Nghiên cứu công nghệ chế tạo vật liệu polyme compozit (PC) trên cơ sở nhựa vinyl ester và sợi vải gia cường, ứng dụng chống ăn mòn các thiết bị hoá chất - Pdf 13

VIỆN HOÁ HỌC CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI

NGHIÊN CỨU CÔNG NGHỆ CHẾ TẠO VẬT LIỆU
POLYME-COMPOZIT (PC) TRÊN CƠ SỞ NHỰA VINYL-
ESTER VÀ SỢI VẢI GIA CƯỜNG, ỨNG DỤNG
CHỐNG ĂN MÒN CÁC THIẾT BỊ HOÁ CHẤT CNĐT : LÊ THỊ THU HÀ 9019

HÀ NỘI – 2011

nhiều các sản phẩm dạng compozit như: thùng chứa nước sạch tanoval của Công ty
Hoàng Anh compozit; sản phẩm ống sợi thủy tinh của Công ty Cổ phần Ống sợi
Thủy tinh Nghi Sơn; vật liệu compozit lót sàn, nền cho các khu công nghiệp lớn của
công ty Việt Quang chemical; bồn, bể, thùng (chứa nước thải, nước tẩy nhuộm, lưu
trữ xăng dầu) của công ty Vinatank; sản phẩm của công ty Plasmate là các loại vật
liệu có mã số 890-CSM600, 899-CSM900, 932-S2QD1200/PB có thể chống ăn mòn,
chống lửa và chống đạn; ….Tuy nhiên các sản phẩm sản xuất trong nước đều sử dụng
cho dân dụng và sử dụng nguyên liệu nhập ngoại, các sản phẩm cao cấp hơn thì nhập
ngoại hoàn toàn nên giá thành rất cao. Vì vậy, đề tài ”Nghiên cứu công nghệ chế tạo
vật liệu polyme – compozit (PC) trên cơ sở nhựa Vinyl – ester và sợi vải gia cường,
ứng dụng chống ăn mòn các thiết bị hóa chất” là vấn đề cần thiết, có ý nghĩa ứng
2

dụng trong các dây chuyền sản xuất hóa chất cho ngành công nghiệp hóa chất nói
chung.
Mục tiêu của đề tài là tạo ra công nghệ chế tạo vật liệu polyme – compozit trên
cơ sở nhựa vinyl – este và sợi vải gia cường, ứng dụng để bọc lót bảo vệ thiết bị
ngành công nghiệp hóa chất.
Từ mục tiêu trên, đề tài được thực hiện với những nội dung sau:
- Tổng hợp nhựa vinyl – este. Phân tích tính chất của nhựa.
- Lựa chọn loại vải gia cường (chất liệu, độ dày, kích thước lỗ vải…)
- Nghiên cứu chế tạo vật liệu polyme – compozit trên cơ sở nhựa vinyl – este
và sợi vải lựa chọn.
- Tối ưu hóa các điều kiện chế tạo mẫu (tỷ lệ các thành phần, điều kiện công nghệ
chế tạo).
- Sản xuất thử 50m
2
.
- Thử nghiệm sản phẩm ở điều kiện thực tế và đánh giá chất lượng sản phẩm.
- Đề xuất phương án sản xuất quy mô pilot.

thời gian gel hóa bị chậm lại rất nhiều và nhiệt độ ở đỉnh tỏa nhiệt giảm. Với lượng α-
methyl styren sử dụng là 10% trọng lượng và styren 40% nhựa thời gian gel hóa là
hơn 8 giờ, đỉnh tỏa nhiệt không xác định.

4 Thời gian (phút)
Hình 1.2: Đỉnh gel hóa của nhựa vinyl este với hàm lượng % styren khác nhau.
Nghiên cứu cho thấy loại nhựa vinyleste phù hợp cho việc chế tạo sản phẩm
vật liệu polyme compozit cách nhiệt, chịu môi trường [1].

1.1.2. Nhựa vinyl este trên cơ sở poly(etylen terephlata) thải.
Người ta cũng tiến hành tổng hợp nhựa vinyleste đi từ Poly(etylen terepthalat)
(PET) theo các bước sau:
-Bước 1: Depolyme hóa PET với sự có mặt một lượng dư tetraetylen glycol (TEG);
có sử dụng mangan acetat làm xúc tác.
-Bước 2: Phản ứng giữa oligome tạo thành với epichlohydrin để tạo thành nhựa
epoxy; sử dụng xúc tác NaOH.
-Bước 3: Nhựa vinyleste được tạo thành bởi phản ứng giữa các nhóm epoxid nối
mạch với AA hoặc MAA.
Chu trình phản ứng xảy ra như sau:
5

Hình 1.3: Phản ứng tổng hợp nhựa vinyl este [2]
6


C đã được nghiên cứu tại khoa Công nghệ Vật liệu – Đại học Bách khoa- Đại
học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
Phương pháp phân tích nhiệt vi sai đã được sử dụng trong nghiên cứu để đánh
giá ảnh hưởng của hàm lượng chất khơi mào metyl etyl keton peroxit (MEKP) và
chất xúc tiến Co
2+
khác nhau đến khả năng đóng rắn của nhựa vinyl este đã tổng hợp.
Nhựa vinyl este này cũng được khảo sát đóng rắn ở nhiệt độ phòng. Trong
trường hợp này, lượng monome chưa tham gia phản ứng của nhựa cũng được xác định
trên thiết bị đo nhiệt vi sai quét (Differential Scanning Calorimetry – DSC).
Qua quá trình tổng hợp, khảo sát khả năng đóng rắn của nhựa và tạo vật liệu
compozit trên cơ sở nhựa vinyl este nhóm đề tài đã đưa ra kết luận:
+ Vật liệu compozit trên cơ sở nhựa vinyl este bền hóa chất, chịu môi trường ăn mòn
hóa học tốt, phù hợp để sản xuất vật liệu compozit chống ăn mòn hóa chất.
+ Nhựa đóng rắn ở nhiệt độ phòng (có mặt chất xúc tác và chất xúc tiến) [4].
1.1.5. Nhựa vinyl este epoxy trên cơ sở nhựa epoxy epikot 828.
Với mục đích tạo ra loại vật liệu polyeste không no mới có khả năng chịu kiềm
tốt, tính chất cơ lý cao, khả năng thấm sợi tốt, các nhà khoa học trường đại học Bách
khoa đã nghiên cứu loại nhựa vinyl este epoxy.
Loại nhựa này được tổng hợp từ nhựa epoxy lỏng (epikot 828) và axit
metacrylic, có sử dụng xúc tác. Phản ứng mở vòng nhóm epoxy bằng axit cacboxylic
không no có nối đôi đầu mạch diễn ra như sau:

Hình 1.5: Phản ứng mở vòng nhóm epoxy bằng axit cacboxylic không no.
8

Dưới xúc tác của amin bậc ba cơ chế phản ứng xảy ra theo cơ chế sau:
- Phản ứng theo cơ chế 1:
Amin bậc ba sẽ hoạt hóa nhóm axit tạo thành anion axit và anion này sẽ tấn
công vào các nhóm epoxy ở đầu mạch.

h: con lắc tay búa (một cái búa hình trụ); vật mẫu S
10

Vât liệu PC nêu trên được chế tạo từ sợi thủy tinh dạng E có khối lượng riêng
2,56 g/cm
3
và modun đàn hồi 72,35 GPa, trong khi nhựa vinyleste của hãng Bakelit
Hylam loại HPR 8171 có khối lượng riêng 1,21g/cm
3
, modun đàn hồi 2,5 – 4 MPa, có
sử dụng MEKP, cobalt naphthalen và N,N-dimethyl anilin làm chất xúc tác, chất khơi
mào phản ứng và chất trợ phân tán. Nhìn chung, đã có nhiều hãng sản xuất nhựa PC
trên cơ sở nhựa vinyleste gia cường bằng vải sợi thuỷ tinh với các chỉ tiêu nguyên liệu
đầu vào rất khác nhau, đồng thời chất lượng sản phẩm đầu ra cũng rất đa dạng. Bảng
1.1 là một ví dụ:
Bảng 1.1: Đặc tính cơ học của vật liệu có tỷ lệ 63,5% là vải thủy tinh
và 36,5 là nhựa vinyleste cùng phụ gia
Độ bền kéo đứt
(MPa)
Modun kéo
(GPa)
Năng lượng bẻ gãy
(J)
Độ bền va đập
(kJ/m
2
)
623.2
21.37
0.9762

gian tiếp xúc và tăng nhiệt độ môi trường.
- Trong môi trường nước độ bền kéo của vật liệu giảm không đáng kể [7]. Hình 1.12: Bề mặt của vật liệu sau 60, 300 ngày trong dung dịch kiềm ở 60
0
C
Ngoài ra, hỗn hợp nhựa vinyl-este gia cường bằng sợi thuỷ tinh khi kết hợp với
tác nhân chống cháy aluminum trihydrat (15%), tạo ra một loại vật liệu có khả năng
chống cháy và chống ăn mòn cao.
Giá thành của sản phẩm được tính toán là phù hợp và sản phẩm đã được ứng dụng
trong công nghệ sản xuất thiết bị phục vụ ngành hàng hải [8].
1.2.2. Vật liệu compozit trên cơ sở nhựa vinyleste có gia cường bằng sợi đay.
Vật liệu compozit trên cơ sở nhưa vinyleste được gia cường bằng sợi đay đã
được nghiên cứu. Các sợi đay đã được xử lý qua dung dịch NaOH 5% sau 0, 2, 4, 6 và
8 giờ ở 30
0
C.
12
Hình 1.13: Sự phân tán của sợi đay trong nhựa vinyleste
a, sợi đay thô; b, sợi đay đã được sử lý bằng dung dịch NaOH 5% sau 2 giờ.
Thí nghiệm cho thấy, độ phân tán của sợi đay sau khi đã được xử lý bằng dung
dịch NaOH 5% trong nhựa vinyleste tốt hơn khi chưa xử lý. Các tính năng độ bền của
vật liệu compozit trên cơ sở nhựa vinyleste cũng được cải thiện khi sử dụng sợi đay đã
qua xử lý để gia cường [9].
Bảng 1.2: Đặc tính cơ học của vật liệu compozit trên cơ sở nhựa vinyleste –
sợi đay thô và đã qua xử lý.

21,92
6
14,890
232,00
0,5678
23,05
8
12,320
204,20
0,5099
19,97
1.2.3. Vật liệu compozit trên cơ sở nhựa vinyleste gia cường bằng sợi thủy tinh và sử
dụng chất độn vô cơ.
Usman.A.S và Rorathia.M.C thuộc hải quân Mỹ đã nghiên cứu vật liệu compozit
trên cơ sở các loại nhựa như vinyleste, epoxy và phenolic có gia cường bằng sợi thủy
tinh và các chất độn vô cơ.
13

Các tấm vật liệu được nghiên cứu trên cơ sở: nhưa vinyleste/sợi thủy tinh/ lớp phủ
gốm; nhựa epoxy/grafit/ lớp phủ gốm và nhựa phenolic/grafit/ lớp phủ gốm.
Tính chất của các loại compozit đã chế tạo được đánh giá thông qua phép đo độ
bền uốn theo tiêu chuẩn ASTM D-790, khả năng bắt cháy và cách nhiệt theo ASTM E-
1354, chỉ số bắt lửa theo ASTM E-162, khói và khí độc được xác định theo ASTM E-
662.
Kết quả cho thấy khả năng chịu nhiệt của các loại vật liệu đã nghiên cứu là trên
450
0
F.
Với nguồn nhiệt bức xạ có công suất 25 kW/m
2

1,15
Modun kéo (GPa)
62,00
3,71
Độ bền kéo (MPa)
2760
63
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của lực đến mẫu vật liệu compozit trên cơ sở
nhựa vinyleste gia cường bằng sợi aramit có độ dày khác nhau cho thấy:
- Khả năng hấp thụ lực tác động vào vật liệu có độ dày khác nhau thì khác
nhau.
- Khả năng hấp thụ lực thay đổi rõ rệt ở loại vật liệu compozit có 3 lớp hỗn
hợp và 4 lớp hỗn hợp.
- Với một nguồn năng lượng 91,37 (J) và 110,73 (J) truyền qua loại vật liệu
compozit có 3 lớp hỗn hợp và 4 lớp hỗn hợp, bề mặt vật liệu không thay đổi
[11].
1.3.Vải sợi thủy tinh.
Nhìn chung, mỗi vật liệu compozit gồm một hay nhiều pha gián đoạn được
phân bố trong một pha liên tục duy nhất. Pha là một loại vật liệu thành phần nằm
trong cấu trúc của vật liệu compozit.
Pha liên tục gọi là vật liệu nền (matrix), thường làm nhiệm vụ liên kết các pha
gián đoạn lại. Pha gián đoạn được gọi là cốt hay vật liệu gia cường (reinforcement)
được trộn vào pha nền làm tăng cơ tính, tính kết dính, chống mòn, chống xước…
Các loại sợi gia cường có tầm quan trọng đặc biệt, làm cho vật liệu polyme
compozit có độ bền cơ lý cao đồng thời tăng độ chịu nhiệt, chịu lửa, cải thiện hệ số
giãn nở, chịu mài mòn và cách điện
Các nhóm sợi được sử dụng làm gia cường cho vật liệu compozit phổ biến
gồm: nhóm sợi khoáng chất: sợi thủy tinh, sợi cacbon, sợi gốm…; nhóm sợi tổng hợp
ổn định nhiệt: sợi Kermel, sợi Nomex, sợi Kynol, sợi Apyeil.
Các nhóm sợi khác ít phổ biến hơn: sợi gốc thực vật (gỗ, xenlulô): giấy, sợi

Khối lượng riêng,kg/m
3

2480
2540
2490
Độ bền kéo (MPa)
22
0
C
371
0
C
533
0
C

4585
3768
2413

3448
2620
1724

3033 Modun đàn hồi kéo E
1

thuyền buồm thể thao, thân vỏ ô tô, các ống dẫn dầu … và rất nhiều các sản phẩm
phục vụ đời sống hàng ngày [12].
Trên thị trường hiện nay có nhiều loại vải thủy tinh của các hãng khác nhau
như: Vải thủy tinh được chế tạo từ các sợi thủy tinh và sợi bazan của công ty TNHH
Hưng Vượng [13]; vải thủy tinh chế tạo từ những sợi thủy tinh rất mỏng có thể gia
cường cho các loại nhựa nhiệt dẻo và nhựa nhiệt rắn [14]; vải thủy tinh của công ty
cổ phần công nghệ và vật liệu nhựa cao cấp Plasmate; vải thủy tinh cách âm, chống
cháy của công ty Đông Á, có đường kính sợi 16m và đã được xử lý bề mặt …
1.3.1. Vải thủy tinh bề mặt mỏng.
Vải thủy tinh có bề mặt mỏng và vải màn bằng vải thủy tinh, được thiết kế dùng
làm lớp bề mặt cho các sản phẩm compozit gia cường bằng sợi thủy tinh yêu cầu bề mặt
đẹp, chất lượng cao trong khi không cần dùng đến lớp màng polyme bảo vệ.
Các vải chất lượng này có thể ngăn cản sự rạn nứt của màng phủ, ngăn chặn sự
thâm nhập của nước cũng như kéo dài tuổi thọ của bề mặt sản phẩm thêm nhiều năm.

Hình 1.15: Vải thủy tinh bề mặt mỏng.
Vải thủy tinh bề mặt mỏng phù hợp với công nghệ lăn ép tay. Các chất liên kết
trên cơ sở styren-acrylic giúp cho vải này có thể tương thích với tất cả các loại nhựa
như vinyl este, polyeste và nhựa epoxy.
Bên cạnh đó, các vải thủy tinh dạng mỏng, mịn còn dùng để sửa chữa các vết
nứt vỡ trên tường bằng cách sử dụng như vật liệu gia cường cho các hệ sơn trên
tường trong và ngoài nhà, nơi mà các rạn nứt như sợi tóc thường xuất hiện.
Các vải thủy tinh có bề mặt mỏng, mị này đáp ứng được các tiêu chuẩn:
+Tiêu chuẩn của Anh “BS4994”
17

(Thiết kế và xây dựng các thùng, bình chứa lớn trên cơ sở chất dẻo gia cường)
+Tiêu chuẩn của Mỹ “ASME/ANSI RPT-1-1989”
(Thiết bị chống ăn mòn trên cơ sở nhựa nhiệt rắn được gia cường).
+Tiêu chuẩn của Đức: DIN12116 (axit cấp 1), DIN52322: kiềm cấp 2 và DIN12111:

Loại vải này có khối lượng 23g/m
2
; chiều dày 0,04 – 0,045mm; đường kính sợi
12,5m. Vải có độ bền cao, phù hợp với máy quấn sợi cao tốc.
18

1.3.4. Các loại vải thủy tinh khác.
Hiện nay trên thị trường Việt Nam có nhiều loại vải thủy tinh của Trung Quốc
do các công ty nhập khẩu về. Sau đây là một số loại vải thủy tinh do công ty cổ phần
công nghệ và vật liệu nhựa cao cấp Plasmate nhập khẩu [15].
Hình 1.16: Một số loại vải thủy tinh nhập khẩu của Trung Quốc.
1.4. Nhựa epoxy
Nhựa epoxy là loại nhựa có nhiều đặc tính tốt như khả năng bám dính cao, có
khả năng chịu hóa chất tốt, vì vậy nó có phạm vi ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp
và đời sống. Loại nhựa này được biết đến vào năm 1927 và chúng được sản xuất theo
một quy trình tổng hợp ổn định vào năm 1936 tại Mỹ do tiến sĩ S.O.Greenlee (Mỹ) và
tiến sĩ Pierre Castan (Thụy sĩ). Ngày nay, ba hãng sản xuất lớn trên toàn cầu là
Hexion, the Dow Chemical company và Huntsman Corporation’S Advanced Material
business Unit. Hình 1.17 giới thiệu cấu trúc nhóm epoxy:
CH
2
CH
O

Hình 1.17: Cấu trúc nhóm epoxy -α

Nhựa epoxy được điều chế từ epiclohydrin và bisphenol A bằng phản ứng

Epoxy novolac
210 – 245
Epon 1031 (Shell)
Cao su epoxy
140
EP 206 (Union Carbide)
Cao su epoxy
232
FMC-2002 (Ciba)
Epoxy chịu lửa
240 – 270
Epotuf 37-200 (Shell)

Để nâng cao những khả năng của nhựa epoxy, người ta đã biến tính nhựa epoxy
với rất nhiều loại nhựa và các sản phẩm khác như các khoáng chất. Kết quả đem đến là
khi trộn hợp với bột bạc, cho ra sản phẩm có tính dẫn điện cao, khi gia cường với các
loại sợi như sợi cacbon, sợi thủy tinh tạo ra những tấm compozit có độ bền cơ lý cao,
còn khi biến tính với nhựa novolac cho ra một sản phẩm nhựa có khả năng chịu nhiệt,
chịu môi trường và có khả năng bám dính cao hơn nhựa epoxy thông thường.

OH
OH
O
CH
2
CH
2
OH
CH
2

liệu compozit trong lĩnh vực điện và hệ thống thông tin điện tử, trong lĩnh vực tạo ra
vật liệu tiêu dùng… [16].
1.5. Phương pháp chế tạo vật liệu compozit.
Hiện nay trên thế giới có nhiều phương pháp để chế tạo ra vật liệu compozit.
Mỗi phương pháp sản xuất lại có các đặc thù riêng liên quan đến chất lượng của sản
phẩm tạo thành.
Các phương pháp gia công chế tạo vật liệu compozit bao gồm:
- Phương pháp lăn ép bằng tay.
- Phương pháp phun trên khuôn.
- Phương pháp ép khuôn.
- Phương pháp RTM.
- Phương pháp đúc-kéo.
- Phương pháp quấn sợi.
- Phương pháp chân không.
- Phương pháp khuếch tán nhựa.
1.5.1. Phương pháp lăn ép bằng tay.
Phương pháp lăn ép bằng tay vật liệu compozit là một phương pháp cơ bản. Vật
liệu compzit được chế tạo bằng cách đặt từng lớp vải gia cường lên bề mặt khuôn và
quét nhựa lên từng lớp đó (bằng chổi) cho đến khi đạt được chiều dày sản phẩm như
mong muốn.
Đây là phương pháp chế tạo vật liệu compozit tiêu tốn nhiều thời gian nhất cũng
như sử dụng nhiều sức lao động.
Chất lượng sản phẩm cuối phụ thuộc rất nhiều vào tay nghề người gia công. Việc
không loại bỏ được hoàn toàn bọt khí trong sản phẩm khi gia công đã làm ảnh hưởng
lớn đến độ bền của sản phẩm. Tuy nhiên, phương pháp này có tính linh động cao khi
sản xuất các sản phẩm có hình dáng bất kỳ hay có thể sắp xếp các sợi gia cường theo
một hướng dễ dàng.
1.5.2. Phương pháp phun trên khuôn.
Phương pháp phun compozit yêu cầu ít nhân lực hơn nhiều so với phương pháp
lăn ép bằng tay, do sử dụng súng phun và các loại sợi ngắn gia cường. Vì thế chỉ các

thành khi nhựa được bơm vào để tránh tình trạng nén dồn ép các sợi trong suốt quá
trình điền nhựa để tránh hiện tượng sợi gia cường bị phân bố không đồng đều.
1.5.5. Phương pháp đúc-kéo.
Phương pháp đúc-kéo thường được sử dụng trong sản xuất các polyme
compozit sản lượng lớn. Một bó các sợi thô hoặc vải sợi có kích thước nhất định
được đưa qua một bể nhựa để thấm ướt, rồi được ép lại theo dạng hình thiết kế, sau
đó, chạy qua một khuôn nóng và đóng rắn tạo thành sản phẩm compozit.

Hình 1.20.Khuôn chế tạo vật liệu compozit theo phương pháp đúc kéo
Các compozit được cứng hóa, điển hình được gia cường theo một hướng bằng
các sợi dài liên tục hay đôi khi là vải gia cường theo 2 hướng, đều được kéo bằng một
đầu kéo để liên tục cấp các phần chưa đóng rắn của sợi đã tẩm nhựa đi vào khuôn
nóng, do đó mà được gọi là công nghệ “đúc-kéo”. Đây là một trong số rất ít các
phương pháp sản xuất liên tục tạo nên các sản phẩm compozit gia cường bằng sợi dài
liên tục. Tuy nhiên, chỉ có tiết diện của sản phẩm có thể thay đổi tùy thuộc vào từng
thiết kế trong khi chiều dài đạt theo ý muốn.
1.5.6.Phương pháp quấn sợi.
Đây là phương pháp rất đặc biệt để sản xuất compozit đi từ các sợi gia cường
dài liên tục. Các sợi đã ướt nhựa được quấn xung quanh một tang trống nhờ sử dụng
các đầu dẫn phụ.

23 Hình 1.21.Khuôn chế tạo vật liệu compozit theo phương pháp quấn sợi.
Tang trống (trục), sau đó, được đặt vào trong lò và đóng rắn tạo thành
compozit cứng. Do kiểu quấn được kiểm soát và điều khiển nên thể tích sợi trong sản
phẩm có thể đạt rất cao để tạo nên các sản phẩm có tính chất cơ học cao nhất. Quá
trình quấn sợi thường tiêu tốn thời gian và là nguyên nhân làm giảm sản lượng của
quy trình. Tuy nhiên, do tính chất cơ học rất cao của sản phẩm thu được cùng với quy

các bảng mạch và các linh kiện. Ngành công nghiệp đóng tàu, xuồng, ca nô; các
ngành dân dụng như y tế (hệ thống chân, tay giả, răng giả, ghép sọ…, ngành thể thao,
các đồ dùng thể thao như gậy gôn, vợt tennit… và các ngành dân dụng khác.
1.6.2.Tại Việt Nam.
Vật liệu compozit được áp dụng hầu hết ở các ngành, các lĩnh vực của nền kinh
tế quốc dân. Tính riêng nhựa dùng để sản xất vật liệu compozit được tiêu thụ ở Việt
Nam khoảng 5.000 tấn mỗi năm; theo đó vật liệu composite được sử dụng nhiều
trong đời sống xã hội. Tại khoa răng của bệnh viện trung ương Quân đội 108 đã sử
dụng vật liệu Compozit vào trong việc ghép răng thưa, các ngành thiết bị giáo dục,
bàn ghế, các giải phân cách đường giao thông, hệ thống tàu xuồng, hệ thống máng
trượt, máng hứng và ghế ngồi, mái che của các nhà thi đấu, các sân vận động và các
trung tâm văn hoá…Việt Nam đã và đang ứng dụng vật liệu Compozit vào các lĩnh
vực điện dân dụng, hộp công tơ điện, sào cách điện, đặc biệt là sứ cách điện.

Vật liệu composite trong hàng không
Trong những năm gần đây, compozit được sử dụng chế tạo các bộ phận trên
máy bay như kết cấu khung xương, thân máy bay, cánh, bộ phận dẫn hướng Theo
thống kê của hãng máy bay Boeing, chiếc Boeing Dreamliner 787 sử dụng đến 50%
compozit trên toàn bộ trọng lượng.
Một trong những lý do quan trọng nhất của việc ứng dụng rộng rãi loại vật liệu
này trong ngành Hàng không là độ bền và độ cứng tương đối trên trọng lượng riêng
của composite lớn. Điều này làm giảm tự trọng của máy bay, tiết kiệm nhiên liệu,
giảm ô nhiễm môi trường và tăng hiệu quả kinh doanh. Compozit còn được sử dụng
để chế tạo các chi tiết hình dáng phức tạp, góp phần làm giảm số lượng chi tiết trên
máy bay, đồng thời giảm thời gian và chi phí lắp đặt sản phẩm.
Vật liệu compozit cốt sợi thủy tinh có tính trong suốt đối với sóng rada, đặc
tính này rất quan trọng trong các ứng dụng quân sự. Nó còn được sử dụng nhiều trong
công nghệ vũ trụ.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status