Đề tài nghiên cứu khoa hoc: Hoàn thiện quản lý dịch vụ công ở việt nam hiện nay - Pdf 13


1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
KHÕIJ BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ NĂM 2010

Mã số: B. 10 – 25
***

Tên đề tài:
HOÀN THIỆN QUẢN LÝ DỊCH VỤ CÔNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
KHÕIJ
Ths. Trương Văn Huyền
Ths. Vũ Thị Như Hoa
Ths. Bùi Giang Nam
TS. Lê Văn Phụng
Ths. Nguyễn Thị Ưng
Ths. Bùi Quốc Tuấn
Ths. Cao Thị Thu Trang
CN. Vũ Thị Hồng Trang

3
MỤC LỤC Trang
A- MỞ ĐẦU.
4
B. NỘI DUNG.
13
Chương I: Cơ sở lý luận về dịch vụ công và quản lý dịch vụ công.
13
1.1. Dịch vụ công và quản lý dịch vụ công. 13
1.2. Vai trò của nhà nước đối với dịch vụ công. 32
Chương II: Thực trạng quản lý dịch vụ công ở Việt Nam hiện nay.
37
2.1. Hệ thống thể chế quản lý dịch vụ công. 37
2.2. Quả
n lý các lĩnh vực của dịch vụ công thời gian qua.

dịch vụ công là vấn đề mới, cả trên phương diện lý luận lẫn thực tiễn.
Về mặt lý luận, dịch vụ công là vấn đề mới, chúng ta chưa có một hệ
thống lý thuyết hoàn chỉnh về vấn đề này. Nhiều vấn đề nả
y sinh trong quá
trình triển khai thực hiện đòi hỏi phải được lý giải để định hướng cho hoạt
động thực tiễn một cách đúng đắn. Để đạt được điều đó, chúng ta cần phải
nghiên cứu, hoàn thiện lý thuyết về dịch vụ công, đồng thời, tăng cường xây
dựng, củng cố hệ thống thế chế về dịch vụ công và phát triển dịch vụ
công.
Về mặt thực tiễn, phát triển dịch vụ công và quản lý dịch vụ công đang đặt
ra nhiều vấn đề thu hút sự quan tâm của cả phía người dân lẫn các nhà quản lý.
Tình trạng yếu kém chất lượng, hạn chế về trách nhiệm cung ứng các dịch vụ
công cơ bản (dịch vụ hành chính công, dịch vụ sự nghiệp công, dịch vụ công ích)
đã và đang tạo ra tâm lý bức xúc trong quần chúng. Đối v
ới người dân, kiểm
chứng tính ưu việt của chế độ chính là thông qua những gì họ được thụ hưởng và
cảm nhận hàng ngày mà dịch vụ công là một biểu hiện sinh động nhất. Trong
một thế giới mà con người ngày càng ý thức rõ rệt hơn quyền của chính mình,
thì thụ hưởng dịch vụ công với chất lượng tốt hơn là thước đo trực tiếp về đảm
bảo quy
ền con người trong xã hội.

5
Những cải cách, đổi mới quản lý phát triển dịch vụ công thời gian qua đã
mang lại những kết quả nhất định như tách quản lý sự nghiệp hành chính công
khỏi quản lý hành chính công, giao quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp
công, đơn vị hành chính công và doanh nghiệp công ích, đến thể chế hóa
quyền và trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp ngoài nhà nước, tìm động lực
cho sự phát triển củ
a khu vực ngoài nhà nước. Những cải cách, đổi mới quản

ủa thị trường" ("The theory of government
failure") -1991 Các nghiên cứu này đã cho thấy những khuyết tật của nhà
nước khi cung ứng dịch vụ công, do sự phát triển của khoa học - công nghệ,
do các căn bệnh cố hữu của nhà nước, đòi hỏi phải đổi mới quản lý của nhà
nước về quản lý dịch vụ công, mà nước Anh với Chủ nghĩa công quản mới
dưới thời Thủ tướng Margaret Thatcher. Bên c
ạnh đó cũng có một số công
trình đề cập đến kinh nghiệm của một số nước về quá trình ủy quyền cho tư
nhân tham gia cung ứng các dịch vụ công như Johnstone Nick and Wood
Libby(eds): "Các công ty tư nhân và nguồn nước công: Nhận diện mục tiêu về
môi trường và xã hội các nước đang phát triển" ("Private Firms and Public
Water: Realising Social and Environmental Objectives in Developing
Countries") -2001, Seungho Lee: "Mở rộng khu vực tư trong ngành nước ở
Thượng Hải" ("Expansion of the Private Sector in the Shanghai Water
Sector") -2003.
Việt Nam cũng không n
ằm ngoài xu hướng đó, nên thu hút được sự quan
tâm của nhiều định chế quốc tế và các nhà khoa học, nhất là các nhóm nghiên
cứu gắn với trợ giúp của Tổ chức Phát triển Liên hợp quốc và Ngân hàng Thế
giới. Các nghiên cứu đáng chú ý là: "Việt Nam cải cách theo hướng rồng bay"
-1993 và "Việt Nam tiến vào thế kỷ 21- Trụ cột của sự phát triển -2000 của
Ngân hàng Thế giới. Một số nghiên cứu
đã cho thấy tính phức tạp của bức
tranh xã hội hóa dịch vụ công ở Việt Nam mà nguồn gốc của nó do thiếu nhận
thức rõ ràng. Đó là nghiên cứu của Diễn đàn kinh tế - tài chính Việt - Pháp:

7
"Dịch vụ công cộng và khu vực quốc doanh" -2000. Một nghiên cứu mới nhất
của Đại học Harvard thuộc Chương trình Châu Á "Lựa chọn thành công - Bài
học từ Đông Á và Đông Nam Á cho tương lai của Việt Nam" đã chỉ ra vai trò

chính sách. Trước hết là những nghiên cứu tiếp cận từ góc độ chức năng xã
hội của nhà nước, được phản ánh trong công trình của Ngô Ngọc Thắng: "Sự
biến đổi chức năng xã hội của nhà nước trong bối cảnh kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa" -2007; của Lê Thị Thủy (chủ nhiệm): "Chức năng xã
hội của nhà nước trong nề
n kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
nước ta hiện nay" -2007. Một hướng khác lại tiếp cận yêu cầu đổi mới quản
lý dịch vụ công từ các hạn chế của nhà nước với nghiên cứu của Lê Hồng
Sơn: "Cơ sở lý luận của việc xác định giới hạn trách nhiệm của nhà nước
trong quản lý xã hội" -2007. Chiếm số
lượng nhiều nhất là các nghiên cứu về
cải cách hành chính, cải cách khu vực sự nghiệp công, với các công trình của
Lê Chi Mai: "Cải cách dịch vụ công ở Việt Nam"-2003; của Đinh Văn Ân,
Hoàng Thu Hoà (Đồng chủ biên): "Đổi mới cung ứng dịch vụ công ở Việt
Nam" -2006 . Các nghiên cứu này đã chỉ ra hàng loạt vấn đề trong cung ứng
dịch vụ xã hội ở Việt Nam, trong đó đáng chú ý là chậm tách hoạt động s

nghiệp công ra khỏi hoạt động hành chính công. Nghiên cứu của Đinh Văn
Ân, Hoàng Thu Hà (Đồng chủ biên): "Phát triển khu vực dịch vụ" -2007, tuy
đề cập dưới góc độ kinh tế dịch vụ, nhưng cũng chỉ ra những quy luật của thị
trường trong thời kỳ hội nhập chi phối đến mọi lĩnh vực dịch vụ, dù đó là dịch
vụ kinh doanh hay dịch vụ công ích, đòi hỏi c
ần được tính toán trong phát
triển khu vực dịch vụ. Các chuyên khảo của Vũ Huy Từ (chủ biên): "Quản lý
khu vực công"-1998, của Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ: "Chính sách về
quản lý sự thay đổi và cung cấp dịch vụ công" -1999, của Nguyễn Ngọc Hiến
(chủ biên): "Vai trò của nhà nước trong cung ứng dịch vụ công - Nhận thức,
thực trạng và giải pháp" -2002, trên cơ sở tổng kết, đánh giá th
ực trạng đã cho
rằng phải cải cách, đổi mới căn bản khu vực dịch vụ công, gồm cả phương

- Đề xuất hệ giải pháp hoàn thiện quản lý dịch vụ công ở nước ta đến
năm 2015.

10
3.2. Giới hạn phạm vi nghiên cứu.
3.2.1. Về mặt thời gian.
Đề tài khảo sát, đánh giá thực trạng chủ yếu trong khoảng thời gian từ
năm 2000 đến nay và đề xuất giải pháp trong khoảng thời gian đến năm 2015.
3.2.2. Về mặt không gian.
Nghiên cứu lý thuyết và đánh giá chung của đề tài tập trung trên phạm vi
cả nước, nhưng có lựa chọn trọng tâm, trọng điểm.
3.2.3. Về mặt nội dung.
Quản lý dịch vụ công có phạm vi rất rộng, đề tài chỉ phân nghiên cứu
dịch vụ công theo lĩnh vực, gồm có dịch vụ hành chính công, dịch vụ sự
nghiệp công và dịch vụ công ích. Đối với mỗi loại hình dịch vụ công nêu trên
chỉ tập trung nghiên cứu các dịch vụ thuần công và dịch vụ không thuần công.
Dịch vụ thuần công là những dịch vụ có đầy đủ hai thuộc tính không tranh
giành và không loại tr
ừ, gắn với trách nhiệm của nhà nước; dịch vụ không
thuần công có hai thuộc tính trên nhưng không rõ ràng, có thể ủy quyền cho tư
nhân tham gia ở các mức độ khác nhau. Chúng được dùng để phân biệt với
dịch vụ tư chủ yếu cung ứng tuân theo quan hệ thị trường, hoạt động theo
nguyên tắc tối đa hóa lợi nhuận.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Ngoài các phương pháp phổ dụng như logi, lịch sử, đồng đại, lịch đại,
thống kê, so sánh thì phương pháp chuyên biệt được sử dụng trong đề tài này
là phương pháp chuyên gia để tìm hiểu những vấn đề chuyên sâu của quản trị
học, hành chính học; phương pháp phân tích văn bản để tìm ra những mặt đã
giải quyết, những mâu thuẫn của chính sách; phương pháp quan sát thực


i nhập và toàn cầu hóa với phát triển dịch vụ công.

12
- Kiến nghị hệ giải pháp có tính khả thi về hoàn thiện quản lý phát triển
dịch vụ công ở nước ta đến 2015.
- Thông qua nghiên cứu đề tài sẽ góp phần đào tạo nguồn nhân lực khoa
học của một số ngành liên quan như Chính trị học, Hành chính học, Xã hội
học… Đặc biệt đề tài hết sức chú ý kết hợp hài hòa giữa cán bộ nghiên cứu có
kinh nghiệm với cán bộ trẻ trong quá trình thực hiệ
n đề tài.
6. KẾT CẤU CỦA BÁO CÁO TỔNG HỢP
Báo cáo tổng hợp, ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham
khảo gồm có:
Chương 1: Cơ sở lý luận về dịch vụ công và quản lý dịch vụ công.
Chương 2: Thực trạng quản lý dịch vụ công ở Việt Nam hiện nay.
Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện quản lý dịch vụ công ở
Việt Nam hiện nay 13
B. NỘI DUNG

người, kể cả dân số luôn tăng.
Tuy nhiên có nhiều hàng hóa công cộng không đáp ứng một cách chặt
chẽ hai tính ch
ất đó ví dụ đường giao thông, nếu có quá đông người sử dụng
thì đường sẽ bị tắc nghẽn và do đó những người tiêu dùng trước đã làm ảnh
hưởng đến khả năng tiêu dùng của những người tiêu dùng sau. Đó là những
hàng hóa công cộng có thể tắc nghẽn. Một số hàng hóa công cộng mà lợi ích
của nó có thể định giá thì gọi là hàng hóa công cộng có thể loại trừ bằng giá.
Ví dụ
đường cao tốc, cầu có thể đặt các trạm thu phí để hạn chế bớt số lượng
người sử dụng nhằm tránh tắc nghẽn.
* Dịch vụ công.
Khái niệm dịch vụ công được sử dụng ở nước ta chưa lâu, nhưng thực
ta dịch vụ công không phải là vấn đề mới, nó là những hoạt động xuất hiện và
phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của Nhà n
ước dân chủ
(*)
.
- Về mặt ngữ nghĩa, “dịch vụ” là “Công việc phục vụ trực tiếp cho những
nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công (nói khái quát)”
1

Thuật ngữ “dịch vụ”: trong kinh tế học “dịch vụ” là một loại sản phẩm
kinh tế, không phải là vật phẩm mà là công việc của con người dưới hình thái
lao động thể lực, kiến thức và kỹ năng chuyên nghiệp, khả năng tổ chức và
thương mại.

(*)
Dịch vụ công không thể có trong nhà nước chuyên chế, khi đó là bộ máy cai trị, là “lực lượng đặc biệt để
trấn áp, chứ không phải phục vụ”.

xuất hiện “dịch vụ tư” thì khái niệm “dịch vụ công” cũng ra đời để so sánh,
phân biệt với dị
ch vụ tư.

2
Từ điển tiếng Việt - Trung tâm từ điển học. Hà Nội - Đà Nẵng. Nxb Đà Nẵng, 2002. Tr206. 16
Trên thế giới nghiên cứu về dịch vụ công tương đối nhiều, nhưng theo
những cách tiếp cận khác nhau, từ những góc độ khác nhau nên đưa ra khái
niệm dịch vụ công
khác nhau.Từ điển Petit Larousse định nghĩa: “dịch vụ công
là hoạt động vì lợi ích
chung, do một cơ quan nhà nước hoặc tư nhân đảm nhiệm”
3
.
Từ điển oxford, giải thích dịch vụ công
với các nghĩa như sau: 1. Các
dịch vụ như giao thông hoặc chăm sóc sức khoẻ do nhà nước hoặc tổ chức
chính thức cung cấp cho nhân dân nói chung đặc biệt là xã hội; 2. Việc làm gì
đó được thực hiện nhằm giúp đỡ mọi người hơn là kiếm lợi nhuận; 3. Chính
phủ và cơ quan chính phủ
4
.
Trong “Từ điển về chính quyền và chính trị Hoa kỳ”, dịch vụ công
-

+ Vì lợi ích chung.
+ Tự nguyện, mang ý nghĩa giúp đỡ, không vì lợi nhuận.
Từ cách hiểu dịch vụ công
như vậy, nên phạm vi của dịch vụ công cũng
được xác định rất khác nhau.
Từ góc độ chủ thể quản lý nhà nước, các nhà nghiên cứu hành chính cho
rằng: dịch vụ công
là những hoạt động của cơ quan nhà nước trong việc thực
thi chức năng quản lý hành chính nhà nước và đảm bảo cung ứng các hàng
hóa công cộng phục vụ nhu cầu chung, thiết yếu của xã hội. Cách hiểu này
nhấn mạnh vai trò và trách nhiệm của nhà nước đối với những hoạt động cung
cấp hàng hóa công cộng.
Từ đối tượng được hưởng hàng hóa công cộng, dịch vụ công
được nhấn
mạnh với đặc trưng chủ yếu là hoạt động đáp ứng nhu cầu thiết yếu của xã hội
và cộng đồng, còn việc tiến hành hoạt động ấy có thể do nhà nước hoặc tư
nhân đảm nhiệm.
Dịch vụ công cũng là khái niệm để giới hạn những lĩnh vực dịch vụ do
nhà nước đảm nhiệm cung cấp cho xã hội. Như v
ậy dịch vụ công là loại dịch
vụ do chủ thể Nhà nước – “công” cung cấp, phân biệt với chủ thể “tư” – khu
vực tư nhân cung cấp.
Trên thế giới, đặc biệt là ở những nước phát triển, vào giai đoạn sau
chiến tranh thế giới lần thứ hai, khái niệm “dịch vụ công” được sử dụng phổ
biến rộng rãi. Theo quan niệm của nhiều nước, dịch vụ công
luôn gắn với vai
trò của nhà nước trong việc cung ứng các dịch vụ này.

18
Ở nước ta, cũng có những quan niệm khác nhau về dịch vụ công. Có

Tiếp cận theo chủ đề thực hiện, PGS.TS. Lê Chi Mai cho rằng hoạt
động công vụ, hành chính công và dịch vụ công
có bộ phận giao nhau (lồng
vào nhau), nhưng dịch vụ công
không bao quát toàn bộ hoạt động công vụ
cũng như hành chính công: Công vụ được thực hiện bởi các công chức nhà
nước (những người làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước và cả

6
TS. Phạm Duy Nghĩa: “Mối quan hệ giữa công quyền, công chức và công dân - cơ sở hình thành dịch vụ
công”. Kỷ yếu Hội thảo “Dịch vụ công và vai trò của Nhà nước trong cung ứng dịch vụ công: Học viện Hành
chính Quốc gia, 2002.
7
Xem: “Dịch vụ công và xã hội hoá dịch vụ công” (TS. Chu Văn Thành chủ biên), Nxb CTQG, H., 2004,
tr.25-26).
8
TS. Nguyễn Khắc Hùng. TS. Lê Thị Vân Hạnh: “Cải tiến việc cung ứng dịch vụ công trong tiến trình cải
cách hành chính ở nước ta”. Kỷ yếu Hội thảo: “Dịch vụ công - nhận thức và thực tiễn”. Học viện Hành chính
quốc gia, 2001.
9
“Dịch vụ công và xã hội hoá…”, Sđd., tr.23 và tr.25.

19
những giáo viên, bác sỹ…); hành chính công được thực hiện bởi các chủ thể
của quyền lực công – các pháp nhân công quyền; còn chủ thể dịch vụ công

bao gồm một bộ phận công chức làm việc trong cơ quan hành chính nhà nước
thực hiện các dịch vụ hành chính công (song không bao gồm những công chức
làm chức năng quản lý nhà nước (như hoạch định chính sách, điều hành thực
thi chính sách…), đồng thời gồm cả một bộ phận viên chức hoạt động trong

11
Xem: PGS.TS. Lê Chi Mai Sđd., tr.17.

20
dân. Vì vậy, dịch vụ công được hiểu là những giao dịch cụ thể (trực tiếp hoặc
thông qua các phương tiện như qua mạng, telephone, thư từ…) giữa nhà nước
và các công dân với tư cách là “khách hàng” của nhà nước
12
.
Như vậy có thể nói, dịch vụ công
là một lĩnh vực hoạt động thuộc phạm
vi chức năng, nhiệm vụ của bộ máy hành chính nhà nước. Mặc dù còn có
nhiều cách tiếp cận khác nhau, dưới các góc độ khác nhau về khái niệm, ngữ
nghĩa, nhưng từ mục đích, nội dung, chủ thể và khách thể hoạt động, về cơ
bản có thể hiểu: dịch vụ công là những dịch vụ do nhà nước chịu trách nhiệm
cung
ứng (hoặc các tổ chức và các nhân được nhà nước ủy quyền), nhằm
phục vụ các nhu cầu cơ bản, thiết yếu chung của người dân, hoạt động hoạt
động theo các tiêu chí, quy định của nhà nước và không nhằm mục đích lợi nhuận.
* Quan niệm “không vì mục tiêu lợi nhuận” và “phi lợi nhuận” trong
dịch vụ công.
- Không vì mục tiêu lợi nhuận.
Thông thường bất kỳ hoạt động nào của con ngườ
i đều nhằm một mục
tiêu nào đó, chính mục tiêu là động lực cho hoạt động, bởi nếu không có mục
tiêu thì động lực sẽ bị triệt tiêu. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch
vụ lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu, chính lợi nhuận là động cơ để các chủ thể
sản xuất kinh doanh dịch vụ họat động không biết mệt mỏi nhằm đáp ứng nhu
cầ
u ngày càng cao của lợi nhuận. Lợi nhuận là động cơ cho phát triển trong

Quan niệm “phi lợi nhuận” trong dịch vụ, đó là loại hoặc dịch vụ đặc biệt
mà việc cung ứng nó hoàn toàn không vì lợi nhuận ví dụ như quốc phòng an
ninh, đê điều, đèn biển những loại hàng hóa này cung cấp cho thị trường
hoàn toàn không tính đến lợi nhuận. Các đối tượng h
ưởng dịch vụ này cũng
không phải trực tiếp trả tiền cho những tiện ích mà mình nhận được.
Trong dịch vụ công, quan niệm “không vì mục tiêu lợi nhuận” và “phi lợi
nhuận” có tính chất khác nhau. “Không vì mục tiêu lợi nhuận” là hoạt động
dịch có thu về lợi nhuận nhưng lợi nhuận không phải là mục tiêu của dịch vụ.
Còn “phi lợi nhuận” là dịch vụ đó không thu về lợi nhuận, và dĩ nhiên c
ũng

22
không vì mục tiêu lợi nhuận. Điểm giống nhau của hai loại hình thức dịch vụ
này là không vì mục tiêu lợi nhuận còn điểm khác là dịch vụ không vì mục
tiêu lợi nhuận trên thực tế vẫn thu về lợi nhuận, còn phi lợi nhuận là hoàn toàn
không thu lợi nhuận.
b. Vai trò của dịch vụ công.
Mọi xã hội đều có những vấn đề chung, liên quan đến cuộc sống của tất
cả các thành viên sống trong c
ộng đồng, các vấn đề đó như bảo đảm trật tự trị
an, giáo dục, y tế, dân số, môi trường, tài nguyên,… Để giải quyết tốt các vấn
đề này, đảm bảo sự phát triển hài hòa của các tầng lớp trong xã hội cần có sự
góp sức của cả nhà nước, cộng đồng và các tổ chức xã hội thông qua việc
cung ứng các dịch vụ công. Từ đó dịch vụ công có vai trò quan trọng
đối với
sự phát triển của cộng đồng xã hội.
Dịch vụ công là những hoạt động phục vụ các lợi ích tối cần thiết của xã
hội, đảm bảo cho xã hội phát triển ổn định, bền vững, có kỷ cương, trật tự, do
vậy dịch vụ công và chất lượng cung ứng dịch vụ công được coi như thước đo

của các dịch vụ này chỉ là các loại văn bản giấy tờ, nhưng chúng lại có tác
dụng chi phối quan trọng đến các hoạt động kinh tế- xã hội của đất nước.
Chẳng hạn, giấy đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp thể hiện việc nhà nước
công nhận doanh nghiệp đó ra đời và đi vào hoạt động, điề
u này dẫn đến
những tác động và kết quả đáng kể về mặt kinh tế - xã hội. Ngoài ra, thông
qua việc cung ứng dịch vụ công, nhà nước sử dụng quyền lực của mình để
đảm bảo quyền dân chủ và các quyền hợp pháp khác của công dân.
Nguyên tắc nhà nước phải chịu trách nhiệm cao nhất và cũng là trách
nhiệm cuối cùng đối với việc cung ứng đầy đủ về số lượng, ch
ất lượng, có
hiệu quả dịch vụ công cho dù là nhà nước tiến hành thực hiện trực tiếp hay
thông qua các tổ chức và cá nhân khác là một lá chắn bảo vệ an toàn cho cuộc
sống của mỗi người dân. Với việc nhà nước bảo đảm sự công bằng, bình đẳng
cho công dân, nhất là nhóm dân cư dễ bị tổn thương, trong việc tiếp cận và

24
hưởng thụ các dịch vụ công thiết yếu liên quan trực tiếp tới đời sống như y tế,
giáo dục, an sinh xã hội…, người dân được hưởng các quyền sống cơ bản của
mình, trên cơ sở đó học tập, làm việc nâng cao mức sống của bản thân và
đóng góp nhiều hơn cho xã hội. Như vậy, dịch vụ công có vai trò cực kỳ to
lớn đối với sự phát triển củ
a đất nước và từng người dân, và là yếu tố quan
trọng góp phần ổn định xã hội.
c. Đặc điểm của dịch vụ công.
Các loại dịch vụ công và các hình thức cung ứng dịch vụ công tuy có đặc
điểm, tính chất khác nhau, song chúng có những đặc điểm chung cơ bản như sau:
- Là các hoạt động không vụ lợi, không nhằm mục đích lợi nhuận; phục
vụ nhu cầu lợ
i ích thiết yếu chung của công dân, cộng đồng dân cư, của toàn

n hoá của xã hội. Đó là
nguyên nhân khiến cho chính phủ có vai trò và trách nhiệm quan trọng trong
việc sản xuất hoặc bảo đảm cung ứng các loại hàng hóa công cộng.
Với sự đa dạng của các loại dịch vụ công, của các hình thức cung ứng
dịch vụ công, và những đặc điểm của dịch vụ công, có thể thấy rằng cung ứng
loại dịch vụ này một cách có hiệu quả không phải là mộ
t vấn đề đơn giản. Nhà
nước phải xác định rõ loại dịch vụ nào nhà nước cần giữ vai trò cung ứng chủ
đạo, loại dịch vụ nào cần chuyển giao cho khu vực tư nhân và các tổ chức xã
hội, loại dịch vụ nào nhà nước và khu vực tư nhân có thể phối hợp cung ứng
và vai trò điều tiết, quản lý của nhà nước về vấn đề này như thế nào. Kinh
nghiệm c
ủa nhiều nước những năm qua cho thấy rằng, trong cung ứng dịch vụ
công, nhà nước chỉ trực tiếp thực hiện những loại dịch vụ công mà khu vực
ngoài nhà nước không thể làm được và không muốn làm. Nếu nhà nước không
chuyển giao việc cung ứng dịch vụ công ở các lĩnh vực thích hợp cho khu vực
ngoài nhà nước và cải cách việc cung ứng dịch vụ công của các cơ quan nhà
nước, thì hiệu quả cung
ứng dịch vụ công về tổng thể sẽ bị giảm sút, ảnh
hưởng tiêu cực đến đời sống của người dân và sự phát triển chung của toàn xã hội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status