Nghiên cứu tỷ lệ pha trộn hợp lý giữa dầu dừa và dầu diesel dùng làm nhiên liệu cho động cơ Diesel nhằm cải thiện các chỉ tiêu kinh tế và môi trường - Pdf 13

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận án này là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong Luận án là trung thực và chưa được ai công bố
trong bất cứ công trình nào khác. Tác giả Luận án
Phùng Minh Lộc
LỜI CẢM TẠ


Lời cảm tạ
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt;
Danh mục các bảng;
Danh mục các hình vẽ, đồ thịMỞ ĐẦU

1

Chương 1- TỔNG QUAN VỀ SỬ DỤNG NHIÊN LIỆU SINH HỌC
CHO ĐỘNG CƠ DIESEL

6

1.1. Sử dụng nhiên liệu biodiesel.
6

1.2. Sử dụng trực tiếp dầu thực vật làm nhiên liệu (SVO).
9

Chương 2- CƠ SỞ LÝ THUYẾT SỬ DỤNG HỖN HỢP DẦU DỪA
VÀ DẦU DIESEL LÀM NHIÊN LIỆU CHO ĐỘNG CƠ DIESEL

17

2.1. Nhiên liệu dùng cho động cơ diesel
19


123 4.1. Sơ
đồ bố trí và thiết bị thực nghiệm AVL
123
4.2. Phương pháp thực nghiệm
124
4.3. Kết quả thực nghiệm và bàn luận
126
Chương 5- KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
143

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ
145

TÀI LIỆU THAM KHẢO
146

PHỤ LỤC
1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Từ những năm 1970, trước áp lực của các cuộc khủng hoảng dầu mỏ và vấn
đề giảm thải các chất gây ô nhiễm môi trường, nhiều nước trên thế giới đã hoạch
định những chính sách nghiên cứu sử dụng nhiên liệu sinh học (biofuels) thay thế

NHIÊN LIỆU
SINH KHỐI
Biomass
DẦU THỰC VẬT
NGUYÊN GỐC - SVO
Straight Vegetable Oil
ETHANOL
2

Hiện nay có thể chia công nghệ sử dụng mỡ động vật và dầu thực vật làm
nhiên liệu (với tỷ lệ thích hợp) cho động cơ diesel thành hai hướng chính:
(1). Xử lý về mặt hoá học để mỡ động vật và dầu thực vật có được những
tính chất tương đương với diesel dầu mỏ (DO). Dầu qua xử lý như vậy gọi là
biodiesel.
(2). Xử lý về mặt cơ - lý để dầu thực vật đạt được một số yêu cầu cơ bản của
nhiên liệu DO. Theo hướng này, công nghệ chủ yếu theo 2 nhánh sau:
- Thứ nhất, chế tạo bộ chuyển đổi thành hệ thống nhiên liệu kép hoặc chế tạo
bộ phun nhiên liệu chuyên dùng cho SVO thành hệ thống nhiên liệu đơn.
- Thứ hai, tạo hỗn hợp dầu thực vật với dung môi có độ nhớt thấp (như: dầu
hỏa, ethnol, dầu diesel ), và chất phụ gia đạt tiêu chuẩn nhiên liệu dùng cho động
cơ diesel.
Trong đề tài này, NCS chọn giải pháp tạo hỗn hợp vì:
- Việc chế tạo, lắp đặt thêm bộ chuyển đổi hoặc bộ phun chuyên dùng SVO
có khả năng sử dụng đến 100% dầu thực vật nguyên chất nhưng sẽ làm đội giá
thành hệ thống nhiên liệu, gây phức tạp trong sử dụng.
- Không cần có nhà máy xử lý với quy mô công nghiệp như Biodiesel, hiện
giá thành thiết bị còn rất cao (30.000 EU cho thiết bị có năng suất 50lít/ mẻ).

Từ những luận cứ trên, thấy rằng: “Nghiên cứu tỷ lệ pha trộn hợp lý giữa
dầu dừa và dầu diesel dùng làm nhiên liệu cho động cơ Diesel nhằm cải thiện các
chỉ tiêu kinh tế và môi trường” là rất cấp thiết trong bối cảnh hiện nay.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: Nghiên cứu ảnh hưởng của tỉ lệ pha
dầu dừa vào dầu diesel đến các chỉ tiêu kinh tế và môi trường trên động cơ diesel,
từ đó xác định công thức hỗn hợp làm tham số đầu vào cho việc thiết kế Hệ thống
nhiên liệu chuyển đổi. Để giải quyết mục tiêu của đề tài, NCS đặt ra giả thuyết:
- Động cơ diesel có thể hoạt động được nếu sử dụng nhiên liệu mới có đặc
tính (chủ yếu là độ nhớt và chỉ số cetan) tương đương nhiên liệu truyền thống.
- Chỉ tiêu kinh tế và môi trường của động cơ sẽ thay đổi theo tính chất nhiên
liệu.
3. Đối tượng nghiên cứu: Nhiên liệu thay thế dùng cho động cơ diesel
4. Phạm vi nghiên cứu: Hỗn hợp dầu dừa, chất phụ gia và dầu diesel làm
nhiên liệu cho động cơ diesel. 4

5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn:
1. Về khoa học
- Xây dựng cơ sở lý thuyết sử dụng hỗn hợp dầu dừa, dầu diesel làm nhiên
liệu cho động cơ diesel;
- Xác định các điều kiện mô phỏng (điều kiện ban đầu và điều kiện biên) khi
sử dụng hỗn hợp nhiên liệu dầu dừa với dầu diesel;
- Xác định yếu tố điều chỉnh chính của nhiên liệu hỗn hợp cho quá trình mô
phỏng là thời gian phun và thời gian cháy trễ thông qua tính chất nhiên liệu là độ
nhớt và chỉ số cetan;
- Xác lập công thức tính và xây dựng các thông số nhiệt động cho nhiên liệu
hỗn hợp: dầu dừa, dầu diesel và chất phụ gia làm nhiên liệu cho động cơ diesel;
- Dẫn liệu khoa học về kết quả chạy thử nghiệm nhiên liệu hỗn hợp từ dầu

7. Nội dung nghiên cứu
1. Tổng luận và nghiên cứu cơ sở lý thuyết sử dụng hỗn hợp dầu dừa và dầu
diesel làm nhiên liệu cho động cơ diesel;
2. Lựa chọn mô hình toán và mô phỏng quá trình phun và cháy nhiên liệu
hỗn hợp dầu dừa - dầu diesel trong động cơ diesel;
3. Đánh giá chỉ tiêu kinh tế và môi trường khi thay đổi tỷ lệ pha dầu dừa vào
dầu diesel trên động cơ diesel.
8. Kết cấu Luận án
Luận án được kết cấu thành 5 chương:
1. Tổng quan về sử dụng nhiên liệu sinh học cho động cơ diesel.
2. Cơ sở lý thuyết sử dụng hỗn hợp dầu dừa và dầu diesel làm nhiên liệu cho
động cơ diesel.
3. Đánh giá ảnh hưởng của tỷ lệ pha dầu dừa vào dầu diesel đến chỉ tiêu kinh
tế và môi trường của động cơ diesel bằng phần mềm mô phỏng.
4. Nghiên cứu thực nghiệm ảnh hưởng của tỷ lệ pha dầu dừa vào dầu diesel
đến chỉ tiêu kinh tế và môi trường của động cơ diesel.
5. Kết luận và kiến nghị.
9. Hạn chế của Luận án
Luận án chưa nghiên cứu giải quyết được các vấn đề có liên quan như: Công
thức phân tử của nhiên liệu hỗn hợp; Độ ổn định của nhiên liệu hỗn hợp theo thời
gian và điều kiện bảo quản. 6

Chương 1- TỔNG QUAN VỀ SỬ DỤNG NHIÊN LIỆU
SINH HỌC CHO ĐỘNG CƠ DIESEL
Hiện nay có nhiều ứng dụng nhiên liệu thay thế cho các động cơ, ví dụ
Brazin là nước đi đầu trong việc phát triển các loại nhiên liệu sạch từ mía, Brazin
hiện có tới 90% ô tô sử dụng nhiên liệu sạch và nhiên liệu sạch pha với nhiên liệu

nhiên liệu diesel thông thường và chỉ cần điều chỉnh nhỏ hệ thống nhiên liệu.
Có hai tiêu chuẩn phát triển dầu diesel sinh học chính là ASTM-D6751 của
Mỹ và EN-14214 của Liên minh Châu Âu. Theo đó, quá trình sản xuất diesel sinh
học bắt đầu từ dầu thực vật nguyên chất hoặc các chất béo đã qua sử dụng. Các cấu
trúc phân tử phân nhánh lớn của dầu thực vật được chuyển sang các cấu trúc phân tử
mạch thẳng ngắn hơn gọi là các ester methyl - hoặc ethyl giống như các thành phần
của dầu diesel truyền thống.
Hình 1-1. Sơ đồ ester hóa.
Sơ đồ phương pháp ester hoá trình bày trên Hình 1-1: Glycerine dễ dàng
được tách ra khỏi ester và sử dụng trong các ngành công nghiệp khác.
Nguồn nguyên liệu cho sản xuất dầu diesel sinh học hiện nay ở các nước đi
tiên phong chủ yếu là bốn loại thực vật: dầu hạt cải chiếm gần 85%, dầu hạt hướng
dương, dầu đậu tương và dầu cọ. Các nguyên liệu còn lại được sản xuất từ dầu hạt
lanh, mỡ bò, và dầu, mỡ rán tái chế. Tuy nhiên, bốn loại thực vật chính sử dụng để
sản xuất dầu diesel sinh học đang được trồng chủ yếu cho nhu cầu thực phẩm của con

C, (cSt ) 7,09 5,3 5,3
Điểm đục, (
0
C) 2-4 - 2 - 2
Nhiệt độ chớp lửa, (
0
C) 191 93 60
Cặn 1,2 0,7 < 0,01
Chỉ số cetan 43 43 45

50
Nhiệt trị, (MJ/kg) 38.500 37,835 43,805

Thêm vào đó, các chất béo động vật và dầu cá là sản phẩm phụ từ các ngành
công nghiệp đánh bắt và chế biến thuỷ sản là nguyên liệu hứa hẹn cho sản xuất
biodiesel vì giá của chúng thấp. Các chất béo và dầu có nguồn gốc động vật đã được
thử nghiệm làm nguyên liệu sản xuất alkyl ester, bao gồm mỡ bò, mỡ heo, dầu cá.
Tuy nhiên, dầu diesel sinh học sản xuất từ các chất béo động vật có một số tồn tại.
Nhược điểm chính là do thành phần a xít béo và đặc biệt là độ bão hoà. Các mỡ
động vật thường có độ bão hoà cao dẫn tới ester - methyl có nhiều tính chất xấu ở
nhiệt độ thấp.
Ưu điểm chính của biodiesel (các thông số cho ở Bảng 1.2) là có thể sử dụng
trong các động cơ diesel thông dụng mà không cần cải tạo lớn. Diesel sinh học hoà
trộn tốt với nhiên liệu DO và hỗn hợp này có tính ổn định lâu dài. Các hỗn hợp có
hàm lượng dầu diesel sinh học thấp có thể dùng thay thế trực tiếp nhiên liệu diesel
trong hầu hết các động cơ diesel mà không cần điều chỉnh. 9


Lưu huỳnh, % khối lượng, ppm max

0,05 ASTM D5453
Ăn mòn đồng No1 TCVN 2694
Trị số cetan min 47 TCVN 7630
Cặn cacbon, % khối lượng max

0,05 ASTM D4530
Trị số axit, mgKOH/g max 120 EN 1411
Nhiệt độ chưng cất, 90% thu hồi max 360 ASTM D1160
Na và Ka, mg/kg max 5,0 EN 1408

Sự tiêu chuẩn hoá các yêu cầu về chất lượng nhiên liệu được coi là một bước
quan trọng để phát triển ứng dụng biodiesel. 10Cuối cùng, một đạo luật về chất lượng nhiên liệu biodiesel ở Châu Âu
(2003/17/EC) chấp nhận tỷ lệ pha trộn đến 5% cho tất cả các loại động cơ ôtô và
các nhà chế tạo bơm phun nhiên liệu.
1.2. Sử dụng trực tiếp dầu thực vật làm nhiên liệu (SVO)
Bên cạnh biodiesel còn có nhiều công trình nghiên cứu lắp đặt thêm cụm
thiết bị chuyển đổi để động cơ diesel có thể hoạt động trực tiếp với dầu thực vật
hoặc hỗn hợp giữa chúng với chất pha mà không cần chế biến thành biodiesel. Công
nghệ này được gọi là “sử dụng trực tiếp dầu thực vật” (Straight Vegetable Oil) gọi
tắt là SVO.
1.2.1. Sử dụng dầu thực vật nguyên chất.
Theo cách này, dầu thực vật có thể được sử dụng trực tiếp cho các động cơ

nhiên liệu. Động cơ ban đầu thử nghiệm sử dụng các loại dầu thực vật cho thấy có
thể chấp nhận được, với lưu ý là khi sử dụng các loại dầu này sẽ gây ra quá trình tạo
carbon trong buồng đốt động cơ. Tiếp tục cho động cơ hoạt động ở các tải bộ phận
với tốc độ quay bằng ½ tốc độ quay định mức, thấy rằng quá trình tạo muội than
tăng lên rất nhanh ở đầu vòi phun. Tuy mới thử nghiệm với thời gian ngắn, nhưng
kết quả nhận được nhiều hứa hẹn, Bacon khuyến cáo cần thử nghiệm động cơ với
thời gian dài để xác định tổng thể ảnh hưởng của dầu thực vật làm nhiên liệu thay
thế cho dầu diesel
Bruwer và cộng sự (1980) đã nghiên cứu sử dụng dầu hạt hoa hướng dương
như là loại nhiên liệu tái tạo. Khi vận hành trên máy cày với 100% dầu hạt hoa
hướng dương thay cho dầu diesel truyền thống, sau 1000 giờ hoạt động công suất
động cơ bị suy giảm 8%. Sự mất mát công suất này được sửa chữa bằng cách thay
thế bộ bơm cao áp (BCA) và vòi phun (VP) khác. Sau 1.300 giờ hoạt động, sự bám
muội than trong động cơ được đánh giá là tương đương với 100% nhiên liệu diesel,
ngoại trừ đầu vòi phun có sự bám muội than quá mức.
Ở Đức, Schoedder (1981) sử dụng dầu hạt cải thay thế cho nhiên liệu diesel
nhận được các kết quả khác nhau. Thử nghiệm trên động cơ ngắn hạn đã thể hiện
dầu hạt cải sản sinh năng lượng tương tự như nhiên liệu diesel. Động cơ thử nghiệm
dài hạn lần đầu đã cho thấy phát sinh những khó khăn sau 100 giờ hoạt động vì sự
bám muội than trên piston, xupap, và vòi phun.
Auld và cộng sự (1982) sử dụng dầu hạt cải làm nhiên liệu thay thế trên động
cơ diesel. Sự phân tích của dầu hạt cải đã chỉ ra mối quan hệ giữa độ nhớt và axit
béo mạch dài. Công suất và moment xoắn của động cơ khi chạy với dầu hạt cải
tương tự như với nhiên liệu diesel. Các kết quả thử nghiệm ngắn hạn đã cho thấy
trong tương lai cần phải đánh giá tính bền lâu của động cơ. 1213nhiên liệu dầu dừa bắt đầu hoạt động vào 07/2001 cung cấp cho 58 hộ gia đình và
sau đó một trạm diesel phát điện khác có công suất 55 kVA được đưa vào sử dụng.
Ở Sawana, Vanua, Balavu trạm diesel phát điện sử dụng dầu dừa nguyên chất làm
nhiên liệu có công suất 95 kVA. Trong số các nước đảo nam Thái Bình Dương sử
dụng dầu dừa để chạy máy phát điện phải kể đến hai trạm phát điện có công suất
lớn đến 750 kVA được vận hành bởi Enercal ở Ouvéa, New Caledonia trong 10
năm gần đây và trên cụm phát điện Cummin 400kVA ở Savai’i [7].
Ở các nước này cũng phát triển nhiên liệu dầu dừa cho ô tô vì những lợi ích
về môi trường và kinh tế. Ông Deamer đã thành công trong khi chuyển động cơ
diesel trên ô tô sang dùng nhiên liệu dầu dừa nguyên chất an toàn với một thay đổi
nhỏ trên động cơ. Sau đó khoảng 200 xe mini-buýt đã được chuyển sang hỗn hợp
dầu dừa – dầu diesel đã thúc đẩy rộng rãi khái niệm sử dụng dầu dừa như là một
loại nhiên liệu thay thế cho dầu diesel.
Dầu cọ thô sản xuất từ các nông trại ở Thái Lan có thể chứa từ (24)% các
axit béo tự do (Free Fatty Acids) trong khi đó dầu cọ tinh chế chỉ còn ít hơn 1%
(thường là khoảng 0,5%). Kết quả thử nghiệm đến 2.000 giờ, cho thấy tất cả các
động cơ hoạt động tốt với dầu cọ tinh chế. Dầu này đã được pha phụ gia để chống
sự tạo keo bám dính trên bề mặt các chi tiết động cơ của axit Phosphoric, và axit
béo được loại bỏ nhờ phản ứng xà phòng hóa với Hydroxit Natri.
Tiến hành thử nghiệm liên tục động cơ với dầu cọ thô, động cơ đầu tiên sau
khi qua 300 giờ thử nghiệm đã nhả khói đen và có tiếng gõ lớn. Tháo dỡ động cơ
cho thấy ăn mòn xung quanh cửa nạp và trên đỉnh piston. Các vòng găng bị mài
mòn và dầu cọ rơi vào dầu bôi trơn dường như đã polyme hóa thành một lớp nhầy
màu đen. Sau đó, động cơ được tân trang lại bằng các chi tiết mới, thay dầu bôi
trơn, chạy với dầu diesel và sau đó lập lại thí nghiệm. Lần này thử nghiệm đạt 550

một số yêu cầu cơ bản của nhiên liệu diesel truyền thống (DO). Theo hướng này,
công nghệ chủ yếu là:
1.2.2.1. Pha dầu thực vật với dung môi hòa tan có độ nhớt thấp
Nhánh này đã có một số nghiên cứu của:
Ao Hùng Linh (2005). Ứng dụng dầu dừa làm nhiên liệu cho động cơ diesel
DS-60R.
Hồ Đức Tuấn (2008). Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng chất pha
Ethanol trong hỗn hợp nhiên liệu dầu dừa – Ethanol đến một số thông số kỹ thuật
cơ bản của động diesel.
NCS đã có công trình: 15 Nghiên cứu thử nghiệm dầu thực vật Việt Nam làm nhiên liệu cho động cơ
diesel tàu cá cỡ nhỏ, Đề tài NCKH cấp bộ B2006-13-09 [2].
Dung môi sử dụng trong các đề tài trên là dầu hỏa và ethanol, tùy theo tỷ lệ
pha, hỗn hợp có thể cần sấy nóng hoặc không.
1.2.2.2. Pha dầu thực vật và chất phụ gia với dầu diesel (DO)
Việc chọn loại dầu thực vật Việt Nam là dầu dừa làm nhiên liệu đã được lý
giải trong tài liệu [2], chọn dung môi là dầu diesel thay cho dầu hỏa và ethanol [3]
vì tiện dụng và phù hợp với Chương trình nghiên cứu nhiên liệu sinh học của chính
phủ (Phụ lục 1)
Xuất phát từ cơ sở lý thuyết nhiên liệu dùng cho động cơ diesel; sự hình
thành hỗn hợp cháy và cháy nhiên liệu trong động cơ, hai vấn đề cần ưu tiên giải
quyết khi sử dụng nhiên liệu thay thế là:
a/ Xử lý độ nhớt: 100% hệ thống nhiên liệu của động cơ diesel sử dụng trong
lĩnh vực Nông-Lâm-Ngư hiện tại dùng dầu diesel độ nhớt thấp. Hệ thống này không
thể hoạt động với nhiên liệu có độ nhớt cao hơn tiêu chuẩn DO. Nhiên liệu hỗn hợp


Hình 1-2. Sơ đồ khối quá trình nghiên cứu
Trong đó:
x
1
%:

Cận dưới của tỷ lệ pha dầu dừa vào dầu diesel (không gia nhiệt) sao
cho độ nhớt nằm ở giới hạn trên của tiêu chuẩn dầu diesel.
x
2
%:

Cận trên của tỷ lệ pha dầu dừa vào dầu diesel và gia nhiệt hỗn hợp đến
80
0
C (trên nhiệt độ này độ nhớt giảm không đáng kể), tỷ lệ đủ lớn nhưng độ nhớt
vẫn nằm trong tiêu chuẩn dầu diesel.


Chỉ tiêu môi trường
NO
x

K%HC

CO
xB100
(SVO)

B00 (DO)
x%+P
g

T
0
C

0
x
1

SƠ ĐỒ KHỐI QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU

phỏng (Chương 3).
Cơ sở lý thuyết này còn cho phép lý giải kết quả nghiên cứu thực nghiệm ảnh
hưởng của tính chất nhiên liệu đến chỉ tiêu kinh tế và môi trường (Chương 4).

18Hình 2-1. Sơ đồ mô tả sự hình thành hỗn hợp và cháy nhiên liệu
của động cơ diesel HC

B
ồ hóng

N
O
x

Truyền nhiệt
Khu
ếch tán của
sản phẩm cháy
Cháy trễ
Đặc tính trễ phun
Đ

Sự bốc cháy
Quá trình cháy
T
ỉ lệ
tỏa
nhiệt

Phát th
ải
Khí xả
Cháy trước một phần hòa khí
Cháy khuếch tán
Hỗn hợp nhiên liệu, không khí
Kết cấu buồng đốt
Kết cấu cửa nạp Hệ thống phun
Không
khí
Nhiên
liệu 192.1. Nhiên liệu dùng cho động cơ diesel
Dựa trên lý thuyết về nhiên liệu, những chất cháy được và toả ra nhiều nhiệt
thì được sử dụng làm nhiên liệu. Tuy nhiên không phải chất nào cháy được và toả ra
nhiều nhiệt cũng được sử dụng làm nhiên liệu cho động cơ, nó còn phải thỏa mãn
một số điều kiện sau:
 Phải có số lượng nhiều trong tự nhiên để cung cấp lâu dài cho việc sử dụng.

đọng sương, do vậy trong tính toán thực tế người ta chỉ quan tâm đến nhiệt trị thấp
của nhiên liệu. Nhiệt trị cao không có ý nghĩa kỹ thuật nên để đơn giản, dưới đây sẽ
dùng thuật ngữ nhiệt trị theo nghĩa là nhiệt trị thấp.
2.1.3. Nhiệt độ chớp lửa và nhiệt độ bốc cháy. 20 Nhiệt độ chớp lửa (t
f
) - nhiệt độ tối thiểu của nhiên liệu lỏng tại đó hơi của
nó tạo được với không khí một hỗn hợp và bắt cháy khi đưa ngọn lửa tới gần.
Nhiệt độ bắt cháy (t
b
) - nhiệt độ tối thiểu tại đó mẫu thử được đốt nóng trong
những điều kiện quy ước bắt cháy khi đưa ngọn lửa tới gần và cháy trong thời gian
không tới 5 giây.
Nhiệt độ bắt cháy của sản phẩm dầu mỏ thường cao hơn nhiệt độ chớp lửa
khoảng (30-40)
0
C. Cho đến nay có hai dụng cụ với tên gọi là cốc kín và cốc hở
được sử dụng để xác định nhiệt độ chớp lửa và nhiệt độ bắt cháy.
2.1.4. Nhiệt độ vẩn đục và nhiệt độ đông đặc.
Nhiệt độ vẩn đục là nhiệt độ mà tại đó sản phẩm dầu mỏ bắt đầu vẩn đục do
sự kết tinh của parafin, nước và những chất khác.
Nhiệt độ đông đặc là nhiệt độ tại đó sản phẩm dầu mỏ mất tính lưu động.
Đối với nhiên liệu có nhiệt độ vẩn đục và đông đặc cao, cần có biện pháp sấy
nóng để tránh làm tắc các bộ phận lọc và khó bơm chuyển.
2.1.5. Khả năng tự bốc cháy của nhiên liệu

H
34
và -(C
10
H
7
CH
3
): n- C
16
H
34
là một hydrocacbon loại
parafin thường có tính bốc cháy rất cao, người ta quy ước số cetan của nó bằng 100; 21Còn -(C
10
H
7
CH
3
) là một hydrocacbon thơm, chứa một nhóm methyl trộn lẫn với
các nguyên tử hydrogen , khó tự bốc cháy, số cetan quy ước bằng không.
Tính tự bốc cháy của nhiên liệu có ảnh hưởng trực tiếp đến diễn biến quá
trình cháy ở động cơ diesel và qua đó ảnh hưởng đến các chỉ tiêu chất lượng của
động cơ.

ảnh hưởng rất ít đến cấu trúc tia phun nên không được xem xét ở đây.

Bảng 2.1 trình bày một số tiêu chuẩn kỹ thuật của nhiên liệu diesel (DO). 22Bảng 2.1: Nhiên liệu diesel (Tiêu chuẩn PERTROLIMEX).

Chỉ tiêu kỹ thuật
Mức quy định
Số cetan, min 45 48
Thành phần chưng cất, [
o
C]: max
-t
50

- t
90290
370

270
350
Độ nhớt ở 20
o

hàng đầu thiết lập các chỉ tiêu kỹ thuật cũng như phương pháp xác định các chỉ tiêu
đó đối với hàng loạt các loại sản phẩm, trong đó có sản phẩm dầu mỏ (Bảng 2.2).

Trích đoạn Các điều kiện mô phỏng Các chỉ tiêu kinh tế và môi trường của động cơ Diesel Kết quả mô phỏng và bàn luận Quy trình thử nghiệm THỊ SO SÁNH CÔNG SUẤT ĐỘNG CƠ Ở CÁC CHẾ ĐỘ TẢI VÀ MẪU NHIÊN LIỆU KHÁC NHAU
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status