Báo cáo chuyên đè : Điều tra cơ bản dân tộc rơ măm - Pdf 13



uỷ ban dân tộc
___________________________________________________

báo cáo kết quả dự án
điều tra cơ bản dân tộc Rơ măm Chủ nhiệm dự án: TS. Phan Văn Hùng 5631

2.2. Dân c, dân tộc 14
2.3. Tình hình kinh tế xã hội 14
2.4. Đánh giá chung 19

Phần thứ hai: đặc điểm tộc ngời, tình hình
thực hiện chính sách và thực trạng dân tộc
Rơ Măm
21
I.
đặc điểm cơ bản của dân tộc Rơ Măm
21
1. Lịch sử dân tộc và dân số 21
2 Đặc điểm kinh tế 32
3 Đặc điểm văn hóa 34
- Trang phục, trang sức 34
- Ngôn ngữ 34
- Các phong tục, tập quán 35
- Cấu trúc buôn làng, kiến trúc nhà cửa 40
4 Về xã hội 44
II. Tình hình thực hiện các chính sách, chơng trình, dự án
đối với đồng bào Rơ Măm
50
1. Tình hình thực hiện các chính sách, chơng trình, dự án 50
1.1 Chính sách Hỗ trợ dân tộc đặc biệt khó khăn 50
1.2 Chơng trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó
khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa (CT 135)
54
1.3 Chơng trình định canh, định c 55
1.4 Chơng trình mục tiêu quốc gia xoá đói, giảm nghèo 56
1.5 Chơng trình Phát triển kinh tế xã hội vùng Tây Nguyên 59

84

Phần thứ ba: Một số giải pháp bảo tồn và phát
triển dân tộc Rơ Măm
86
I. Một số nguyên tắc thực hiện dự án 86
II. Mục tiêu của dự án 89
III. Nội dung của dự án 89
IV. Các giải pháp thực hiện dự án 100

Kết luận và kiến nghị
106

Tài liệu tham khảo Dự án Điều tra cơ bản về dân tộc Rơ Măm

phần mở đầu

1. Sự cần thiết của dự án

Rơ Măm là một trong 5 dân tộc thiểu số có số dân ít nhất trong
cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Theo số liệu thống kê của tổng điều
tra dân số năm 1989 tổng số nhân khẩu của dân tộc Rơ Măm là 227
ngời. Ngời Rơ Măm sống tập trung theo cộng đồng. Địa bàn c trú
của đồng bào là làng Le, xã Mo Rai, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum,
thuộc vùng sâu, vùng xa, biên giới.
Trong hơn 10 năm vừa qua, Đảng và Nhà nớc ta đã thực hiện
nhiều chính sách, chơng trình, dự án nhằm phát triển kinh tế - xã hội,

hình kinh tế, văn hoá, xã hội của đồng bào góp phần thực hiện Nghị
quyết Trung ơng 7, khoá IX về công tác dân tộc; thực hiện khoản 5,
điều 2 Nghị định 51/2003/NĐ - CP, ngày 16 tháng 5 năm 2003 của
Chính phủ quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ
chức của Uỷ ban Dân tộc; ngày 17 tháng 6 năm 2004, Bộ trởng, Chủ
nhiệm Uỷ ban Dân tộc đã ký Quyết định số 151/QĐ-UBDT giao
nhiệm vụ thực hiện dự án Điều tra cơ bản về dân tộc Rơ Măm
.

2. Mục tiêu của dự án
Qua việc điều tra, đánh giá về dân tộc Rơ Măm, để tổng hợp đợc
bộ dữ liệu cơ bản và đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn, phát triển
dân tộc Rơ Măm, trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nớc.
3. Phạm vi và đối tợng điều tra
- Phạm vi điều tra: Dự án tiến hành điều tra, nghiên cứu tập trung
trong phạm vi làng Le, nơi đồng bào Rơ Măm sinh sống, môt số hộ
ngời dân tộc Rơ Măm sinh sống ở các xã lân cận hay ở địa phơng
khác dự án không có điều kiện điều tra, tìm hiểu.
- Đối tợng điều tra, phỏng vấn: Điều tra tất cả các hộ gia đình
dân tộc Rơ Măm sinh sống tại làng Le; phỏng vấn, trao đổi trực tiếp
với cán bộ Đảng, chính quyền, đoàn thể, lực lợng công an, quân sự
trên địa bàn đồng bào Rơ Măm c trú: Xã Mo Rai, huyện Sa Thầy,
tỉnh Kon Tum và các cơ quan nghiên cứu khoa học, ban quản lý Vờn
Quốc gia Ch Mo Rây, tỉnh Kon Tum

2
Dự án Điều tra cơ bản về dân tộc Rơ Măm

- Lĩnh vực điều tra: Dự án tiến hành điều tra, thu thập thông tin

Dự án Điều tra cơ bản về dân tộc Rơ Măm

chức điều tra, Ban chủ nhiệm dự án đã tập huấn cho các cán bộ tham
gia điều tra.
4.4. Phơng pháp đánh giá nhanh, có sự tham gia của ngời dân:
Đồng thời với các phơng pháp trên, dự án tổ chức các cuộc họp
với các nhóm đồng bào dân tộc nh: Họp với toàn thể dân làng để trao
đổi, thảo luận về những vấn đề hiện tại đang đặt ra, những nguyện
vọng, giải pháp kiến nghị của dân làng; họp nhóm với toàn thể cán bộ,
đảng viên của làng Le, nhằm trao đổi những vấn đề của làng, những đề
xuất giải pháp kiến nghị của lãnh đạo cơ sở
4.5. Phơng pháp điền dã dân tộc học:
Dự án tiến hành quan sát thực địa, đi thăm nơng rẫy, nhà cửa, địa
bàn c trú, tiếp xúc trực tiếp, trao đổi, thảo luận với ngời dân, ngời
có uy tín, già làng tham dự một số lễ cúng truyền thống, dự giờ học
của các lớp học sinh là ngời Rơ Măm; tiến hành ghi âm, chụp ảnh
hiện trạng làng bản, trờng học, trạm xá, nhà cửa, sản xuất, nơng rẫy,
vùng dự án,
4.6. Phơng pháp phỏng vấn:
Dự án tiến hành phỏng vấn sâu một số chủ hộ, già làng, cán bộ là
ngời dân tộc Rơ Măm và các cán bộ Đảng, chính quyền đoàn thể của
xã, lực lợng vũ trang đóng trên địa bàn, nhằm thu thập thông tin, trao
đổi, thảo luận về những vấn đề liên quan.
5. Nội dung của dự án
5.1. Điều tra, nghiên cứu điều kiện tự nhiên, lịch sử tộc ngời, dân
số và phân bố dân c của dân tộc Rơ Măm.
5. 2. Điều tra thực trạng kinh tế, văn hoá, xã hội dân tộc Rơ Măm
5.3. Điều tra, đánh giá tình hình thực hiện các chính sách của
Đảng, Nhà nớc ở vùng dân tộc Rơ Măm.
a. Những chính sách do Uỷ ban Dân tộc thực hiện:

+ Đinh Văn Đông, giáo viên trờng tiểu học làng Le, xã Mo Rai
+ Trần Văn Thức, giáo viên trờng tiểu học làng Le, xã Mo Rai

5
Dự án Điều tra cơ bản về dân tộc Rơ Măm

+ CN. U Minh Nam, cán bộ Ban Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Kom
Tum.
+ CN. Trần Văn Đoài, Chuyên viên Phòng QLKH, Viện Dân tộc,
Th ký dự án.
- Đơn vị thực hiện:
+ Viện Dân tộc, Uỷ ban Dân tộc
+ Ban Dân tộc tỉnh Kon Tum
+ Sở Kế hoạch và Đầu t tỉnh Kon Tum
+ Sở Lao động, Thơng binh và Xã hội tỉnh Kon Tum
+ Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Kon Tum
+ Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Kon Tum
+ Sở Y tế tỉnh Kon Tum
+ ủy ban Nhân dân huyện Sa Thầy
+ ủy ban Nhân dân xã Mo Rai
+ Chính quyền làng Le
+ Đơn vị Bộ đội Biên phòng thờng trú tại xã Mo Rai
+ Trờng tiểu học làng Le, Trờng phổ thông cơ sở xã Mo Rai.


giống bản địa, năng suất, hiệu quả kinh tế thấp. Sản xuất công nghiệp,
tiểu thủ công nghiệp hầu nh cha có gì.
Trong những năm gần đây, nhất là từ khi thực hiện đờng lối đổi
mới do Đảng ta khởi xớng và lãnh đạo, đợc sự giúp đỡ của Trung

7
Dự án Điều tra cơ bản về dân tộc Rơ Măm

ơng và các ngành, các cấp của tỉnh, sự kiên trì, cần cù, sáng tạo của
cán bộ và nhân dân các dân tộc, huyện Sa Thầy đã giành đợc những
thắng lợi to lớn và khá toàn diện trên tất cả các lĩnh vực. Nền kinh tế
của huyện tăng trởng nhanh, nhịp độ tăng trởng GDP hàng năm đạt
trên 10 %, riêng năm 2003 đạt 12%. Năm 2003, thu nhập bình quân
đầu ngời đạt mức 3,36 triệu đồng. Tổng sản lợng lơng thực (cây có
hạt): 11.054 tấn, lơng thực bình quân đầu ngời đạt 376 kg. Cơ cấu
kinh tế chuyển dịch theo hớng tích cực. Từ chỗ chỉ có 58,6 ha ruộng
lúa nớc, 5 đập nớc thời vụ, đờng giao thông chủ yếu là đờng đất,
điện, nớc, bu chính, các cơ sở công cộng phục vụ sản xuất và sinh
hoạt hoàn toàn cha có gì. Năm 2003, toàn huyện có 11.816,8 ha gieo
trồng, trong đó lúa đông xuân 466 ha, lúa nớc vụ mùa 725,6 ha, diện
tích cây sắn 3.700 ha, cây ngô 934,5 ha cây công nghiệp ngắn ngày
209,4 ha, cây cao su 3.351,7 ha, cà phê 663,4 ha cây ăn quả 372,5 ha
và một số diện tích cây trồng khác. Đến nay, trên địa bàn huyện đã
đảm bảo đáp ứng đợc nhu cầu về lơng thực, thực phẩm, cơ bản giải
quyết đợc nạn đói kinh niên. Tỷ lệ hộ đói nghèo còn 16,29 %. Điện
lới quốc gia đã kéo đến các thôn, làng trong toàn huyện. Tỷ lệ hộ
đợc dùng điện đạt 77% trên tổng số hộ. 10/10 xã, thị trấn đợc phủ
sóng truyền thanh - truyền hình, tỷ lệ dân số có phơng tiện nghe
truyền thanh và xem truyền hình chiếm trên 85 %. 09/10 xã đợc trang
bị điện thoại và có điểm bu điện văn hoá xã. Số lợng báo chí phát

bắc, từ 107
0
21

11

đến 107
o
44

54

độ kinh đông. Là một xã vùng
sâu, vùng xa nhất của huyện Sa Thầy, cách thị trấn Sa Thầy 40 km về
phía Tây, tiếp giáp với các địa bàn:
- Phía Bắc giáp xã Rờ Kơi, huyện Sa Thầy
- Phía Nam giáp huyện Ch Pả, tỉnh Gia Lai
- Phía Đông giáp các xã: Sa Sơn, Ya Sir và Ya Ly
- Phía Tây giáp Campuchia, với đờng biên giới dài 85 km
Đờng giao thông đi lại vô cùng khó khăn, đặc biệt là vào mùa
ma, hầu nh không có phơng tiện cơ giới nào có thể đi đợc. Toàn
xã có 7 thôn (làng) đó là: Làng Rẽ, làng Xộp, làng GRập, làng Le,
làng Tang, làng K Đin, làng Kênh. Trên địa bàn xã có các đơn vị Quân
đội đóng quân nh: Các đồn biên phòng: 709, 711, 707 và công ty 78,
binh đoàn 15 Bộ quốc phòng. Các làng phân bố dọc theo trục đờng
quốc lộ 14C đồng thời cũng là trục đờng giao thông chính của xã. Xã
có 2 dân tộc chính là dân tộc Gia Rai và Rơ Măm. Trong đó đồng bào
dân tộc Rơ Măm sống tập trung thành một làng riêng, gọi là làng Le.
Làng Le nằm cách trung tâm xã 4 km về hớng Tây.
- Địa hình:

Tổng diện tích đất tự nhiên của xã là: 158.820 ha. Xã Mo Rai có
quỹ đất tơng đối lớn, nhiều vị trí theo quy hoạch có khả năng khai
hoang sản xuất nông nghiệp, trồng cây công nghiệp, chăn nuôi gia súc
gia cầm.
Về phân loại đất đai, xã Mo Rai có những loại đất chủ yếu sau:
+ Đất phù sa sông, suối và thung lũng dốc tụ: Loại đất này phân
bố chủ yếu ở các khe suối và ven sông. Thành phần cơ giới từ trung

10
Dự án Điều tra cơ bản về dân tộc Rơ Măm

bình đến nặng, độ phì khá, kết cấu mịn. Diện tích loại đất này khoảng:
1378 ha, chiếm 0,88% diện tích toàn xã.
+ Đất nâu vàng trên phù sa cổ: Phân bố ở gần các vùng đất bằng
phẳng, gần nguồn nớc, địa hình thoai thoải, khả năng thoát nớc tốt.
Diện tích khoảng 5027,45 ha chiếm 3,16%.
+ Đất vàng đỏ trên đá mắc ma axít: Loại đất này có thành phần cơ
giới nhẹ đến trung bình, có diện tích khoảng 92510 ha, chiếm 58,92%
diện tích toàn xã.
+ Đất vàng nhạt trên đá cát: Loại đất này có hàm lợng Ka li cao,
thành phân cơ giới nhẹ, thoáng khí, thoát nớc nhanh, diện tích
30543,55 ha, chiếm 19,22%,.
+ Đất đỏ trên đá gơ nai: Diện tích 5710 ha, chiếm 3,29 %, loại đất
này phân bố chủ yếu ở các sờn đồi, núi.
+ Đất sám bạc màu trên đá Mắc ma axít và đá cát, có diện tích
1200 ha, chiếm 4,65%. Loại đất này phân bố chủ yếu ở các vùng trung
du giữa vùng núi và đất bằng, thung lũng. Thành phần của đất này
chua, nghèo mùn, đạm và lân tổng hợp thấp, tầng đất thờng mỏng,
nhiều đá, địa hình chia cắt.
+ Đất mùn vàng nhạt trên đá cát. Diện tích 7.300 ha, chiếm

+ Tốc độ gió cao nhất 25m/s
+ Tốc độ gió thấp nhất 5m/s
Tổng lợng bốc hơi hàng năm là 800 mm, chiếm gần 50% lợng
ma cả năm, lợng bốc hơi biến động theo thời gian trong năm, lợng
bốc hơi sớm nhất là từ tháng 4 đến tháng 7.
Độ ẩm bình quân từ 82 đến 87%, độ ẩm trong năm thay đổi không
lớn lắm, chỉ khoảng từ 2 4 %.
Nhìn chung khí hậu ở địa bàn xã tơng đối thuận lợi cho quá trình
sản xuất nông nghiệp, một số loại cây công nghiệp và cây ăn quả.
Thuỷ văn:

12
Dự án Điều tra cơ bản về dân tộc Rơ Măm

Hệ thống sông suối phân bố đều khắp trên địa bàn xã, gồm Ya
Tri, Đăk Mô, Ya Hron, Đăk HĐrai, Ya Lon. Trong đó, lớn nhất là suối
Đăk HĐrai có lu vực bao trùm khắp diện tích toàn xã. Đặc biệt là có
2 con sông lớn chảy qua địa phận xã là sông Sê San và sông Sa Thầy.
- Tài nguyên thiên nhiên:
Tài nguyên rừng: Xã Mo Rai có diện tích rừng tự nhiên lớn nhất
huyện Sa Thầy, với diện tích là 134.396 ha. Trong đó 39.642 ha thuộc
khu bảo tồn thiên nhiên Ch Mo Ray. Thực hiện cơ chế giao khoán,
bảo vệ và quản lý rừng, tỉnh đã giao cho các cơ quan, đơn vị nh: Giao
cho Lâm Trờng Mo Rai II quản lý 6.420 ha, giao cho Công ty 78,
thuộc quân đội chăm sóc, bảo vệ, phát triển 9.542 ha. Xã Mo Rai trực
tiếp quản lý 78.282 ha rừng và 50.754 ha đất rừng sử dụng cho sản
xuất của đồng bào các dân tộc quanh khu vực xã.
Tài nguyên rừng của xã Mô Rai vô cùng phong phú, đa dạng.
Theo tổng kiểm kê rừng năm 1998 thì tổng trữ lợng rừng của xã là:
12.024.078 m

địa bàn sống chủ yếu dựa vào rừng. Trớc kia, nguồn tài nguyên thiên
nhiên phong phú nơi đây chính là nguồn cung cấp lơng thực, thực
phẩm dồi dào cho đồng bào. Những năm gần đây, thực hiện chính sách
bảo vệ rừng đặc dụng, khu bảo tồn thiên nhiên, phần lớn diện tích rừng
đợc giao cho các đơn vị lâm trờng, công ty, đơn vị quân đội bảo vệ
và quản lý, vì thế diện tích rừng đợc phép khai thác, săn bắn, canh tác
nơng rẫy của đồng bào chỉ còn lại rất ít so với trớc đây.
2.2. Dân c, dân tộc
Theo báo cáo của ủy ban Nhân dân xã Mo Rai tại thời điểm tháng
10 năm 2004, xã Mo Rai có tổng số 455 hộ với 1857 nhân khẩu, trong
đó Nam có 919 ngời, chiếm 49,4%, Nữ 938 ngời, chiếm 50,6%. Số
ngời trong độ tuổi lao động là: 856 ngời.
Trên địa bàn xã Mo Rai có 2 dân tộc sinh sống đó là: Dân tộc Gia
Rai và dân tộc Rơ Măm là 2 dân tộc bản địa sống trên địa bàn xã.
Trong đó dân tộc Gia Rai chiếm đa số với 370 hộ, 1510 khẩu, sinh
sống ở 6 thôn (làng) (làng Rẽ, làng Xộp, làng GRập, làng Tang, làng K
Đin, làng Kênh); dân tộc Rơ Măm với 85 hộ, 347 khẩu sống tập trung
trong 1 làng (làng Le).
2.3. Tình hình kinh tế xã hội của xã Mo Rai
- Cơ sở hạ tầng nông thôn:
Giao thông: Hệ thống giao thông của xã bao gồm: Đờng giao
thông liên tỉnh 674, có chiều dài 86 km và tỉnh lộ 66B có chiều dài
khoảng hơn 40 km từ trị trấn Sa Thầy vào trung tâm xã. Các tuyến
đờng này hàng năm đều đợc tu sửa để đi lại tạm thời, nhng vào
mùa ma thì hầu hết bị nớc lũ cuốn trôi, tàn phá giao thông đi lại rất
khó khăn, nhiều ngày không thể đi lại đợc. Thời gian gần đây, trên

14
Dự án Điều tra cơ bản về dân tộc Rơ Măm


15
Dự án Điều tra cơ bản về dân tộc Rơ Măm

trạm đều đang hoạt động tốt, thu phát hầu hết các chơng trình của Đài
Truyền hình Trung ơng phục vụ nhân dân trong xã.
Hạ tầng thơng mại, dịch vụ: Hiện nay toàn xã Mo Rai cha có
điểm chợ. Mọi hoạt động trao đổi hàng hoá của đồng bào trong vùng
đều phải thông qua t thơng, hoặc phải ra tận trung tâm huyện, vô
cùng xa xôi, cách trở. Cả xã có 1 cửa hàng cung ứng các mặt hàng
chính sách. Tất cả các thôn trong xã đều có các cửa hàng tạp hoá nhỏ
của t nhân, buôn bán một số mặt hàng nhỏ, lẻ phục vụ đồng bào nh:
Xà phòng, thuốc lá, mì chính, đờng, rợu, bia, nớc ngọt
- Tình hình sản xuất:
Nông nghiệp
Mo Rai là một xã thuần nông, các ngành nghề khác cha phát
triển, sản lợng lơng thực, bình quân lơng thực đầu ngời thấp nhất
trong huyện Sa Thầy.
Trồng trọt, theo báo cáo của Uỷ ban Nhân dân xã Mo Rai, năm
2004 tổng diện tích gieo trồng toàn xã đạt: 2006 ha, trong đó: Lúa
nớc 27 ha, lúa rẫy 684,6 ha, ngô 46 ha, mì 117,8 ha, cây ăn quả 187
ha, rau 23,2 ha, cây công nghiệp và các loại cây khác 947,4 ha.
Sản lợng thu hoạch: Lúa rẫy 547,7 tấn, ngô 20 tấn, mì 480 tấn.
Tổng sản lợng lơng thực quy thóc ớc tính đạt 702 tấn.
Sản lợng lơng thực bình quân đầu ngời 385 kg/ ngời.
Cây công nghiệp, cây ăn quả:
- Diện tích cây tiêu: 286 gốc
- Diện tích cây điều: 58,5 ha
- Diện tích cây bời lời: 11 ha
- Diện tích cây ăn quả các loại: 187 ha
Công tác khuyến nông, khuyến lâm:

nông, lâm nghiệp trên địa bàn xã còn rất khó khăn. Trong xã chỉ có
một số cửa hàng tạp hoá nhỏ do ngời từ thị trấn hoặc xã khác vào mở.
Bên cạnh đó, một số ngời bán hàng rong, hàng hoá chủ yếu là rau quả
và thực phẩm, đa từ thị trấn huyện vào bán tại xã. Trong các quan hệ

17
Dự án Điều tra cơ bản về dân tộc Rơ Măm

mua bán, đồng bào các dân tộc thờng bị thiệt thòi, do bị mua đắt, bán
rẻ.
Từ năm 2000, huyện Sa Thầy đã tiến hành thực hiện chính sách
trợ giá, trợ cớc để thu mua, tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp, do
đồng bào sản xuất ra. Tuy nhiên do kinh phí ít, số lợng sản phẩm
đợc trợ giá hạn chế, vì vậy nhiều sản phẩm đồng bào đã làm ra không
tiêu thụ đợc.
- Về y tế:
Xã có 1 trạm y tế ở trung tâm xã với tổng diện tích là 150 m
2
. Đội
ngũ cán bộ y tế của xã có 1 bác sĩ (huyện tăng cờng) và 3 y tá (trong
đó có 1 y tá là ngời địa phơng, 2 y tá của huyện tăng cờng). 7 thôn,
làng có 7 cán bộ y tế trình độ sơ cấp.
Đến cuối năm 2003, trạm y tế xã đã khám, chữa bệnh cho 12.689
lợt ngời. 1996 phụ nữ trong độ tuổi từ 30 đến 49 đợc tuyên truyền
và cung cấp các biện pháp tránh thai. Trạm y tế xã phối hợp với y tế
của Binh đoàn 15 đóng trên địa bàn tổ chức khám chữa bệnh cho cán
bộ và nhân dân, phát thuốc phòng, chữa bệnh trị giá: 48.177.153 đồng,
tuyên truyền vận động nhân dân ăn chín, uống sôi, vệ sinh phòng bệnh
và phòng dịch.
Nhìn chung, trang thiết bị, thuốc men của cơ sở y tế xã còn thiếu

quả.
- An ninh quốc phòng:
Là một xã biên giới đợc phong tặng danh hiệu anh hùng lực
lợng vũ trang, có truyền thống cách mạng, công tác bảo vệ an ninh
chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn đợc làm khá tốt. Công tác
quản lý hộ tịch, hộ khẩu đợc thực hiện chặt chẽ. Trên địa bàn không
có đối tợng truyền đạo trái phép, không có đối tợng xấu gây mất trật
tự. Trên địa bàn xã đợc tăng cờng đơn vị quân đội, trạm công tác của
bộ đội biên phòng phối hợp với chính quyền xã đảm bảo an ninh quốc
phòng và giữ vững đờng biên giới của Tổ quốc.
2.4. Đánh giá chung
Thuận lợi:

19
Dự án Điều tra cơ bản về dân tộc Rơ Măm

Xã Mo Rai nói chung và vùng đồng bào Rơ Măm sinh sống nói
riêng có diện tích đất tự nhiên và diện tích rừng rất lớn, điều kiện khí
hậu, thời tiết, thuỷ văn thuận lợi cho phát triển các cây loại lơng thực
nh: Lúa, sắn, ngô, khoaivà cây công nghiệp nh: Bời lời, cao su,
điều Đất đai rộng lớn, thảm thực vật phong phú thích hợp cho phát
triển chăn nuôi đại gia súc nh: Trâu, bò, dê,
Địa bàn xã nơi đồng bào Rơ Măm sinh sống nằm trong khu vực
bảo tồn thiên nhiên Ch Mo Ray, nên đồng bào có điều kiện tham gia
các hoạt động khoán, quản lý bảo vệ rừng, mang lại nguồn thu nhập
khá cao và ổn định; đợc dự án bảo vệ khu bảo tồn đầu t cơ sở hạ
tầng, một số công trình công cộng, hỗ trợ sản xuất, đời sống
Khó khăn:
Mo Rai là xã biên giới, cách xa trung tâm huyện, địa hình phức
tạp, bị chia cắt nhiều bởi các con sông suối, giao thông đi lại rất khó

kẽ với làng của ngời Gia rai. Làng ngời Rơ Măm ở cao nhất về phía
Bắc so với các làng khác giáp với biên giới Campuchia,
Những già làng cho biết ngời Rơ Măm c trú ở vùng này từ xa
xa, trong những làng nhỏ rải rác dọc hai bên bờ sông Sa Thầy (gần
sông Pô Cô và sông Tri). Trải qua hơn nửa thế kỷ, ngời Rơ Măm sống
trong tối tăm, nghèo nàn, bệnh tật, chết chóc, lại thêm sự áp bức bóc
nột của thực dân, phong kiến nên dân số giảm xuống. Theo số liệu
trong cuốn các dân tộc ít ngời ở Việt Nam, trớc đây dân số của
ngời Rơ Măm còn rất nhiều, họ c trú rải rác ở 12 làng, cho đến trớc
khi giải phóng miền Nam họ c trú tập trung ở 2 làng là làng Le và
làng Rơ Măm, cách chỗ ở hiện nay khoảng hơn 10 km về phía Tây.
Theo những ngời già kể lại trớc đây ngời Rơ Măm tơng đối
nhiều. Trải qua quá trình đấu tranh sinh tồn, chống thiên tai khắc
nghiệt, thú dữ, bệnh tật lại thêm sự áp bức bóc lột của thực dân, đế
quốc và thời kỳ chiến tranh địch thảm sát nhiều ngời, làm cho dân số
giảm sút nghiêm trọng, đến nay ngời Rơ Măm chỉ còn lại số lợng rất
ít ỏi. Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đồng bào dân tộc

21
Dự án Điều tra cơ bản về dân tộc Rơ Măm

Rơ Măm sống lu lạc trong rừng Ch Mo Ray. Họ là những ngời
tham gia và có nhiều đóng góp cho cánh mạng.
Năm 1992, thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nớc, hai làng
Le và Rơ Măm đã gộp lại lấy tên là làng Le Rơ Măm, cách biên giới
Campuchia 8km, cách trung tâm huyện Sa Thầy 55km về phía Tây và
cách trung tâm xã Mo Ray 4km. Ngoài ra còn có hơn 10 ngời Rơ
Măm c trú ở Quảng Nam, Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Phớc, Cần
Thơ và Trà Vinh.
Đồng bào dân tộc Rơ Măm ở nớc ta có mối quan hệ đồng tộc,


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status