: Toàn tập, H.2000, Nxb. CTQG, t.7, tr.16-17.
2
những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và chưa
đồng đều giữa các vùng. Nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, tốc độ
của hoạt động đó?.
Làm thế nào để xây dựng được các chính sách hỗ trợ SXNN vừa
không vi phạm các cam kết gia nhập WTO, vừa thúc đẩy sự phát triển của
nền nông nghiệp nước ta theo hướng hiệu quả, bền vững …
Việc hoạch định và thực thi những chính sách hỗ trợ SXNN có hiệu
quả phù hợp với thông lệ quốc tế đòi hỏ
i phải tiếp tục đào sâu nhận thức về
vị trí, vai trò của nông nghiệp, nông dân, nông thôn hiện nay cùng với các
3
cam kết hội nhập về nông nghiệp, từ đó hình thành một cách có hệ thống các
quan điểm lý luận về phát triển nông nghiệp tạo cơ sở khoa học cho việc xây
dựng và thực thi những cơ chế, chính sách và giải pháp hỗ trợ SXNN nước
ta thời gian tới. Từ những lý do trên, tác giả đã lựa chọn vấn đề “Chính sách
hỗ trợ SXNN ở nước ta trong điều kiệ
n hội nhập kinh tế quốc tế” làm đề tài
nghiên cứu khoa học cấp Bộ tuyển thầu năm 2009 theo Thông báo của Học
viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Về chính sách hỗ trợ SXNN nói chung và chính sách hỗ trợ SXNN
trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng, đã có nhiều công trình
khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu.
Học giả kinh tế Nga Pavlov P.N. đề cập tới v
ấn đề hỗ trợ SXNN thông
qua các chương trình quản lý điều tiết đối với tài nguyên đất đai và các chính
sách khuyến khích bảo vệ môi trường trong SXNN.
Nổi bật trong số các công trình nghiên cứu về chính sách hỗ trợ SXNN
nói chung và đối với Việt Nam nói riêng là các báo cáo của các tổ chức quốc
tế do các nhóm chuyên gia trong và ngoài nước tham gia soạn thảo.
Nhóm các tổ chức Liên Hợp Quốc tại Việt Nam trong Báo cáo “Hội
dụng tới 10 phần trăm giá trị sản xuất cho trợ cấp (trừ phần thanh toán theo
“hộp xanh” không định mức trần, và những trợ cấp cho nông dân nghèo thu
nhập thấp và thiếu nguồ
n lực, không nằm trong các cam kết cắt giảm), mà
còn có thể sử dụng những hình thức hỗ trợ nội địa khác có lợi cho nông dân
thu nhập thấp và thiếu nguồn lực mà không có tác động làm biến dạng
thương mại.
Báo cáo “Việt Nam - Thúc đẩy Công Cuộc Phát triển Nông thôn - Từ
Viễn cảnh tới Hành động” do nhóm cán bộ của Ngân hàng Thế giới (WB)
soạn thảo năm 2005 đặc biệt nhấn mạnh đến
đa dạng hóa nông nghiệp, cho
rằng hỗ trợ cho người SXNN có thể chia thành 3 dạng:
Một là, áp đặt thuế nhập khẩu và giới hạn nhập khẩu, việc này làm
tăng giá trong nước (người tiêu dùng gánh chịu);
Hai là, hỗ trợ xuất khẩu (người dân đóng thuế gánh chịu),
Ba là, bao cấp cho người nông dân cả đầu vào và đầu ra (người dân
đóng thuế gánh chịu).
Kinh nghiệm từ khu vực Đông Á cho thấy những chính sách h
ỗ trợ
nông nghiệp trung lập đối với các loại cây trồng sẽ giúp giảm chi ngân sách
của chính phủ và thúc đẩy đa dạng hoá bền vững theo nhu cầu thị trường, tập
trung vào chức năng dịch vụ công như xây dựng chính sách, các chức năng
quản lý, kiểm soát và đánh giá. Hỗ trợ sản xuất như nghiên cứu, khuyến
nông, cơ sở hạ tầng công cộng, và tiếp thị là quan trọng và hợp lý; c
ần phải
đảm bảo rằng ba trụ cột then chốt của phát triển nông thôn (định hướng thị
5
trường, quản lý tài nguyên thiên nhiên bền vững, tham gia và trao quyền cho
cộng đồng) được lồng ghép với nhau trong tất cả các chương trình và dự án.
Bản tổng hợp khuyến nghị chính sách (PAB) số 7 “Chính sách phát
triển nông thôn mới” của tác giả Jan Rudengre thuộc Chương trình hỗ trợ
quốc tế ISG ngày 8-1-2008 có đề xuất các giải pháp về tài chính cho phát
triển nông thôn như phân bổ tài chính nhiều hơn cho phát triển nông thôn và
6
kêu gọi sự hỗ trợ hơn nữa từ các nhà tài trợ, đầu tư và quan tâm nhiều hơn
nữa đối với duy tu và bảo dưỡng các công trình, đặc biệt là các công trình
thủy lợi do miễn thuỷ lợi phí, quan tâm hợp lý tới tài chính cho công tác
nghiên cứu, phát triển và marketing .
Nhìn chung các công trình kể trên đều tập trung vào luận giải những khó
khăn, thách thức mà nông nghiệp Việt Nam đang và sẽ phải đối mặt khi thực
hiện các quy định c
ủa WTO về nông nghiệp. Tuy nhiên, các báo cáo này cũng
chỉ rõ những hình thức hỗ trợ có thể và cần phải tiếp tục thực hiện để thúc đẩy
sự phát triển của nông nghiệp Việt Nam trong xu thế tiếp tục hội nhập.
Các công trình nghiên cứu của Việt Nam về chính sách hỗ trợ SXNN
trong hội nhập kinh tế quốc tế cũng xuất hiện khá nhiều trong những năm
gần đây dưới d
ạng tài liệu hội thảo, báo cáo và bài viết.
Hội thảo khu vực Tây Bắc được hỗ trợ bởi SNV Việt Nam, Veco,
Oxfam Anh “Ảnh hưởng có thể của WTO đến sản phẩm nông nghiệp vùng
Tây Bắc, Việt Nam” ngày 12-5-2004, cho rằng nên sử dụng các hình thức hỗ
trợ nông nghiệp trong hội nhập kinh tế quốc tế như chương trình nâng cao
chất lượng giống, vật nuôi, cây trồng, hỗ trợ vật tư, thuố
c thú y, bảo vệ thực
vật, nâng cao năng suất, hạ giá thành đồng thời phát triển cơ sở hạ tầng nông
nghiệp phát triển nông thôn thông tin thương mại.
Chính sách khuyến khích tiêu thụ hàng nông sản của chính phủ thông
qua các hợp đồng của chính phủ. Hỗ trợ cho nông dân về: phát triển cơ sở hạ
cam kết WTO như:
Một là, nghiên cứu xây dựng một chính sách “cả gói” giải quyết vấn
đề “tam nông” phù hợp với điều kiện Việt Nam trong khuôn khổ thực hiện
các cam kết WTO.
Hai là, có biện pháp tích cực và quyết liệt nhằm khắ
c phục cách nghĩ,
cách làm, cách sống của người “tiểu nông” trong quá trình hội nhập.
Ba là, phát huy vai trò quản ký của nhà nước, tranh thủ thời gian để
thay đổi những tập quán sản xuất, kinh doanh không phù hợp với xu hướng
hội nhập.
Bốn là, khai thác tối đa những ưu đãi của WTO đối với các nước
thành viên thuộc diện đang phát triển để nông nghiệp, nông thôn và nông
dân hội nhập có hiệu quả.
Một s
ố tác giả nghiên cứu về vòng đàm phán Doha theo phương diện
những khó khăn trong đàm phán và thách thức đối với các nước đang phát
triển như Đỗ Phương Anh “Nông nghiệp trong vòng đàm phán Doha: Câu
hỏi chưa có lời giải đáp” (Tạp chí Tài chính, số 504/10-2006, tr.51-52); Võ
Trí Thành, Nguyễn Anh Tú “Một số vấn đề và thách thức của vòng đàm
phán Doha đối với các nước đang phát triển” (Tạp chí Những vấn đề kinh tế
thế giới, số 11, 2005, tr.13-21); Bùi Thanh Hải “Vòng đàm phán Doha: Các
8
nội dung về cắt giảm thuế quan và tác động đối với Việt Nam” (Tạp chí Tài
chính số 511/5-2007, tr.49-52); Lê Thanh Lâm (2007), “Đàm phán nông
nghiệp trong vòng đàm phán Doha: thực trạng và nguyên nhân”
().
Nhiều tác giả tiếp cận tới nghiên cứu các chính sách hỗ trợ SXNN
trong điều kiện của WTO như Chu Ngọc Sơn “Một số khuyến nghị về chính
sách thương mại nông nghiệp trong quá trình gia nhập Tổ chức thương mại
3. Mục tiêu của đề tài
Phân tích, đánh giá mức độ phù hợp của các chính sách hỗ trợ SXNN
ở nước ta thời gian qua so với yêu cầu của thông lệ quốc tế, đặc biệt là các
quy định của WTO, đề xuất các quan điểm, giải pháp nhằm tiếp t
ục hoàn
thiện các chính sách hỗ trợ SXNN ở nước ta theo hướng vừa phù hợp với các
cam kết quốc tế, vừa thúc đẩy phát triển nền nông nghiệp hiện đại, tạo cơ sở
bền vững cho giải quyết vấn đề nông dân và nông thôn trong thời gian tới,
đặc biệt là đến 2018 khi Việt Nam trở thành một quốc gia có nền kinh tế thị
trường đầy đủ.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứ
u của đề tài
Để đạt được mục tiêu đó, đối tượng nghiên cứu của đề tài này là các
chính sách hỗ trợ SXNN tương thích với các cam kết của Việt Nam trong
WTO. Phạm vi nghiên cứu của đề tài là một số chính sách, chương trình, dự
án hỗ trợ SXNN chủ yếu từ Đại hội IX (năm 2001) đến nay. Đồng thời, đề
tài đề xuất hệ thống quan điểm, giải pháp nhằm tiếp t
ục hoàn thiện các chính
sách hỗ trợ SXNN đến năm 2020 phù hợp với các cam kết gia nhập WTO
của Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử để phân tích các vấn đề lý luận và thực tiễn;
- Sử dụng các phương pháp thống kê, phân tích, lôgíc kết hợp với lịch sử,
tổng kết, đánh giá quá trình hình thành thể chế kinh tế th
ị trường ở Việt Nam;
- Kế thừa một cách có chọn lọc kết quả của các công trình nghiên cứu
trước đây và cập nhật những thông tin mới về chủ đề nghiên cứu.
- Khảo sát thực tiễn, lấy ý kiến chuyên gia.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
vừa mang những đặc điểm riêng. Để hiểu rõ về khái niệm chính sách hỗ trợ
SXNN, trước hết cần làm rõ các khái niệm chính sách, chính sách kinh tế.
Cho đến nay, khái niệm chính sách được đề cập tới trong nhiều công
trình nghiên cứu khác nhau. Theo từ điển Bách khoa toàn thư mở, “
Chính
sách là tập hợp các chủ trương và hành động về phương diện nào đó của
chính phủ nó bao gồm các mục tiêu mà chính phủ muốn đạt được và cách
làm để thực hiện các mục tiêu đó. Những mục tiêu này bao gồm sự phát triển
toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - xã hội - môi trường”
1
.
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư của Viện Từ điển học và Bách khoa
thư Việt Nam thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam, chính sách là “những
chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ; được thực hiện trong một
thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và
phương hướng củ
a chính sách tuỳ thuộc tính chất của đường lối, nhiệm vụ
chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội Muốn định ra chính sách đúng phải căn
cứ vào tình hình thực tiễn trong từng lĩnh vực, từng giai đoạn, phải vừa giữ
vững mục tiêu, phương hướng được xác định trong đường lối, nhiệm vụ
chung, vừa linh hoạt vận dụng vào hoàn cảnh và điều kiện cụ th
ể”
2
.
Trong Tập bài giảng Chính trị học dùng cho hệ cao cấp lý luận chính
trị của Viện Khoa học chính trị thuộc Học viện Chính trị - Hành chính Quốc
gia Hồ Chí Minh (2004) đã nêu ra: “Chính sách là khái niệm chi phối sự
hiểu biết của chúng ta về việc thực thi quyền lực nhà nước”
3
. Theo ý kiến
Theo định nghĩa trên, chính sách là phạm trù thuộc về hành động chủ
quan phụ thuộc vào ý chí của nhà nước. Tuy nhiên, mục tiêu tạo ra những
biến đổi nhất định trong quan hệ xã hội của chính sách chỉ có thể đạt được
hiệu quả khi bản thân chính sách có nội dung phù hợp với sự vận động
khách quan của những quan hệ xã hội đó, do vậ
y bên cạnh tính chủ quan,
chính sách luôn cần dựa trên cơ sở khách quan là hoạt động của các quy luật
khách quan vốn có của xã hội nói chung cũng như của từng lĩnh vực cụ thể
của đời sống xã hội nói riêng.
Xuất phát từ tính chủ quan của chính sách với tư cách là tác động của
một nhà nước cụ thể, trong điều kiện xã hội có giai cấp, chính sách luôn
mang bản chất giai cấp, được hoạch
định và thực thi trên cơ sở những lợi ích
nhất định của giai cấp cầm quyền, do vậy thông thường khi giai cấp cầm
quyền đại diện cho tiến bộ xã hội thì các chính sách của nhà nước đại điện
cho những lợi ích đó cũng mang tính tiến bộ, có tác động đẩy nhanh sự phát
triển của xã hội. Ngược lại, khi giai cấp cầm quyền đã trở thành lỗi thời thì 1
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Khoa học chính trị (2004): Tập bài giảng Chính trị học
(Hệ cao cấp lý luận chính trị), Nxb Lý luận chính trị, H., tr.234-235.
13
các chính sách của nhà nước đại diện cho lợi ích của giai cấp cầm quyền có
thể trở thành vật cản đối với sự phát triển của xã hội. Mặc dù vậy, với tư
cách là hoạt động chủ quan của nhà nước với những mục tiêu xác định, trong
những điều kiện lịch sử cụ thể, để duy trì và củng cố địa vị thống trị củ
a
mình, giai cấp cầm quyền có thể thông qua nhà nước thực hiện những chính
tế hiện nay của Nhà nước là xây dựng nền kinh tế SXHH nhiều thành phần 1
14
phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), thực hiện cơ chế thị
trường có sự quản lí của Nhà nước, nhằm giải phóng mọi năng lực sản xuất
hiện có, xây dựng một nền kinh tế phát triển với cơ cấu công nghiệp - nông
nghiệp - dịch vụ mở rộng và hợp tác kinh tế quốc tế; xây dựng nền kinh tế
theo hướng công nghiệp hoá, hi
ện đại hoá (CNH, HĐH)”
1
.
Theo từ điển Bách khoa toàn thư của Nga, chính sách kinh tế là hệ
thống những biện pháp kinh tế được thực thi bởi nhà nước trên cơ sở lợi ích
của giai cấp thống trị trong các hình thái kinh tế-xã hội trước chủ nghĩa xã hội
và trên cơ sở lợi ích của toàn xã hội trong chủ nghĩa xã hội (CNXH). Chính
sách kinh tế là một lĩnh vực của khoa học kinh tế. Nội dung xã hội, mục đích
và vi
ệc lựa chọn phương tiện để thực hiện chính sách kinh tế được quyết định
bởi tính chất của chế độ xã hội, quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất. Với tư
cách là yếu tố chính trị, chính sách cũng là sự biểu hiện tập trung của kinh tế,
của phương thức sản xuất lịch sử nhất định. Chính sách kinh tế được ho
ạch
định và thực thi bởi chính đảng cầm quyền chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố:
cán cân lực lượng giai cấp, mức độ phát triển của đấu tranh giai cấp trong
nước và quốc tế, tình trạng hòa bình hay chiến tranh
2
tế trong những điều kiện lịch sử cụ thể nhất định. Trong điều kiện nền kinh
tế thị trường hiện
đại, việc hoạch định và thực thi chính sách kinh tế cần phải
dựa vào hoạt động của các quy luật thị trường như quy luật giá trị, cung cầu,
cạnh tranh, lưu thông tiền tệ
Sự cần thiết khách quan của chính sách kinh tế trong quá trình phát
triển của kinh tế thị trường xuất phát từ yêu cầu phải nhận thức khoa học về
hoạt động của các quy luật thị trường để kh
ắc phục những mặt trái mang tính
tự phát và phát huy những điểm mạnh của cơ chế thị trường đẩy nhanh phát
triển kinh tế-xã hội. Sự cần thiết khách quan của chính sách kinh tế xuất phát
từ sự cần thiết khách quan của sự điều tiết kinh tế của nhà nước trong nền
kinh tế thị trường, do vậy, trong nền kinh tế thị trường, chính sách kinh tế
đồng thời thể
hiện chức năng nhiệm vụ kinh tế của nhà nước.
Ngày nay đã hình thành nhận thức chung tương đối thống nhất về sự
cần thiết của vai trò kinh tế của nhà nước trong nền kinh tế thị trường, tuy
nhiên vẫn còn những quan điểm khác nhau về phạm vi và mức độ chức
năng, vai trò của nhà nước. Các nhà kinh tế theo trường phái trọng cầu đặc
biệt coi trọng và nhấn mạ
nh vai trò kinh tế của nhà nước, cho rằng cần mở
rộng phạm vi, tăng cường mức độ điều tiết kinh tế của nhà nước, trong khi
các học giả theo chủ nghĩa tự do kinh tế mới lại cho rằng cần giảm thiểu sự
điều tiết kinh tế của nhà nước, nhà nước chỉ nên có mặt vào những lúc,
những nơi mà cơ chế thị trường không thể phát huy tác dụ
ng tích cực và phải
ngừng ngay sự can thiệp khi cơ chế thị trường có thể tự giải quyết được vấn
đề, nói cách khác vai trò kinh tế chủ yếu của nhà nước là hỗ trợ thị trường.
Quan điểm tương đối phổ biến ngày nay cho rằng, nền kinh tế thị trường
ngày nay là nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước, hay nền kinh
nước đối với sản xuất kinh doanh nông nghiệp. Các cơ quan chính quyền
nhiều khi phải can thiệp điều tiết giá cả nông sản, thiết lập mức giá sàn để
đảm bảo thực hiện sản xuất bình thường trong phạm vi nhu cầu xã hội và
cung cấp tín dụng nhà nước. Việc sử dụng tín dụng ưu đãi khi nhà nước chịu
một phần lãi suất ho
ặc cung cấp tín dụng nhà nước với lãi suất ưu đãi (theo
thông lệ không quá 5%) đã trở thành phổ biến ở nhiều quốc gia. Nhà nước
thực hiện trợ cấp cho các hoạt động hiện đại hóa trong nông nghiệp cũng
như những lĩnh vực kinh doanh nông nghiệp khác, xây dựng, nâng cấp, phát
triển kết cấu hạ tầng nông thôn (kho trữ nông sản, hệ thống giao thông
Nhà nước tham gia điều tiết quan hệ s
ở hữu và sử dụng đất nông nghiệp,
thực hiện biện pháp cắt giảm sản lượng một số loại nông sản bằng cách thu
hẹp diện tích sản xuất, chi trả trợ cấp hưu trí cho nông dân Như vậy, trong 1
17
điều kiện ngày nay, nhà nước tại các quốc gia đang thực hiện những chính
sách nông nghiệp nhất định.
Trên thế giới ngày nay có nhiều quan niệm khác nhau về chính sách
nông nghiệp. Theo từ điển Finam.ru, chính sách nông nghiệp là quan điểm
chiến lược của nhà nước hướng tới nâng cao hiệu quả SXNN và bảo vệ lợi
ích kinh tế của các đại biểu lĩnh vực nông nghiệp
1
.
Theo Jakovlev A.P (2002), chính sách nông nghiệp là tổng thể những
nguyên tắc và công cụ mà nhà nước sử dụng để thực hiện những mục tiêu
1
2
Jakovlev A.P (2002): Chính sách nông nghiệp theo vùng: tiền đề, nguyên tắc và cơ chế hình thành.
3
18
Theo tiêu chí chủ quan, chính sách nông nghiệp có thể phân thành
chính sách hỗ trợ người tiêu dùng và chính sách hỗ trợ người sản xuất. Nhóm
chính sách thứ nhất hướng tới giảm giá đồng thời tăng cung nông sản trên thị
trường nội địa. Thông thường, tại các nước đang phát triển áp dụng chương
trình mục tiêu chi trả trợ cấp lương thực cho các tầng lớp dân cư có thu nhập
thấp, thực hiện sự can thiệp củ
a nhà nước vào thị trường hàng hóa, thiết lập
trợ cấp nhập khẩu và hạn chế xuất khẩu bằng thuế và hạn ngạch. Chính sách
hỗ trợ người sản xuất hướng tới nâng cao hiệu quả SXNN dựa vào tăng giá
nông sản hoặc giảm chi phí sản xuất bằng cách trợ cấp trực tiếp
1
.
Từ những quan niệm kể trên có thể rút ra, chính sách nông nghiệp là
bộ phận của hệ thống chính sách kinh tế của nhà nước, thể hiện tác động của
nhà nước tới lĩnh vực nông nghiệp. Trong điều kiện ngày nay, nông nghiệp,
nông thôn, nông dân là lĩnh vực đặc biệt quan trọng của đời sống kinh tế - xã
hội của mỗi quốc gia, sự ổn định trong lĩnh vực này là tiền đề cho sự
ổn định
của toàn xã hội, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế
quốc tế. Cho nên chính sách nông nghiệp tại mọi quốc gia ngày nay đều chủ
yếu hướng vào hỗ trợ đảm bảo sức cạnh tranh của sản xuất nông nghiệp
Nông nghiệp là ngành sản xuất mà sản phẩm chủ yếu là nông sản, do đó vai
trò của nông nghiệp đối với phát triển kinh tế - xã hội được thể hiện rõ thông
qua các chức năng:
Một là, cung cấp lương thực, thực phẩm để nuôi sống xã hội. Ngay từ
khi xã hội loài người mới hình thành, SXNN đ
ã trở thành hoạt động kinh tế
đầu tiên có tính xã hội, thể hiện văn minh nhân loại trong sự khác biệt với bộ
phận còn lại của thế giới. Nhờ sự hình thành và phát triển của SXNN mà loài
người có thể duy trì và nâng cao được được đời sống của mình. Kế thừa
quan niệm duy vật về lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã chỉ rõ: “Muốn nâng cao đời sống c
ủa nhân dân thì trước hết phải
giải quyết tốt vấn đề ăn (rồi đến vấn đề mặc và các vấn đề khác). Muốn giải
quyết tốt vấn đề ăn thì phải làm thế nào cho có đầy đủ lương thực. Mà lương
thực là do nông nghiệp sản xuất ra. Vì vậy, phát triển nông nghiệp là việc
cực kỳ quan trọng”
1
.
Trong quá trình phát triển của lịch sử nhân loại, sự phát triển của nông
nghiệp đã tạo ra và không ngừng củng cố, phát triển cơ sở của đời sống xã
hội. Mặc dù nông nghiệp ngày nay đã có bước phát triển vượt bậc nhờ
nghiên cứu và ứng dụng KH-CN hiện đại, tuy nhiên việc ứng dụng những
tiến bộ KH-CN để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả củ
a SXNN mới
chỉ chủ yếu được thực hiện tại các quốc gia phát triển, còn tại các quốc gia
đang phát triển thì thực trạng phát triển nông nghiệp nhìn chung vẫn đang
trong trình độ rất thấp do nhiều nguyên nhân như thiếu vốn, công nghệ, nhân
lực chất lượng cao, thị trường tiêu thụ nông sản , do đó, đói, nghèo vẫn
đang là vấn đề vô cùng bức xúc đối với nhân loại nói chung và đặc biệt là
Tại hầu hết các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam, nông
dân đang chiếm tỷ lệ rất lớn trong tổng dân số và luôn là lực lượng kinh tế,
chính trị đặc biệt quan trọng. Việc thúc đẩy SXNN là điều kiện cần thiết để
đảm bảo cho nông dân thực hiện được hoạt động sản xuất chủ yếu và thực
hiện lợi ích kinh tế của mình, do
đó ở nước ta, các chính sách hỗ trợ nông
nghiệp có tác dụng thúc đẩy SXNN phát triển phải được coi là công cụ đặc
biệt quan trọng của giai cấp công nhân và nhà nước của dân, do dân và vì
dân để tạo cơ sở kinh tế và chính trị vững chắc cho củng cố liên minh công -
nông, từ đó đảm bảo ổn định chính trị, kinh tế - xã hội và an ninh quốc
phòng cho sự phát triển của đất nước theo con đường chủ nghĩa xã hội.
1
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, H.2000, t.10, tr.414.