Dịch chuyển lao động từ khu vực nhà nước sang tư nhân từ 2005 đến nay - Thực trạng và giải pháp - Pdf 13


HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH

BÁO CÁO
TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ NĂM 2011

Mã số: B.11.13

Tên đề tài:

DỊCH CHUYỂN LAO ĐỘNG TỪ KHU VỰC NHÀ NƯỚC
SANG TƯ NHÂN TỪ 2005 ĐẾN NAY
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Cơ quan chủ trì: Viện Kinh tế
Chủ nhiệm đề tài: TS Phạm Ngọc Dũng
Thư ký đề tài: Hoàng Thị Hường 9107 HÀ NỘI -2011

KH-ĐT Kế hoạch - đầu tư
LLSX Lực lượng sản xuất
NHNN Ngân hàng Nhà nước
THVN Truyền hình Việt Nam
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
TCT Tổng công ty
TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh
TTTON Thụ tinh trong ống nghiệm
UBTVQH Uỷ ban Thường vụ Quốc hộ
i
UNDP Chương trình Phát triển Liên hợp quốc
PVS Phỏng vấn sâu
VAFI Hiệp hội Các nhà đầu tư tài chính
VBQPPL Văn bản quy phạm pháp luật
VINASHIN Tập đoàn Tàu thuỷ Việt Nam
VNPT Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam

MỤC LỤC Trang

Mở đầu
1

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DỊCH CHUYỂN
LAO ĐỘNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
DỊCH CHUYỂN LAO ĐỘNG TỪ KHU VỰC VỰC NHÀ
NƯỚC SANG TƯ NHÂN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 88
3.1
Quan điểm đối sách về vấn đề dịch chuyển lao động từ khu vực
nhà nước sang tư nhân
88
3.2
Một số đối sách đối với vấn đề
dịch chuyển lao động từ khu vực
nhà nước sang tư nhân ở Việt Nam hiện nay
97

Kết luận
109
Danh mục tài liệu tham khảo 111 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Dịch chuyển nguồn nhân lực từ khu vực này sang khu vực khác là hiện
tượng thường thấy trên thị trường lao động ở nhiều nước trên thế giới. Ngày
nay, do sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học và công nghệ, hiện
tượng dịch chuyển này đã và đang diễn ra với mức độ, quy mô ngày càng lớn.
Sự mở ra c
ủa thị trường quốc tế và khu vực, dòng đầu tư trong và ngoài nước
luân chuyển, vận hành, còn làm xuất hiện hoạt động dịch chuyển lao động qua

riêng để kinh doanh.
Gần đây, khuynh hướng này còn gia tăng và thường thấy ở đội ngũ cán bộ
trẻ có chuyên môn sâu, k
ỹ thuật cao. Đã có không ít cơ sở thuộc khu vực Nhà
nước phải đối phó với hiện tượng này bằng cách đưa ra quy chế về tuyển dụng,
đào tạo để “giữ chân” người lao động trong cơ sở của mình. Ngược lại, cũng đã
có không ít cơ sở kinh tế thuộc khu vực tư nhân, nhất là các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài đã biết lợi dụng thị trườ
ng lao động để “thu hút “chất xám” từ
các cở thuộc khu vực Nhà nước. Đồng thời, cũng đã có người đang làm việc từ
các cơ sở ngoài khu vực Nhà nước tìm cách để có được biên chế trong khu cực
nhà nước.
Dịch chuyển lao động từ khu vực Nhà nước sang tư nhân đã và đang là một
thực tế khách quan. Nó không chỉ tác động đến việc khai thác và sử dụng các
nguồn lực cho sự tăng tr
ường và phát triển kinh tế, liên quan đến tính hiệu quả
của một nền kinh tế, mà còn là một vấn đề có quan hệ đến sự ổn định và phát
triển xã hội, vấn đề liên quan đến chất lượng đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt
động của bộ máy Nhà nước ở nước ta hiện nay. Hiện tượng này cần được giải
thích về mặt lý luận, phân tích về mặt thực tiễn m
ột cách có hệ thống, tìm rõ căn
nguyên và tác động của nó trong đời sống kinh tế - xã hội để chủ động vận dụng
và điều chỉnh. Đề tài mà tác giả lựa chọn để nghiên cứu là: “Dịch chuyển lao
động từ khu vực Nhà nước sang tư nhân ở Việt Nam từ 2005 đến nay - thực trạng
và giải pháp” được đặt ra bắt nguồn từ yêu cầu có tính thời sự nêu trên.
2. Tình hình nghiên cứ
u liên quan đến đề tài
2.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Hiện tượng dịch chuyển lao động từ nơi này sang nơi khác đã được nhiều
nhà kinh tế, chính trị xã hội như Adam Smith, Các Mác, After Marshall, John

n kinh tế thị
trường là một quy luật; Tình hình dịch chuyển lao động thường xuyên xảy ra và
trong hoàn cảnh cụ thể từng doanh nghiệp, từng vùng, từng quốc giá, thường là
lao động chuyên môn, kỹ thuật cao ở các nước đang phát triển sang các nước phát 1
Scientists predict agricultural brain drain

4
triển; Các tác giả đã vận dụng lý thuyết kinh tế, lý luận về lãnh đạo quản lý để
giải thích, đánh giá các hiện tượng dịch chuyển lao động, đồng thời đưa ra các đối
sách để khắc phục. Đây là nguồn tài liệu quan trọng về lý luận, thực tiễn để
nghiên cứu vấn đề dịch chuyển lao động từ khu vực Nhà nước sang khu vực tư
nhân ở Vi
ệt Nam hiện nay.
2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Sau hơn 25 năm đổi mới, nước ta đã chuyển đổi thành công từ thể chế kinh
tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang thể chế kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa. Ðường lối đổi mới của Ðảng đã được thể chế hóa thành Hiến pháp,
tạo hành lang pháp lý cho nền kinh tế thị trường phát triể
n. Các loại thị trường đã
ra đời và từng bước phát triển gắn với thị trường khu vực và thế giới. Đại hội x
của Đảng Cộng sản Việt Nam (2006) khẳng định, tiếp tục hoàn thiện thể chế thị
trường, “phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả sự vận hành các loại thị trường
theo cơ chế cạnh tranh lành mạnh”
2
: thị trường hàng hóa và dịch vụ; thị trường tài
chính; thị trường bất động sản; thị trường khoa học & công nghệ và thị trường
sức lao động. Cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đã đi vào cuộc

nhu cầu nhân lực và Thông tin thị trường lao động thành phố Hồ
Chí Minh tiến
hành khảo sát về thực trạng sử dụng lao động tại 27.000 doanh nghiệp cũng cho
kết quả như vậy. Cán bộ, công chức xin thôi việc ở nước ta: Những vấn đề lý luận
và thực tiễn, luận văn thạc sỹ do Lê Minh Hương nghiên cứu năm 2009.
2.2.3. Các bài báo đăng trên các tạp chí:
Trong thời gian gần đây đã có nhiều bài báo viết về dịch chuyển lao động
t
ừ khu vực nhà nước sang khu vực tư nhân, Chẳng hạn như bài Chảy máu chất
xám thật không của Le Tien Dung đăng trên cynosura.org; bài Khi Ngân hàng
Nhà nước bị 'rút lõi' chất xám của Vân Anh đăng trên vietnamnet.vn, ngày
18/01/2008; bài Kiểm toán Nhà nước vất vả lo giữ chân người tài của Hà Yên
đăng trên ietnamnet.vn/kinhte, ngày 25/01/2008; bài Công chức 'cộng sinh' và
những nẻo đường ly tán của TS Ngô Thành Can, đăng trên vietnamnet.vn, ngày
14/09/2008; bài “Chảy máu chất xám Ngân hàng NN: Người ra đi nói gì?” của
VietNamNet đăng ngày 19/01/2008; bài Xu hướ
ng chuyển dịch lao động chuyên
môn cao quốc tế của TS Phạm Thị Thanh Bình; bài thành phố Hồ Chí Minh:
Người giỏi quay lưng khu vực Nhà nước của Phạm Cường; bài Đừng ngăn chảy
máu chất xám của Nguyễn Quang A; bài Đà Nẵng: chống "chảy chất xám" của
hcm.24h.com; thư ngỏ của một cán bộ Ngân hàng Nhà nước: 'Nếu không cải
thiện, tôi cũng đành ngậm ngùi ra đi'… Tóm lạ
i, qua các cuộc hội thảo, điều tra
khảo sát, các bài báo về dịch chuyển lao động bước đầu đã bàn đến:
a) Khái niệm về dịch chuyển lao động, tính hiệu quả của phát triển kinh tế
nhờ dịch chuyển lao động trong nền kinh tế thị trương;
b) Tình hình thực tế lao động khu vực nhà nước xin nghỉ việc trong những
năm qua ở trong nước và dịch chuyển lao động giữ
a các nước. Đồng thời, cũng


cứu của kinh tế học (trong đó có kinh tế chính trị học), của xã hội học và của khoa
học quản lý nhất là quản lý nhân sự trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường.
Kế thừa k
ết quả nghiên cứu của các nhà kinh tế và xã hội học trên các nguồn tài liệu

7
và thông tin, các cuộc hội thảo khoa học, sách, báo, tạp chí có liên quan đến đối
tượng nghiên cứu. Đồng thời, sử dụng các phương pháp đối chiếu và so sánh,
phương pháp phân tích và tổng hợp để giải quyết nội dung nghiên cứu của đề tài.
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp khảo sát, phân tích thực
tế di động lao động ở một số địa bàn trong nước bằng cách phỏng vấn và trắc
nghiệm phù h
ợp với tính chất nghiên cứu của đề tài.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài:Đề tài có ý nghĩa quan trọng về
lý luận và thực tiễn.
- Về lý luận, góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận về bản chất, hình thức biểu
hiện và hệ quả của di động lao động giữa hai khu vực nhà nước và tư nhân trong
điều kiện phát triển nền kinh tế th
ị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam.
- Về thực tiễn, đề tài là tài liệu tham khảo bổ ích góp phần hoàn thiện cơ
chế quản lý vĩ mô và vi mô về lao động; nâng cao nhận thức của người lao động
trong cơ chế mới; đồng thời là tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm nghiên
cứu, giảng dạy và xử lý vấn đề này.
Với ý nghĩa trên, nhóm tác giả s
ẽ sử dụng kết quả nghiên cứu để xã hội hóa
từng phần trên các phương tiện thông tin đại chúng và cố gắng đưa xuất bản
thành sách toàn bộ nội dung để phục vụ bạn đọc gần xa trong nước.
6. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và kết cấu của đề tài Đối tượng nghiên
cứu của đề tài là dịch chuyển lao động từ khu vực nhà nước sang tư nhân. Phạm vi

governance) của tổ chức. Di dân là một hiện tượng kinh tế - xã hội mang tính quy
luật, dịch chuyển lao động là một đòi hỏi tất yếu khách quan trong nền kinh tế thị
trường, là biểu hiện rõ nét nhất của sự phát triển không đồng đều giữa các khu
vực, các ngành, vùng miền lãnh thổ, giữa các quốc gia.
Dịch chuyển lao động góp ph
ần tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội. Cùng
với nhân tố vốn, tài nguyên…, sức lao động được xem là nguồn lực quan trọng
cho sự phát triển kinh tế, xã hội. Các nước đang phát triển như Việt Nam có đặc 4
là một nhà kinh tế học người Hoa Kỳ đoạt giải Nobel Kinh tế, Giải thưởng Nhà nước về Khoa học. Becker sinh
ra tại Pottsville, Pennsylvania, lấy bằng cử nhân tại Đại học Princeton (1951), tiến sỹ tại Đại học Chicago (1955).
Ông từng giảng ở Đại học Colombia một thời gian (1957-1968) trước khi về làm giáo sư Đại học Chicago đồng
thời ở ba khoa là khoa kinh tế học, khoa xã hội học và Trường Kinh doanh Booth. Becker được trao Giải John
Bates Clark vào năm 1967, và Giải Nobel Kinh tế vào năm 1992, Huân chương Tự do của Tổng thống Hoa Kỳ vào
năm 2007
5
C.Mác và Ph.Ăng ghen: Toàn tập, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội-2006, t.1, tr.822-823.

9
trưng bởi nền kinh tế kép
6
(dual economy) có lực lượng lao động dư thừa trong
nông nghiệp và năng suất lao động nông nghiệp thấp. Vì vậy, dịch chuyển người
lao động trong nền kinh tế thị trường là một trong những cách thức khai thác, tận
dụng nguồn nhân lực lao động và phân bổ nguồn nhân lực hiệu quả nhất. Thực tế
ở nhiều nước trên thế giới đã chỉ ra, dịch chuyển lao động là khía cạnh giá trị thự
c
chất nhất của cuộc sống kinh tế và xã hội bởi con người luôn tìm kiếm cơ hội để

quan, tổ chức này sang cơ quan, tổ chức khác, hoặc từ nước này sang nước khác
từ khu nhà nước sang tư nhân và ngược lại. Tuỳ thuộc vào ai được hưởng lợi hay
ai bị phương hại do các dịch chuyển lao động đó gây ra, mà người ta có thể nhìn
nhận việc dịch chuyển đó là tích cực hay tiêu cực.
1.1.2. Đặc trưng của dịch chuyển lao động trong nền kinh tế thị
trường. Giố
ng như các hiện tượng khác, dịch chuyển lao động cũng có những
nguyên tắc làm cơ sở cho sự hoạt động. Quan hệ cung - cầu là phương pháp cơ
bản để nghiên cứu hiện tượng dịch chuyển lao động. Nhưng, hàng hóa sức lao
động trong dịch chuyển có một số đặc điểm cần lưu ý khi tuyển dụng, quản lý và
sử dụng.
1.1.2.1. Đặc điểm củ
a hàng hóa sức lao động
Một là, hàng hóa sức lao động không tách khỏi sở hữu chủ. Trên thị trường
lao động, người mua chỉ có quyền sử dụng và làm chủ từng phần khả năng lao
động - sức lao động, mà nó hoạt động trong một khoảng thời gian nhất định.
Nhưng người mua không đơn giản là mua sức lao động như những loại hàng hóa
khác, mà có quan hệ với người có những quyền hạ
n nhất đỉnh như một cá nhân tự
do, mà anh ta phải tuân thủ. “Anh ta và người chủ tiền gặp nhau trên thị trường
và quan hệ với nhau với tư cách là những người chủ hàng hóa bình đẳng với
nhau”
7
;
Hai là, giữa người bán và người mua sức lao động có trách nhiệm phối
hợp hành động với nhau. Người mua (thuê) có trách nhiệm phối hợp hành động
tương đối dài với người bán. Điểm này đặt một dấu ấn trong mối quan hệ tương
hỗ hai bên và đóng một vai trò quan trọng trong quá trình lao động. Người lao
động, như một cá thể, có thể tự kiểm soát chất lượng công việc của mình với
nh

đang hoạt động, lao động thực tế thành lương danh nghĩa và kết thúc trong lĩnh
vự
c lưu thông của cải vật chất, có nghĩa là trên thị trường hàng hóa và dịch vụ
được trao đổi lương danh nghĩa thành phương tiện sống. Việc trao đổi hàng hóa
vật chất được bắt đầu và kết thúc trong lĩnh vực lưu thông hàng hóa vật chất. Từ
đặc điểm đó đưa đến hai kết quả: thứ nhất, thị trường lao động liên kết xung
quanh mình các thị trường hàng hóa khác nhau; thứ
hai, tiền công lao động thực
tế được thực hiện tương ứng với kết quả cuối cùng, có nghĩa là với giá sản phẩm 8
C. Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, T.19, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.35.

12
mà lao động đó làm ra. Điểm này đặt người sử dụng lao động phải thay đổi mức
lương phù hợp với nhu cầu và giá các hàng hóa vật chất trong từng giai đoạn;
Từ các đặc điểm của hàng hóa sức lao động, người sử dụng lao động cần
tính đến tiền lương, điều kiện lao động, tương lai công việc và triển vọng thăng
tiến c
ủa người lao động đề người lao động gắn bó với cơ quan, đơn vị. Đối với
người lao động vấn đề quan trọng không chỉ là tiền công và tiền lương, mà còn là
nội dung và điều kiện lao động, bảo đảm duy trì chỗ làm việc, tương lai công việc
và triển vọng thăng tiến trong nghề nghiệp, bầu không khí làm việc trong tập thể
và quan hệ giữa người lao độ
ng với người thuê lao động v.v…
1.1.2.2. Đặc trưng của dịch chuyển lao động
Lao động (labor) được liên kết thành nhóm người lao động, có vai trò khác
nhau trong hoạt động kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội. Nhóm thứ nhất - những
nhà kinh doanh, những người nông dân làm kinh tế độc lập, đang hoạt động lao

người đó phải có khả năng chi phối được sức lao động ấy, do đó, người đó phải là
kẻ tự do sở hữu năng lực lao động của mình, thân thể của mình”
10
, tức là phải
được tự do về thân thể, thứ hai, “anh ta không còn có một hàng hóa nào khác để
bán, nói cách khác là trần như nhộng, hoàn toàn không có những vật cần thiết để
thực hiện sức lao động của mình”
11
, tức là người lao động bị tước đoạt hết tư liệu
sản xuất, thì khái niệm này mới đạt được ý nghĩa kinh tế cụ thể.
Thị trường là một khái niệm rất tổng hợp, thị trường vật phẩm, thị trường
vốn, thị trường khoa học & công nghệ, thị trường lao động. Thị trường vật phẩm,
thị trường v
ốn hay thị trường khoa học & công nghệ được xác định rất cụ thể đối
tượng mua và bán, còn đối tượng mua và bán của thị trường lao động là gì? Thiết
nghĩ rằng, đó là câu hỏi không đơn giản. Một số các nhà kinh tế cho rằng, trên thị
trường lao động, người ta mua và bán “lao động”, các tác giả khác lại cho rằng,
trên thị trường lao động được mua và bán “sức lao động”. Nhà kinh tế người Mỹ
Ronald Erenberg và Robert Smith thì l
ại khẳng định, trên thị trường lao động
được mua và bán “dịch vụ lao động”, hay mua bán vốn con người…. 9
C.Mác và Ph.Ăng ghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội-2006, t.23, tr. 251.
10
C.Mác và Ph.Ăng ghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội-2006, t.23, tr. 251.
11
C.Mác và Ph.Ăng ghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội-2006, t.23, tr. 253.


ị thì
quá trình sản xuất là một quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa, là hình thái tư bản
chủ nghĩa của nền sản xuất hàng hoá"
14
. Ở đây còn thể hiện thêm một đặc điểm
nữa của sức lao động. Giá trị của những kết quả lao động, do sức lao động tạo ra, 12
C.Mác và Ph.Ăng ghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội-2006, t.23, tr. 250.
13
C. Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội-2006, tr.266.
14
C. Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội-2006, tr.294-295.

15
sẽ phải lớn hơn giá trị sức lao động, còn nếu không thì sẽ không có ai quan tâm
để mua nó. C.Mác đã chỉ rõ rằng, giá trị sử dụng của sức lao động chính là ở chỗ,
nó có khả năng tạo ra giá trị thặng dư và lợi nhuận từ nguồn vốn đầu tư. Vậy, khi
nào và cần những điều kiện gì thì sức lao động sẽ chuyển thành hàng hóa? Thực
tế cần 3 đ
iều kiện: Người lao động bị mất công cụ để sản xuất và phương tiện tồn
tại; Người lao động phải được tự do về mặt pháp lý, có khả năng hoàn toàn làm
chủ sức lao động của mình; Trên thị trường có người nắm giữ tư liệu sản xuất và
đồng thời có khả năng mua sức lao động.
Cùng với sự phát triển của Luật Lao động, ngườ
i lao động là người chủ sở
hữu sức lao động đã nhận được sự đảm bảo về mặt pháp lý nhiều hơn trong quá
trình đàm phán với người thuê lao động. Ký kết hợp đồng thuê cho phép người
làm thuê được tiếp cận tư liệu sản xuất, sức lao động được hoạt động, có nghĩa là

cùng là xác định người nào vào chỗ làm việc đó, vấn đề sẽ được người thuê lao
động quyết định. Khi đó người thuê lao động luôn có thể không chấp nhận hoặc
sa thải bất kỳ người công nhân nào mà anh ta cảm thấy không có lợi cho hoạt
động sản xuất kinh doanh của mình.
Những yếu tố cơ bản của thị trường lao động là: cầu sức lao độ
ng; cung sức
lao động; giá cả của sức lao động (tiền lương); cạnh tranh trên thị trường lao
động; cơ sở hạ tầng của thị trường lao động. Thị trường lao động bao gồm những
chủ thể sau: những người thuê lao động (người mua); những người làm thuê
(người bán); nhà nước và các đại diện của mình; các tổ chức môi giới trung gian.
Tất cả những người lao động làm thuê khi gặp b
ối cảnh thuận lợi đều sẵn sàng
thay đổi chỗ làm việc. Ngược lại, những người thuê lao động thì chỉ lựa chọn cho
mình những người làm thuê xuất sắc trong số những người đang làm việc.
Trong kinh tế hàng hóa, thị trường lao động được coi như một đầu tầu để
kéo theo sự chuyển động của các thị trường khác. Thông qua thị trường, dịch
chuyển lao động đảm b
ảo việc làm cho dân số tích cực kinh tế, kết nối họ vào lĩnh
vực sản xuất và dịch vụ, tạo khả năng cho họ nhận được những thu nhập thiết yếu
để tái sản xuất sức lao động của chính bản thân mình, cũng như nuôi sống gia
đình họ.
Dịch chuyển lao động sang chỗ làm việc thích hợp, nơi mà thành quả lao
động của họ có năng suất cao hơ
n và có cơ hội nhận được thu nhập cao hơn. Dịch
chuyển lao động bảo đảm việc sắp xếp lại dân số tích cực kinh tế trong trường
hợp cải cách cấu trúc nền kinh tế. Vấn đề này đặc biệt quan trọng và không kém

17
phần khó khăn khi những nước bước vào thời kỳ chuyển đổi, các xí nghiệp chịu
sự sắp xếp lại theo nhiều hướng khác nhau: sát nhập, giải thể, liên kết, liên doanh,


18
tư, tìm kiếm và sắp xếp công việc cho những người mới thất nghiệp các trường
đào tạo, cũng như những người trước đây không làm việc và chưa bao giờ tìm
kiếm việc làm, có nghĩa là di chuyển họ từ dân số không tích cực kinh tế vào dân
số tích cực kinh tế.
1.2. Một số quy luật và lý thuyết liên quan đến dịch chuyển lao động
trong nền kinh tế thị trườ
ng
Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và trao đổi, đặc biệt cách
mạng KH&CN và phát triển thị trường toàn cầu, hiện tượng dịch chuyển lao
động, nhất là lao động có tay nghề cao từ nơi này sang nơi khác là tất yếu khách
quan. Nhiều nhà kinh tế, chính trị xã hội như Adam Smith (1723-1790) với tác
phẩm The Wealth of Nations (của cải của các dân tộc); Các Mác ( 5/5/1818-
14/3/1883) với tác phẩm Tư bản; After Marshall (1842-1924) v
ới tác phẩm
Principles of Economics (Những nguyên lý của kinh tế học); John Bates Clark
(1847-1938) với The Distribution of Wealth (Việc phân phối của cải); J. M.
Keynes (1883-1946) với The General Theory of Employment, Interest and Money
(Lý thuyết về việc làm, lãi suất và tiền tế); Paul Samuelson (1915-2009) với
Foundations of Economic Analysis (Cơ sở của phân tích kinh tế)… đã nghiên cứu
thị trường lao động và đưa ra những định lý, lý thuyết về tính hiệu quả của thị
trường (Efficlent markets), thu nhập, tiền công, ti
ền lương, việc làm, … đều
khẳng định dịch chuyển lao động là quy luật, mà một trong tín hiệu của nó là giá
cả sức lao đông (tiền lương). Từ khi Alfred Marshall (1842 - 1924) tiếp thu lý
luận của Ricardo (18-4-1772 đến 11-9-1823), bổ sung bằng các lý luận về thỏa
dụng và tính thỏa dụng cận biên, Leon Walras (16-10-1834 đến 5-1-1910)
và Vilfredo Pareto (15-7-1848 đến 19-8-1923) và Francis Ysidro Edgeworth (8-2-
1845 đến 13-2-1926) đã phát triển kỹ thuật phân tích cân bằng tổng thể (General

ời kỳ nào đó. Sẵn sàng mua có nghĩa là
người mua sẽ thực sự sẵn sàng trả lương cho số lượng cầu. Điều này rất quan trọng
để phân biệt giữa số lượng cầu và số lượng thực sự mua.
Lượng hàng hóa sức lao động mà một cá thể có nhu cầu, khi có đủ ngân
sách để mua tại một thời điểm nhất định với mức giá (lương) xác định gọi
là lượng cầu. Như vậy, có thể thấy số lượng cầu hàng hóa sức lao động phụ thuộc

20
vào giá cả trên thị trường của chính nó, mức thu nhập của mỗi cá thể phụ thuộc
vào giá cả của các mặt hàng khác (nhất là các mặt hàng thay thế hoặc bổ sung cho
nó), thậm chí vào cả thời điểm, thị hiếu của khách hàng, kỳ vọng giá trong tương
lai, quy mô dân số và thời tiết.
Cung là một thuật ngữ dùng để chỉ thái độ của người bán hàng hóa sức lao
động và khả năng bán. Số lượ
ng cung là số lượng hàng hóa sức lao động mà người
bán sẵn sàng bán trong một thời kỳ nhất định. Cung ứng lao đông, trong kinh tế
học, chỉ việc chào bán hàng hóa sức lao động. Lượng của hàng hóa sức lao động
được chào bán với một mức giá thị trường hiện hành, với những quy chế nhất định
của Chính phủ gọi là lượng cung lao động, hay lượng cung hàng hóa sức lao động.
Các lượng cung hàng hóa sức lao động tạo nên thị tr
ường cung. Tổng những lượng
cung hàng hóa sức lao động trong một nền kinh tế gọi là tổng cung.
Như vậy, quy luật cung cầu sức lao động, phát biểu rằng thông qua sự điều
chỉnh của thị trường, một mức lương cân bằng (còn gọi là mức giá thị trường) và
một lượng giao dịch hàng hóa sức lao động cân bằng sẽ được xác định. Mức
lương và lượng hàng hóa sức lao động
đó tương ứng với giao điểm của đường
cung và đường cầu. Trạng thái cân bằng hàng hóa sức lao động như thế gọi là cân
bằng bộ phận. Khi các bộ phận đều cân bằng, kinh tế học gọi đó là cân bằng tổng
thể sức lao động. Ở trạng thái cân bằng, sẽ không có dư cung hay dư cầu. Giá cân

giúp thị trường hàng hóa sức lao động đạt đến điểm cân bằng, tại đó sẽ không còn
áp lực gây ra dịch chuyển lao động. Vận dụng lý thuyết cung - cầu của Alfred
Marshall vào việc giải thích hiện tượng dịch chuyển lao động từ khu vực nhà
nước sang tư nhân có thể rút ra nh
ận xét như sau:
Hiện tượng lao động, nhất là lao động từ khu vực Nhà nước sang tư nhân ở
Việt Nam hiện nay là hiện tượng mang tính quy luật cung - cầu. Báo cáo của Ban
Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam trước Đại hội đại biểu lần thứ
X của Đảng đã đặt vấn đề về phát triển và từng bước hoàn thiện các loại thị
trường trong đó có thị
trường sức lao động. Vì vậy, khi xác định công chức,
viên chức như là một nghề trong xã hội và bản thân lao động của công chức, viên
chức cũng là một loại lao động có tính chất hàng hoá trên thị trường. Như vậy,
khi có những nghề mới, môi trường làm việc mới hấp dẫn, phù hợp với nhu cầu
và khả năng của lao động công chức, viên chức, tất yếu họ sẽ dịch chuyển. V
ấn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status