Nghiên cứu hoạt động của đảng và nhà nước chuyển đất nước từ thời bình sang thời chiến nhằm đánh thắng chiến tranh xâm lược kiểu mới của địch - Pdf 13

bộ quốc phòng bộ khoa học và công nghệ

Học viện quốc phòng Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu
Đề tài độc lập cấp nhà nớc Nghiên cứu hoạt động của đảng và Nhà
nớc chuyển đất nớc từ thời bình sang
thời chiến nhằm đánh thắng chiến tranh
xâm lợc kiểu mới của địch
Mã số: ĐTĐL - 2006/07 G Chủ nhiệm đề tài
Trung tớng, TS Phạm Xuân Hùng
Phó Tổng Tham mu trởng QĐND Việt nam
8051

Hà Nội - 2010

Mục lục

Mở đầu
3
Chơng 1

chiến 100
3.1. Giữ vững và tăng cờng sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt
của Đảng đối với sự nghiệp quốc phòng - an ninh, chuyển đất nớc
từ thời bình sang thời chiến 100
3.2. Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, chất lợng hoạt động của các
cơ quan tham mu; nâng cao năng lực quản lý, điều hành của Nhà
nớc; phát huy vai trò của Mặt trân Tổ quốc và các đoàn thể chính trị -
xã hội đối với nhiêm vụ chuyển đất nớc từ thời bình sang thời chiến
105
3.3. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lợng, hiệu quả bồi dỡng kiến thức
quốc phòng - an ninh, nhất là chuyển đất nớc từ thời bình sang thời
chiến cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cao cấp của Đảng 113
3.4. Nâng cao năng lực hoạt động của Chính phủ chuyển đất nớc từ
thời bình sang thời chiến

116
3.5. Chuẩn bị chu đáo mọi mặt từ thời bình, chú trọng xây dựng các kế
hoạch chuyển hoạt động của đất nớc sang thời chiến


3
Mở đầu

1. Tính cấp thiết
Để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, một trong
những nhiệm vụ rất quan trọng bảo đảm sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm
lợc của địch là chuyển đất nớc từ thời bình sang thời chiến; đó là vấn đề có
tính quy luật của mọi cuộc chiến tranh. Đây là giai đoạn chuyển trọng tâm mọi
hoạt động của toàn xã hội từ nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế-xã hội
sang nhiệm vụ quốc phòng-an ninh, chuẩn bị tiến hành chiến tranh nhân dân
bảo vệ Tổ quốc. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, đòi hỏi các cơ quan Đảng và
Nhà nớc phải tập trung lãnh đạo, điều hành mọi mặt hoạt động của toàn xã
hội, tạo sức mạnh tổng hợp để sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lợc của
địch. Thực tiễn trong các cuộc chiến tranh giải phóng trớc đây, chúng ta đã có
một số kinh nghiệm về hoạt động của Đảng và Nhà nớc trong lãnh đạo, điều
hành chiến tranh; nhng cha có nhiều kinh nghiệm về lãnh đạo, điều hành
chuyển đất nớc sang thời chiến trong điều kiện mới của chiến tranh nhân dân
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa. Về lý luận, vấn đề này cha đợc
nghiên cứu đồng bộ, toàn diện ở tầm vĩ mô để xác định rõ những nội dung lãnh
đạo của Đảng, điều hành của Nhà nớc, xác định phơng hớng xây dựng,
hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý để chỉ đạo phối hợp hoạt động giữa các
Bộ, Ban, Ngành, Đoàn thể Trung ơng chuyển đất nớc từ thời bình sang thời
chiến trong tiến hành chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy đề tài:
Nghiên cứu hoạt động của Đảng và Nhà nớc chuyển đất nớc từ thời bình
sang thời chiến nhằm đánh thắng chiến tranh xâm lợc kiểu mới của địch là
vấn đề có ý nghĩa chiến lợc, cấp thiết cho cả trớc mắt và lâu dài trong sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận kết hợp với tổng kết thực tiễn để cung cấp luận

hoạt động lãnh đạo của trung ơng Đảng, Bộ chính trị; điều hành của Quốc hội,
Chủ tịch nớc, Chính phủ và Trung
ơng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chuyển
đất nớc từ thời bình sang thời chiến.
7. Cấu trúc của đề tài
Gồm mở đầu, 3 chơng, kết luận, kiến nghị và các phụ lục.

5
Chơng 1

Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động của đảng và nhà
nớc chuyển đất nớc từ thời bình sang thời chiến

1.1. Cơ sở lý luận
Chiến tranh là hiện tợng chính trị - xã hội có tính lịch sử. Chiến tranh
xuất hiện và vận động theo quy luật riêng của nó, nhng có quan hệ biện chứng
với các quy luật phát triển xã hội. Việc chuẩn bị đất nớc bớc vào chiến tranh
(chuyển đất nớc sang thời chiến) của mỗi quốc gia tùy thuộc vào mục tiêu,
yêu cầu và phơng thức tiến hành của các bên tham chiến.
1.1.1. Chủ nghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh, quan điểm của
Đảng Cộng sản Việt Nam về chuyển đất nớc từ thời bình sang thời chiến
Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp,
giải phóng dân tộc là cuộc chiến tranh cách mạng, chính nghĩa. Mục tiêu,
phơng thức đấu tranh cách mạng; phơng thức tiến hành chiến tranh quy định
các nguyên tắc chỉ đạo chiến tranh và nghệ thuật quân sự. Trong chiến tranh
cách mạng, nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh, nghệ thuật quân sự phụ thuộc vào
mục tiêu chính trị. Phơng thức tiến hành chiến tranh, các loại hình tác chiến,


Tiếp thu lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, học tập kinh nghiệm của phong
trào cộng sản và công nhân quốc tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm xác định
mục tiêu chính trị, đờng lối cách mạng Việt Nam, vạch ra mục tiêu chính trị
của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Ngời cho rằng, để
đạt đợc mục tiêu của cách mạng Việt Nam phải sử dụng bạo lực cách mạng -
sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc dới sự lãnh đạo của Đảng để giải phóng
đất nớc và bảo vệ thành quả cách mạng đã giành đợc. Trong suốt tiến trình
cách mạng Việt Nam nói chung, chỉ đạo chiến tranh giải phóng dân tộc nói
riêng, quan điểm sức mạnh tổng hợp, tự lực, tự cờng, dựa vào sức mình là
chính là t tởng xuyên suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Toàn quốc đồng bào
hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta [55, tr 532]. Trên cơng vị là
ngời đứng đầu cơ quan lãnh đạo Đảng, Chủ tịch Chính phủ kiêm Thủ tớng
trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến, T tởng Hồ Chí Minh về chuyển
đất nớc sang thời chiến đợc thể hiện;
- Phát huy sức mạnh của toàn dân tộc, chuyển toàn diện, đồng bộ các

7
mặt, các lĩnh vực đời sống xã hội của đất nớc sang thời chiến: "Khi có chiến
tranh thì phải huy động và tổ chức tất cả các lực lợng trong nớc để chống
giặc". [ 56, tr 215].

Phải có kế hoạch sẵn sàng khi cần thì tản c có trật tự, không
lộn xộn. Phải có kế hoạch rộng để tăng gia sản xuất, một mặt kháng chiến, một
mặt làm ăn " [56, tr 240].
- áp dụng các biện pháp để bảo toàn lực lợng và động viên thời chiến,
Ngời chỉ thị : "Mỗi nhà, mỗi làng phải làm ngay những việc sau đây: 1. Đào
hầm để trú ẩn tránh tầu bay; 2. Của cải và lơng thực thì cất giấu cẩn thận,
phòng địch đốt phá [ 56, tr 240].
- Kiện toàn bộ máy hành chính nhà nớc, cải tiến lề lối, tác phong công

Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay thể hiện ý chí
quyết tâm cao, sự gắn bó chặt chẽ giữa mục tiêu bảo vệ nền độc lập dân tộc với
bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, là sự thống nhất giữa độc lập dân tộc, thống
nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, chủ nghĩa xã hội và xu thế phát triển của
xã hội loài ngời. Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng, là trách nhiệm của
các cấp, các ngành, mọi tổ chức và là trách nhiệm của mỗi ngời dân Việt Nam
yêu nớc.
Trên quan điểm đó, xuất phát từ nhiệm vụ cơ bản của sự nghiệp bảo vệ
Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn cách mạng mới, Đảng và
Nhà nớc phải lãnh đạo, chỉ đạo điều hành gồm:
"Một là, giữ vững môi trờng quốc tế thuận lợi duy trì hoà bình, ổn định
chính trị lâu dài.
Hai là, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, kết hợp với bảo vệ Đảng,
bảo vệ an ninh nội bộ.
Ba là, nỗ lực phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá.
Bốn là, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cờng
quốc phòng giữ vững an ninh quốc gia.
Năm là, đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, mở rộng hợp tác quốc tế [19].

Để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ nêu trên, toàn Đảng, toàn quân toàn
dân phải luôn kiên định lập trờng độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội;

9
thờng xuyên nắm vững hai nhiệm vụ chiến lợc; kiên định mục tiêu chính trị,
kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lợc trong quá trình xây dựng đất nớc.
Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc của đất nớc ta là sức mạnh tổng hợp. Đó là sức
mạnh của toàn dân, của cả nớc, của truyền thống và hiện đại, sức mạnh của
dân tộc và sức mạnh của thời đại. Phát huy nội lực là chính, đồng thời tranh thủ
tối đa mọi thuận lợi từ bên ngoài. Để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng và Nhà

Nam là sự kế tục kết quả của chiến lợc diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ
bằng chiến tranh cục bộ, quy mô lớn, cờng độ cao, sử dụng tối đa vũ khí và
phơng tiện chiến tranh công nghệ cao kết hợp với chiến tranh kinh tế, ngoại
giao, tình báo, thông tin và tâm lý
Chiến tranh kiểu mới cũng nh các loại chiến tranh khác, vừa vận động
theo quy luật chung vừa theo quy luật riêng, có những nét đặc thù và có mối
quan hệ đan xen chuyển hoá lẫn nhau, thể hiện ở một số vấn đề sau:
Một là, chiến tranh là sự đối đầu toàn diện, trên mọi lĩnh vực giữa 2 lực
lợng đối chọi nhau. Mục tiêu của chiến tranh là giành thắng lợi về chính trị,
kinh tế; là khuất phục, lật đổ chính quyền của đối phơng. Sự phát triển chiến
tranh tùy thuộc vào mục đích chính trị và tính chất của cuộc chiến tranh. Mục
đích chính trị càng triệt để, hành động quân sự càng quyết liệt. Tuy nhiên, khái
niệm chiến tranh cho ta thấy, chiến tranh - đặc trng là đấu tranh vũ trang.
Diễn biến chiến tranh trớc hết phụ thuộc vào nền kinh tế và tiềm lực khoa học
công nghệ, vào đối tợng tác chiến, cục diện chiến lợc quốc tế.
Hai là, để đạt đợc mục tiêu của chiến tranh, các bên sử dụng tổng thể
mọi biện pháp theo các phơng thức khác nhau. Có nghĩa là tiến hành một cuộc
chiến tranh toàn diện, trong đó phụ thuộc vào từng giai đoạn nhất định có thể -
u tiên hơn việc sử dụng các biện pháp quân sự, hay phi quân sự. Tuy nhiên,
trong một cuộc chiến tranh không có sự phân biệt rạch ròi giữa biện pháp quân
sự và phi quân sự thuần túy. Chúng đan xen nhau, kết hợp nhau, thúc đẩy
mạnh, dựa vào kết quả của nhau.
Ba là, chiến tranh kiểu mới là một cuộc chiến tranh đợc tiến hành bằng
những phơng thức khác những phơng thức truyền thống trớc đây. Nếu gọi
tên: "cuộc chiến tranh kiểu mới" tức là đã thừa nhận một cuộc chiến tranh trong
tơng lai có kiểu (dạng, loại) khác với những gì đã diễn ra trớc đây. Một trong
những điểm nổi bật mà cuộc chiến tranh kiểu mới đem lại là tạo ra sự đảo lộn
sâu sắc về biên chế tổ chức của các lực lợng quân sự hiện hành tại nhiều n
ớc.
Bốn là, sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ

xâm lợc bằng tiến công trên bộ với vũ khí công nghệ cao Các dạng của
chiến tranh kiểu mới đó có điều kiện, thời cơ, phơng thức và thời gian tiến

12
hành khác nhau; song có đặc trng cơ bản là: Có sự tham gia của một số nớc
trong khối NATO và các nớc trong khu vực thân Mỹ. Chiến tranh có sự kết
hợp các phơng thức đấu tranh bằng quân sự, kinh tế, chính trị, ngoại giao,
song bằng quân sự là chủ yếu. Quân xâm lợc thờng phải tạo đợc cớ hoặc
tạo dựng ngọn cờ. Chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao, mức độ tàn phá,
huỷ diệt lớn và rất quyết liệt.
Điểm mới trong chiến tranh của địch xâm lợc Việt Nam là: Mục đích
các cuộc chiến tranh trớc đây là xâm chiếm đất đai, lãnh thổ, lập chính quyền
tay sai sau khi kết thúc chiến tranh. Nhng chiến tranh xâm lợc kiểu mới
trong tơng lai là lừa bịp thế giới về nhân quyền, có thể phát động chiến tranh
khi đã tạo dựng đợc ngọn cờ của lực lợng đối lập làm tay sai cho Đế quốc.
Lực lợng quân sự tham gia chiến tranh xâm lợc Việt Nam sẽ là của nhiều
quốc gia, trong đó có thể có các quốc gia gần và lân cận ta. Nh vậy, khi chống
xâm lợc, Việt Nam sẽ phải đối phó với lực lợng liên minh quân sự của nhiều
nớc theo Đế quốc vì quyền lợi dân tộc hẹp hòi, hoặc vì bị ép buộc bởi một
ràng buộc nào đó về kinh tế. Cùng với đa quân xâm lợc, địch sẽ tiến hành
tổng hợp các biện pháp trên nhiều lĩnh vực: tâm lý, ngoại giao cô lập, phân hoá
nội bộ, chia rẽ các nớc có quan hệ ngoại giao tốt đã ủng hộ ta trên nhiều
phơng diện để cô lập ta. Vũ khí công nghệ cao đợc sử dụng phổ biến, nhất là
các loại vũ khí tiến công từ xa, điều khiển bằng hệ thống GPS
Phơng pháp tác chiến và các hình thức chiến thuật có nhiều phát triển
mới phù hợp với vũ khí trang bị mới. Cấp độ chiến tranh (quy mô sử dụng lực
lợng) có thể là các chiến dịch tiến công hoả lực, chiến tranh xâm lợc cục bộ
bằng cả tiến công hoả lực và tiến công trên bộ bằng binh lực. Thời gian chuẩn
bị chiến tranh tơng đối dài, nhng thời gian thực hành tiến công lại rất ngắn,
không gian tiến hành chiến tranh đợc mở rộng cả trên bộ, trên không, trên

ờng nhất, chuẩn bị sẵn sàng
để đất nớc không bị bất ngờ, vững vàng bớc vào thời kỳ chống chiến tranh
xâm lợc rất ác liệt, gian khổ và có thể phải lâu dài.
- Một số lý luận về chuyển đất nớc từ thời bình sang thời chiến
Chuyển đất nớc từ thời bình sang thời chiến, động viên thời chiến là
quá trình chuyển trọng tâm từ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội sang nhiệm
vụ bảo vệ Tổ quốc; là chuyển từ hoạt động xã hội thời bình sang hoạt động xã

14
hội trong hoàn cảnh chiến tranh; là chuyển phơng thức hoạt động từ đấu tranh
quốc phòng là chủ yếu, sang đấu tranh vũ trang là chủ yếu và tiến hành tổng
thể các biện pháp chuyển lực lợng vũ trang, nền kinh tế quốc dân, mọi mặt đời
sống xã hội thời bình sang thời chiến, do toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, mọi
lực lợng, mọi cấp, mọi ngành tiến hành nhằm giành thế chủ động chiến lợc,
bảo đảm và phát huy tiềm lực mọi mặt của đất nớc sẵn sàng đánh thắng chiến
tranh xâm lợc của địch [44].
Khi chuyển đất nớc từ thời bình sang thời chiến đánh thắng chiến tranh
xâm lợc kiểu mới của địch có thể có những đặc điểm:

Thứ nhất: Tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp khó lờng; mọi
mặt đời sống xã hội của đất nớc sẽ gặp nhiều khó khăn.
Âm mu thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản; xoá bỏ chủ nghĩa
xã hội trên phạm vi toàn cầu của chủ nghĩa đế quốc không hề thay đổi, đang
đợc diễn ra bằng các thủ đoạn tinh vi và nham hiểm hơn. "Diễn biến hoà
bình", hoạt động can thiệp, bạo loạn lật đổ, khủng bố quốc tế, gây xung đột vũ
trang và chiến tranh khu vực là những thủ đoạn mà các thế lực thù địch đã,
đang và tiếp tục tiến hành trên đất nớc ta. Mặc dù "Hoà bình, hợp tác và phát
triển vẫn là xu thế chủ đạo; toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đang đợc
đẩy nhanh; đầu t lu chuyển hàng hoá, dịch vụ, lao động và vốn ngày càng
mở rộng. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ thông tin

lĩnh vực đồng thời phải triển khai khối lợng công việc lớn.
Thứ ba: Nền kinh tế thị trờng,
cơ cấu kinh tế nhiều thành phần chi phối.
Nền kinh t hàng hoá nhiều thành phần định hớng xã hội chủ nghĩa đã
đem lại những thành tựu to lớn trong công cuộc xây dựng đất nớc. Để bảo
đảm cho nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần tồn tại và phát triển, hệ thống
pháp luật, cơ cấu tổ chức bộ máy hành chính nhà nớc, cơ chế quản lý phải
từng bớc bổ sung điều chỉnh cho phù hợp. Do vậy, chuyển đất nớc từ thời
bình sang thời chiến đánh thắng chiến tranh kiểu mới của địch so với những lần
ta đã chuyển đất nớc sang thời chiến trớc đây, không những chỉ thay đổi về
nội dung, phơng thức, mà nó thay đổi một cách sâu sắc cả về chính sách và
pháp luật, cơ chế vận hành và quy chế hoạt động của các tổ chức trong hệ
thống chính trị để chuyển đất nớc từ thời bình sang thời chiến.

16
Quyết định thời cơ chuyển đất nớc sang thời chiến là nghệ thuật chỉ đạo
và tiến hành chiến tranh của mỗi quốc gia. Từ kinh nghiệm cuộc kháng chiến
chống Pháp, chống Mỹ; nghiên cứu kinh nghim của một số nớc trong chiến
tranh vệ quốc thấy rằng: Tốt nhất là ta chủ động chuyển đất nớc sang thời chiến
trớc khi chiến tranh xảy ra. Tuy nhiên, không phải bao giờ đất nớc bị xâm
lợc cũng chọn đợc thời cơ lý tởng đó, sẽ xuất hiện hai trờng hợp:
Một là: Chủ động chuyển đất nớc từ thời bình sang thời chiến và động
viên thời chiến trớc khi chiến tranh nổ ra.
Hai là: Vừa chuyển đất nớc từ thời bình sang thời chiến, vừa thực
hành chiến đấu bảo vệ Tổ quốc (chuyển trong chiến tranh).
Khi chuyển đất nớc từ thời bình sang thời chiến phải quán triệt phơng
châm t tởng chỉ đạo, hệ thống chính sách, pháp luật của Nhà nớc nhng cần
quán triệt và thực hiện tốt ba yêu cầu:
Thứ nhất: Nêu cao cảnh giác, sẵn sàng chủ động trong mọi tình huống.
Thứ hai: Đề cao ý thức độc lập, tự chủ, tự lực tự cờng; phát huy tính u

đang tới gần. Nền công nghiệp quốc phòng đợc xây dựng nhằm bảo đảm cơ sở
kỹ thuật quân sự hiện đại cho lực lợng vũ trang. Nền nông nghiệp giữ vai trò
quan trọng trong cơ cấu kinh tế của Liên Xô. Nhà nớc Xô Viết đã tổ chức lại
hệ thống cung cấp lơng thực, thực phẩm cho quân đội và đáp ứng cho nhân
dân những nhu cầu sinh hoạt cần thiết. Ngành giao thông vận tải đặc biệt là
giao thông đờng bộ và đờng biển đã hoàn thành những công việc to lớn.
Hồng quân Liên Xô không ngừng đợc đợc hoàn thiện trên cơ sở cải cách kỹ
thuật của nền kinh tế quốc dân.
Chỉ đạo chuyển đất nớc từ thời bình sang thời chiến: đến năm 1939
Nhà nớc Liên Xô phải áp dụng hàng loạt các biện pháp nhằm tăng nhanh hơn
nữa sức mạnh chiến đấu của Hồng quân: trang bị lại cho Hồng quân những kỹ
thuật mới; cải tiến thiết bị các sân bay; thực hiện động viên thời chiến trên toàn
lãnh thổ Liên bang Xô Viết Tháng 4/1941, Ban Chấp hành Trung ơng Đảng
Cộng sản Liên Xô đã ra những nghị quyết về động viên các đảng viên, đoàn
viên thanh niên cộng sản; điều động những cán bộ u tú của Đảng vào các lĩnh
vực công tác quân sự; điều chỉnh thế bố trí lực l
ợng thờng trực quân đội.
Tháng 6/1941, thành lập Hội đồng Quốc phòng do Chủ tịch Xta - lin đứng đầu.
Tháng 9/1941, Xô Viết Tối cao Liên Xô, Hội đồng Xô Viết nhân dân Liên Xô
quyết định cải tổ Đại bản doanh của Bộ Tổng T lệnh thành Đại bản doanh

18
Bộ Tổng T lệnh tối cao. Hội đồng Quốc phòng nắm toàn bộ quyền lực trong
lực lợng vũ trang; trực tiếp chỉ đạo việc tổ chức lại nền kinh tế quốc dân; triển
khai Kế hoạch kinh tế quốc dân và động viên thời chiến cho quý III năm
1941; chỉ đạo di chuyển các xí nghiệp ở các vùng bị uy hiếp về miền Đông
của đất nớc. Chính phủ Liên Xô đã áp dụng các biện pháp để điều hành mọi
mặt hoạt động của đất nớc đáp ứng yêu cầu của chiến tranh.
Nh vậy, trong chiến tranh giữ nớc vĩ đại(1941 - 1945), Chính phủ và
nhân dân Liên Xô đã chủ động chuẩn bị đất nớc từ trong thời bình. Khi chiến

chính trị đối ngoại: Nam T chú trọng công tác giáo dục chính trị - tinh thần;
xây dựng lòng yêu nớc, ý thức đoàn kết dân tộc. Tổ chức và thực hiện công
tác tuyên truyền làm cho mọi tầng lớp nhân dân hiểu rõ bản chất của kẻ thù,
khơi dậy lòng căm thù giặc trong các tầng lớp nhân dân. Trên lĩnh vực ngoại
giao, Chính phủ Nam T luôn đề cao tinh thần độc lập dân tộc và chủ quyền
lãnh thổ, đã khôn khéo, mềm dẻo, chủ động điều chỉnh một số chính sách: đơn
phơng ngừng bắn; kêu gọi ngời tỵ nạn trở về (trong cuộc không kích lần thứ
nhất) để làm dịu tình hình căng thẳng ở trong nớc. Nhng, không khoan
nhợng trớc kẻ thù. Trong cuộc không kích lần thứ hai Nam T cắt quan hệ
ngoại giao với 4 nớc trong khối NATO (Mỹ, Anh, Đức, Pháp ) và An- ba- ni.
Trên lĩnh vực quân sự: Nam T chủ động mua sắm vũ khí trang bị, xây
dựng các công trình kiên cố, công trình ngầm, công trình trong núi để sơ tán
lực lợng, cất giữ các phơng tiện chiến đấu; xây dựng nền công nghiệp quốc
phòng có khả năng khai thác các vũ khí hiện đại nhập từ nớc ngoài phù hợp
với nghệ thuật tác chiến của Nam T. Chỉ đạo các đơn vị vũ trang phân tán lực
lợng, làm tốt công tác ngụy trang, giữ bí mật những vị trí mục tiêu quan trọng.
Nghiên cứu kinh nghiệm từ cuộc chiến tranh Vùng Vịnh, cuộc xung đột do Mỹ
và NATO tiến hành tại Bô-xni-a Héc-xê-gô-vi-na, Nam T phát triển nghệ
thuật quân sự của mình: chỉ đạo quân đội sử dụng lực l
ợng tác chiến đúng thời
cơ; có trọng điểm. Cùng với công tác quân sự, Nam T tích cựu tiêu diệt bọn
phản động nội địa. Đồng thời, ngăn chặn và đánh trả có hiệu quả các đợt tiến
công của Mỹ và NATO.
Tóm lại: để đối phó với cuộc tiến công xâm lợc của Mỹ và NATO
Chính phủ Nam T luôn nắm chắc tình hình, chủ động chuẩn bị đất nớc từ
trong thời bình. Nắm thời cơ chuyển đất nớc từ thời bình sang thời chiến. Quá

20
trình chuyển đất nớc từ thời bình sang thời chiến, Nam T đã chú trọng
chuyển toàn diện, đồng bộ mọi mặt đời sống xã hội; trong đó chuyển đất nớc

21
nhân sự. Tuy thay đổi về cơ cấu tổ chức, điều chỉnh nhân sự trong bộ máy nhng
hoạt động điều hành đất nớc của Chính phủ vẫn đợc tiến hành khẩn trơng,
nhịp nhàng với hai trọng tâm chiến lợc "kháng chiến" và "kiến quốc".
Trong bối cảnh đất nớc vừa giành đợc độc lập, trớc trăm công nghìn
việc vừa củng cố chính quyền non trẻ, vừa đấu tranh chống "giặc đói, giặc dốt,
giặc ngoại xâm"; khi đó Đảng cha ra hoạt động công khai mọi chủ trơng
Nghị quyết của Đảng mà thờng xuyên trực tiếp là Thờng vụ Trung ơng
Đảng đợc Chính phủ triển khai thực hiện qua các bài nói, bài viết của các
đồng chí lãnh đạo đứng đầu là Chủ tịch Chính phủ Hồ Chí Minh và các Sắc
lệnh của Chủ tịch Chính phủ. Những hoạt động điều hành đất nớc chủ yếu của
Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa trong kháng chiến gồm:
Thứ nhất: cải tổ bộ máy hành chính Nhà nớc, từ "Chính phủ lâm thời"
(9/1945) đổi thành "Chính phủ liên hiệp lâm thời" (01/01/1946); đổi thành
"Chính phủ liên hiệp kháng chiến" (02/3/1946) và "Chính phủ mới"
(03/11/1946).

Đổi tên và bổ sung chức năng, nhiệm vụ cho tổ chức hành chính địa
phơng, cơ sở thành "Uỷ ban hành chính kháng chiến các cấp". Phân công các
đồng chí lãnh đạo của Đảng và thành viên Chính phủ chỉ đạo từng mặt công tác
chuẩn bị kháng chiến. 16/7/1946 Chủ tịch Chính phủ ký Sắc lệnh cử ông Nguyễn
Sơn giữ chức Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến miền Nam. 07/10/1946, cử Phó Thủ
tớng Phạm Văn Đồng làm đặc phái viên Chính phủ tại miền Nam [91]

. Chính
phủ ra
quyết định thành lập các cơ quan chuyên môn nh Bộ Tổng tham mu, Cục
Chính trị, Phòng Quân giới, Ban Quân nhu thuộc Quân giải phóng (1945); một số
cơ quan t vấn nh "Ban Tản c", "Ban Vận động" (1946)
Thứ hai: đổi mới nội dung, phơng pháp, tác phong công tác: Chính phủ

năm1945, Gửi đồng bào Nam Bộ ngày 29 tháng 9 năm1945; Lời kêu gọi đồng
bào Nam Bộ ngày 29 tháng 10 năm1945; Lời kêu gọi thanh niên Nam Bộ ngày
30 tháng 10 năm1945 [56] và các mặt hoạt động khác của Nhà nớc và các đoàn
thể, các phong trào đợc phát động rộng rãi trên phạm vi cả n
ớc. Chính phủ đã
thực hiện thắng lợi công tác củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, động viên
chính trị tinh thần trong mọi tầng lớp nhân dân tạo ra u thế vợt trội với thực dân
Pháp. Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nớc trực tiếp

23
viết bài và phân công chỉ đạo nghiên cứu phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam
trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.
Thứ sáu: đẩy mạnh hoạt động đối ngoại: biết rõ âm mu của thực dân
Pháp quyết tái chiếm Việt Nam, Chính phủ đã chủ động mở rộng hoạt động đối
ngoại; Hiệp định sơ bộ (ngày 06 tháng 3 năm1946); Tạm ớc (ngày 14 tháng 9
năm 1946) vừa trì hoãn thời khắc nổ ra chiến tranh vừa quảng bá hình ảnh của
đất nớc, tuyên truyền tính hợp pháp, chính nghĩa của cuộc chiến tranh vệ quốc
của dân tộc Việt Nam trớc nhân dân và d luận tiến bộ trên thế giới, đặt nền
tảng cho mặt trận đấu tranh ngoại giao sau này.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954 1975)
Sau Hiệp nghị Giơ -ne- vơ (1954), đất nớc tạm chia làm hai miền cả
nớc thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lợc. Tại Hội nghị Trung ơng lần
thứ 13 (12/1957) Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: Ta đồng thời tiến hành hai chiến
lợc cách mạng: Cách mạng dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Hai nhiệm vụ cách mạng nói trên đều quan trọng, coi trọng nhiệm vụ nào cũng
là sai lầm. Tuy vậy, nhiệm vụ củng cố miền Bắc, tiến dần lên chủ nghĩa xã hội
có tính chất quyết định cho toàn bộ thắng lợi của cách mạng trong giai đoạn
mới. Lực lợng cách mạng ở miền Nam ta duy trì và phát triển thì đó là nhân tố
trực tiếp quyết định thắng lợi của cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam
. Đối

chiến lợc Chiến tranh đặc biệt ở miền Nam, Chiến tranh phá hoại ở miền
Bắc (từ năm 1960 -1965). Bớc sang năm 1966, chiến tranh đã lan rộng trên phạm
vi cả nớc, hình thức tiến hành chiến tranh, đối tợng tác chiến của từng chiến
trờng không giống nhau, Đảng ta nhận định tình hình, thể hiện trong Nghị quyết
Trung ơng 12 (12/1965): Quân viễn chinh Mỹ trực tiếp xâm lợc miền Nam,
không quân, hải quân Mỹ đánh phá miền Bắc, nhng tính chất cơ bản chiến tranh
của Mỹ vẫn là chiến tranh xâm lợc thực dân mới. Với tinh thần Không có gì
quý hơn độc lập tự do, Mỗi ngời phải làm việc bằng hai là nhiệm vụ trung
tâm của nhân dân cả nớc, là mục tiêu của công tác chính trị, Chính phủ chỉ đạo
Bộ Văn hóa tin phối hợp chặt chẽ cùng Ban Tuyên giáo Trung ơng, ủy ban
Trung ơng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân ở Trung ơng và
các địa phơng tuyên truyền, giáo dục, hớng dẫn các tổ chức đoàn thể và các
tầng lớp nhân dân dấy lên cao trào thi đua yêu nớc sôi nổi, rộng khắp, có chiều
sâu cha từng có trong lịch sử dân tộc Việt Nam.

25
Trên lĩnh vực kinh tế xã hội: triển khai chủ trơng ổn định và củng cố
miền Bắc Chính phủ triển khai kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1955 - 1960); kế
hoạch 5 năm lần thứ 2 (1960 - 1965), thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa, tiến
hành đồng thời ba cuộc cách mạng, cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng
khoa học - kỹ thuật và cách mạng t tởng - văn hóa, lấy cách mạng khoa học -
kỹ thuật làm then chốt. Nhằm, đa miền Bắc từng bớc tiến lên chủ nghĩa xã
hội làm căn cứ vững chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất đất nớc. Trớc diễn
biến phức tạp của tình hình, triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ơng lần thứ
11, Khóa III (3/1965), Chuyển nền kinh tế miền Bắc từ sản xuất thời bình
sang sản xuất thời chiến, Chính phủ chỉ đạo ủy ban kế hoạch Nhà nớc (nay
là Bộ Kế hoạch và Đầu t), Bộ Nông nghiệp, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Công
nghiệp nặng, Bộ Công nghiệp nhẹ, Bộ Thơng nghiệp kịp thời điều chỉnh kế
hoạch 5 năm lần thứ hai; thực hiện nhiệm vụ động viên cục bộ theo lệnh của
Chủ tịch nớc. Trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nớc, dới ma


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status