i
CƠ QUAN CHỦ QUẢN: BỘ CÔNG THƢƠNG
CƠ QUAN CHỦ TRÌ: VIỆN NGHIÊN CỨU CÂY
NGUYÊN LIỆU GIẤY CHỦ NHIỆM: ThS. NGUYỄN TUẤN ANH
PHÖ THỌ, THÁNG 12 NĂM 2010 i
CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG BÁO CÁO
CGIAR: Consultative Group on International Agricultural Research
FAO: Food and Agriculture Organisation
NLG: Nguyên liệu giấy
NC: Nghiên cứu
NC&TN: Trung tâm nghiên cứu và thực nhiệm
TAPPI: Technical Association of the Pulp and Paper Industry
TNDTTVLN: Tài nguyên di truyền thực vật lâm nông
Các ký hiệu
D1.3: Đƣờng kính ngang ngực
Hvn: Chiều cao vút ngọn
V: Thể tích
Hdc: Chiều cao dƣới cành
Dt: Đƣờng kính tán
Zv,h,d: Tăng trƣởng lần lƣợt của thể tích, chiều cao và đƣờng kính
Sv,h,d: Sai tiêu chuẩn lần lƣợt của thể tích, chiều cao và đƣờng kính
Szv,h,d: Sai tiêu chuẩn lần lƣợt của tăng trƣởng thể tích, chiều cao và đƣờng kính
1
TÓM TẮT
Báo cáo này trình bày kết quả bảo tồn nguồn gen cây nguyên liệu giấy dƣới
phƣơng thức ex situ (bao gồm 2 hình thức cơ bản là in vitro và Field gene bank -
- Quyết định số 1035/QĐ-BTC ngày 27/02/2009 của Bộ trƣởng Bộ công
nghiệp về việc điều chỉnh và đặt hàng bổ xung thực hiện nhiệm vụ khoa học và
công nghệ năm 2009.
- Hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ số 03a.09.QGHĐ-
KHCN ký ngày 23/03/2009 giữa Bộ công thƣơng và Viện nghiên cứu cây nguyên
liệu giấy.
- Quyết định số 29/QĐ-KHTH ngày 26/03/2009 của Viện trƣởng Viện
nghiên cứu cây nguyên liệu giấy về việc giao nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và
phát triển công nghệ.
1.2 Tính cấp thiết
Bảo tồn nguồn gen cây rừng nói riêng và bảo tồn nguồn gen cây nguyên liệu
giấy nói chung là bảo tồn các đa dạng di truyền cần thiết cho các loài cây thuộc đối
tƣợng nghiên cứu nhằm phục vụ cho công tác cải thiện giống trƣớc mắt hoặc lâu
dài, tại chỗ hoặc nơi khác (Lê Đình Khả và Dƣơng Mộng Hùng 2003). Kinh
nghiệm của sản xuất và nghiên cứu cho thấy rằng khi tập trung vào khai thác và
gây trồng các giống có năng suất cao, chúng ta đã quên đi các nguồn gen có giá trị
đặc dụng, hoặc có tính chống chịu với điều kiện bất lợi song năng suất thấp. Khi
khoa học phát triển đến trình độ cao chúng ta mới cần đến nó thì không còn nữa.
Biến dị di truyền hiện tồn tại giữa các xuất xứ, các gia đình và các cây cá thể
bên trong một loài là vô cùng quan trọng và cần phải đƣợc bảo tồn, vì chúng là cái
đảm bảo cho sự bền vững và ổn định của loài và xuất xứ; là nguồn gốc của sự đa
dạng và là cơ sở cho quá trình tiến hóa của loài trong tƣơng lai (Nguyễn Hoàng
Nghĩa 1997a; 1997b; Nguyễn Hoàng Nghĩa 1999). Biến dị di truyền không chỉ
đƣợc dùng cho các chƣơng trình cải thiện giống và sử dụng hiện tại của con ngƣời
mà nó còn rất quan trọng cho sự phát triển của các thế hệ tiếp theo, để cho loài cây
thích nghi liên tục với các điều kiện môi trƣờng biến đổi và thích nghi với các nhu
cầu đa dạng của con ngƣời. Bởi vì, lƣợng biến dị di truyền trong một loài càng lớn
3
thì càng có nhiều cơ hội chọn đƣợc các cá thể có các đặc tính mong muốn. Vì đối
nơi phân bố của chúng, bên trong hệ sinh thái tự nhiên hoặc ban đầu, hoặc ở lập địa
4
mà hệ sinh thái đó đã có trƣớc đây”. Phƣơng thức này thƣờng đƣợc áp dụng tại các
khu rừng tự nhiên.
Bảo tồn ex situ: “là sử dụng bất kỳ biện pháp nào để thực hiện việc rời các
cây cá thể hoặc những vật liệu nhân giống ra khỏi khu phân bố tự nhiên của
chúng”.
Báo cáo này trình bày kết quả bảo tồn nguồn gen cây nguyên liệu giấy dƣới
phƣơng thức ex situ (bao gồm in vitro và Field gene bank) từ khi nhiệm vụ bảo tồn
gen cây nguyên liệu giấy đƣợc xây dựng và kết quả theo dõi, thu thập nguồn gen
trong năm 2010.
1.3. Mục tiêu nhiệm vụ
Chọn đƣợc 25 nguồn gen mới để bổ xung vào quỹ gen của Viện nghiên cứu
cây nguyên liệu giấy
Bảo tồn và lƣu giữ an toàn nguồn gen quí hiếm của cây nguyên liệu giấy
đang đƣợc lƣu giữ
1.4. Địa điểm, đối tƣợng và nội dung công việc
1.4.1. Địa điểm thực hiện
Nhiệm vụ bảo tồn và lƣu giữ nguồn gen cây nguyên liệu giấy đƣợc thực hiện
ở các địa điểm sau:
Xã Phù Ninh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ: Bảo tồn in vitro và Field gene
bank.
Xã Gia Thanh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ: Bảo tồn Field gene bank.
Xã Tiên Kiên, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ: Bảo tồn Field gene bank, thu
thập nguồn gen
Xã Ngọc Thắng, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ: Thu thập nguồn gen
Thị trấn Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc: Thu thập nguồn gen
Việt Thành – Tân Thành, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang: Thu thập
nguồn gen.
mềm lƣu giữ.
- Cung cấp các thông tin về nguồn gen quý hiếm phục vụ công tác lai tạo
giống mới có năng xuất cao, chất lƣợng tốt.
1.5. Tổng quan nhiệm vụ
1.5.1. Trên thế giới
Tài nguyên di truyền cây nông nghiệp tức là quỹ gen cây nông nghiệp, đƣợc
FAO gọi là tài nguyên di truyền thực vật vì mục tiêu lƣơng thực và nông nghiệp
(TNDTTVLN), lại là phần có trọng số lớn nhất của toàn bộ tài nguyên di truyền
6
thực vật. Sự xói mòn nguồn gen cây trồng trong nông nghiệp gây ra bởi nhiều
nguyên nhân hiện nay đang là vấn đề nghiêm trọng, Để có thể bảo tồn và sử dụng
hiệu quả đa dạng sinh học nông, lâm nghiệp trong đó tài nguyên di truyền thực vật
là hạt nhân, Hội nghị Thƣợng đỉnh lần thứ nhất về môi trƣờng họp tại Stockholme,
Thụy Điển năm 1972 đã kêu gọi khẩn cấp nhiệm vụ bảo tồn tài nguyên di truyền
thực vật. Hai mƣơi năm sau, Hội nghị Thƣợng đỉnh lần thứ hai họp tại Río de
Janero, Brazin năm 1992 đã thoả thuận Công ƣớc đa dạng sinh học. Hội nghị Kỹ
thuật quốc tế lần thứ tƣ về tài nguyên di truyền thực vật phục vụ mục tiêu lƣơng
nông do FAO triệu tập năm 1996 tại Cộng hòa liên bang Đức đã thống nhất Kế
hoạch hành động toàn cầu (Global Plant of Action, GPA) về bảo tồn quỹ gen cây
nông nghiệp. Gần đây, tháng 11 năm 2001 Đại hội đồng FAO đã thông qua Hiệp
ƣớc về Tài nguyên di truyền thực vật phục vụ mục tiêu lƣơng nông nhằm thiết lập
một hệ thống tiếp cận tài nguyên cây trồng và chia sẻ lợi ích đa phƣơng phục vụ
lƣơng thực và nông nghiệp (Nguyễn Thị Ngọc Huệ 2007).
Việc lƣu giữ và bảo tồn nguồn gen quý hiếm của các loài cây nguyên liệu
giấy nói riêng và các cây thân gỗ nói chung là việc làm rất cần thiết, đã và đang
đƣợc nhiều nƣớc trên thế giới chú ý:
- Năm 1850 ở Châu Âu ngƣời ta đã bắt đầu nhận thức đƣợc vấn đề cần bảo
tồn.
- Năm 1985 bảo tồn đa dạng sinh học đƣợc bắt đầu và đến năm 1992 các
đó hình thức bảo tồn này đƣợc áp dụng rộng rãi ở nhiều nơi (Viện khoa học lâm
nghiệp Quảng Tây, Viện khoa học lâm nghiệp Quảng Đông ) cho các đối tƣợng:
Bạch đàn, thông, keo và một số loài cây khác (Trích từ Đoàn Thị Thanh Nga 2008).
Nhìn chung, tất cả các nghiên cứu và đầu tƣ trên đều tập trung vào tầm quan
trọng của công tác bảo tồn nguồn gen, nó có vai trò rất quan trọng trong công tác
giống, một số thàng tựu đã đạt đƣợc và các nghiên cứu vẫn đang đƣợc thực hiện
trên thế giới.
1.5.2. Ở Việt Nam
Bảo tồn nguồn gen cây rừng đã đƣợc nhiều nhà khoa học ở Việt Nam quan
tâm. Theo quy chế “bảo tồn nguồn gen động vật, thực vật và vi sinh vật” đƣợc Bộ
Khoa học công nghệ và Môi trƣờng ban hành ngày 30 tháng 12 năm 1997 thì
nguồn gen là những vi sinh vật sống hoàn chỉnh hay bộ phận của chúng mang
thông tin di truyền sinh học, có khả năng tham gia hay tạo gia giống mới của thực
vật, động vật và vi sinh vật (Trƣơng Văn Lung).
8
Từ định nghĩa trên có thể thấy rõ bảo tồn nguồn gen chính là bảo tồn các vật
thể mang thông tin di truyền những vật liệu ban đầu có khả năng tạo ra giống mới.
Điều quan trọng khi bắt tay vào bảo tồn nguồn gen là phải xác định đƣợc mục tiêu
bảo tồn. Mục tiêu bảo tồn khác nhau thì phƣơng pháp và đối tƣợng bảo tồn cũng
khác nhau. Cho đến nay, mục tiêu bảo tồn gen bao giờ cũng xác định là để cho
công tác chọn giống và gây giống trƣớc mắt và trong tƣơng lai. Vì vậy, việc bảo
tồn nguồn gen bao giờ cũng đƣợc tập trung giải quyết cho các loài cây trồng chủ
yếu (Trƣơng Văn Lung). Các loài cây nguyên liệu giấy là một trong những mục
tiêu nhƣ vậy. Nó sẽ đƣợc dùng cho công tác lai giống và nhân giống sau này.
Theo Nguyễn Thị Ngọc Huệ (2007), qua phân tích tổng quan tình hình bảo
tồn và sử dụng tài nguyên di truyền thực vật trên thế giới và Việt Nam cho thấy:
Nhận đƣợc tầm quan trọng của nguồn tài nguyên này, nhiều nƣớc trong đó có Việt
Nam đã tập trung cho bảo tồn ex situ, cho đến những năm 90 thì bắt đầu quan tâm
nhiều đến bảo tồn in situ. Hiện nay Chiến lƣợc bảo tồn tài nguyên di truyền thực
liệu giấy (Đoàn Thị Thanh Nga, 2008).
Các kết quả đạt được trong công tác bảo tồn và phát triển nguồn gen quý
hiếm cây nguyên liệu giấy (Đoàn Thị Thanh Nga, 2008):
Từ những năm 1975, do có dự án nƣớc ngoài tài trợ nên Viện có rất nhiều
công trình nghiên cứu, phát triển nguồn gen quý hiếm đƣợc triển khai cho những
cây nhập nội nhƣ thông, bạch đàn, keo và thu đƣợc nhiều kết quả đóng góp đáng
kể cho sự nghiệp trồng rừng nguyên liệu.
Đối với thông: Để nghiên cứu chọn loài phục vụ trồng rừng cung cấp
nguyên liệu sợi dài. Từ những năm 1975 Viện đã triển khai trồng thử 23 xuất xứ
của 4 loài thông nhiệt đới P. caribea, P. oocarpa, P. kesiya và P. merkusii trên 4
dạng lập địa của vùng nguyên liệu giấy Vĩnh Phú - Hà Tuyên. Kết quả đã chọn
đƣợc loài P. caribaca hondurensis với xuất xứ từ Mountain Pine Ridege thuộc
cộng hoà Belize đƣa vào trồng ở phía nam nguyên liệu. Đã chọn ra đƣợc 100 cây
trội.
Đối với bạch đàn: Từ năm 1979, Viện đã khảo nghiệm hơn 80 loài và xuất
xứ trên 43 điểm/lập địa. Kết quả đã chọn đƣợc 4 loài: E. camaldulensis, E.
tereticornis, E. urophylla, E. grandis x E. urophylla và các xuất xứ: Pettford
(Queensland – Australia) của loài E. camaldulensis, xuất xứ Lewotobi (Indonesia)
của loài E. urophylla. Các khảo nghiệm dòng dõi (kể cả các dòng dõi tự do thụ
phấn và dòng vô tính) của các loài trên cũng đã đƣợc triển khai cùng với việc chọn
đƣợc 200 cây trội.
10
Đối với keo: Năm 1981, Viện đã khảo nghiệm trên 100 loài ở 30 điểm/lập
địa và đã chọn ra một số loài sinh trƣởng nhanh, phát triển tốt. Đó là các loài
A. mangium, A. crasicarpa, A. aulacocarpa, A. mangium x A. auriculifocmis,
A. auriculifocmis x A. mangium. Các xuất xứ tốt nhƣ: Iron Range, Cardwell,
Mossman của loài A. mangium. Đã tuyển chọn đƣợc 100 cây trội của các xuất xứ
này.
Giống là một trong những khâu quan trọng nhất của trồng rừng thâm canh,
2.1. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.1.1. Phƣơng pháp luận
Cơ sở khoa học để bảo tồn loài và tài nguyên di truyền của chúng phụ thuộc
chủ yếu vào kết quả nghiên cứu và giải thích thông tin về phân bố tự nhiên, cơ sở
sinh thái của phân bố và di truyền biến dị. Muốn việc bảo tồn và sử dụng các nguồn
tài nguyên di truyền có hiệu quả, trƣớc hết phải có đƣợc các thông tin cần thiết về
quy mô tồn tại, hiện trạng của nguồn gen quan tâm (Nguyễn Hoàng Nghĩa 1997a).
Quá trình điều tra khảo sát bao gồm phát hiện và thu thập nguồn gen, lấy
mẫu đem bảo tồn nhằm xem xét các dạng biến động sinh thái và kiểu hình để tạo cơ
sở cho việc xác định các xuất xứ, các loài quan trọng để thu hái hạt hoặc các vật
liệu di truyền cho việc khảo nghiệm và bảo tồn nguồn gen sau này (Nguyễn Hoàng
Nghĩa 1997a).
Về thực chất, bảo tồn tài nguyên di truyền từ rừng trồng là duy trì đa dạng di
truyền ở mức mong muốn trong các lâm phần hoặc các dạng khác của bảo tồn gen.
Sử dụng là mục tiêu cuối cùng của mội hoạt động liên quan đến bảo tồn. Nó bao
gồm việc thu thập, cung cấp hạt hoặc vật liệu nhân giống phục vụ xây dựng
vƣờn/rừng giống, khảo nghiệm xuất xứ và trồng rừng, chọn giống với các gen ƣu
việt. Từ cơ sở lý luận trên, nhiệm vụ thực hiện các phƣơng pháp nhƣ dƣới đây.
2.1.2. Phƣơng pháp cụ thể
2.1.2.1. Thu thập nguồn gen
Thu thập nguồn gen các giống bạch đàn, keo nhập nội đã đƣợc thuần hoá tại
Việt Nam trong trƣơng trình cải thiện giống của Viện nghiên cứu cây nguyên liệu
giấy và Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam.
Sử dụng phƣơng pháp đánh giá nguồn gen của Burlay - Wood (1976) và của
Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy (phụ lục 1).
2.1.2.2. Bảo tồn và lưu giữ nguồn gen
Bảo tồn in vitro:
Mẫu nuôi cấy là chồi đỉnh và chồi bên, mẫu đƣợc rửa sạch bằng xà phòng,
sau đó khử trùng trong cồn 70
0
số chồi ban đầu
số chồi hữu hiệu
Tỷ lệ chồi hữu hiệu
số chồi tạo thành
Để đánh giá theo các chỉ tiêu trên, chúng tôi đã tiến hành đếm số chồi tạo
thành, số chồi hữu hiệu (chồi có cấu trúc thân, lá, đỉnh rõ ràng, cao từ 0.3cm trở
13
lên). Quan sát hình thái, tính chiều cao trung bình để đánh giá khả năng sinh trƣởng
của chồi. Chiều cao của chồi đƣợc tính từ ngọn đến vị trí tiếp xúc giữa chồi với bề
mặt môi trƣờng.
Bảo tồn Field gene bank
Tại Tiên Kiên – Lâm Thao – Phú Thọ: Trồng 15 dòng bạch đàn với mật độ
1660 cây/ha, mỗi dòng 10 cây, lặp lại 5 lần. Thiết lập thí nghiệm tháng
5/2005. Năm 2007, 2008 và 2009 tiếp tục theo dõi đánh giá sinh trƣởng
Tại Gia Thanh – Phù Ninh – Phú Thọ: Trồng 22 dòng (18 dòng bạch đàn và
4 dòng keo) với mật độ 1660 cây/ha, mỗi dòng 1 cây, lặp lại 5 lần. Thiết lập
thí nghiệm tháng 5/2006. Năm 2007, 2008 và 2009 tiếp tục theo dõi đánh
giá sinh trƣởng.
Tại Phù Ninh – Phù Ninh – Phú Thọ: Trồng 46 dòng (26 dòng bạch đàn và
20 dòng keo) với mật độ 1660 cây/ha, mỗi dòng 1 cây, lặp lại 10 lần. Thiết
lập thí nghiệm tháng 5/2007. Tiếp tục đánh giá năm 2008 và 2009.
Tại Phù Ninh – Phù Ninh – Phú Thọ: Trồng 20 dòng (10 dòng bạch đàn và
20 dòng keo), mỗi dòng 3 cây. Trồng tháng 6/2008. Tiếp tục theo dõi đánh
giá năm 2009.
Năm 2009, trồng mới 10 dòng bạch đàn và 10 dòng keo tai tƣợng tại xã Phù
Ninh – Phù Ninh – Phú Thọ.
Năm 2010, trồng mới 21 dòng bạch đàn tại Phù Ninh - Phú Thọ và dẫn dòng
Nhiệm vụ liệt kê lại những nguồn gen thu thập đƣợc đang bảo tồn và những nguồn
gen đã bị mất, đồng thời trình bày các kết quả đạt đƣợc cho đến năm 2009 và kết
quả thực hiện trong năm 2010.
2.2.1.1. Kết quả bảo tồn và lưu giữ đến năm 2009
Công việc bảo tồn các nguồn gen cây nguyên liệu giấy (bạch đàn và keo)
đƣợc tiến hành dƣới các phƣơng thức Field gene bank và in vitro.
Cho đến năm 2009 đã thu thập đƣợc 132 giống. Riêng năm 2009 là 20 giống
bao gồm 10 dòng bạch đàn và 10 dòng keo tai tƣợng ở Vĩnh Phúc, Phú Thọ và
Tuyên Quang. Các dòng này đƣợc chọn lọc theo tiêu chuẩn chọn cây trội của Viện
nghiên cứu cây nguyên liệu giấy, sau đó đƣợc dẫn dòng mang về trồng (bảo tồn
Field gene bank) tại khu bảo tồn của Viện. Trong tổng số 20 dòng, cho 07 dòng
bạch đàn PN1; PN2b; PN3; PN4; H6; QY9 và QY10 đã đƣợc thử nghiệm bảo tồn
theo phƣơng pháp in vitro. Các dòng bạch đàn và keo do khả năng bảo tồn in vitro
là rất thấp nên nhiệm vụ không đƣa vào bảo tồn theo hình thức này (Phụ lục Lý lịch
giống). Các dòng bạch đàn và keo thu thập đƣợc năm 2009 đã đƣợc xây dựng lý
15
lịch giốngvà đánh giá sinh trƣởng. Ngoài ra nhiệm vụ vẫn tiếp tục duy trì bảo tồn
các nguồn gen thu thập đƣợc trong các năm trƣớc.
(1) Bảo tồn ex situ bằng hình thức trồng cây
Bảng 01. Các nguồn gen keo và bạch đàn nhiệm vụ chọn và đem trồng đến năm 2009.
Loài
cây
Từ năm 2000 - 2006
Năm 2007
Năm 2008
Năm 2009
Tổng
số
Số
NG3, VX2,
UE34, CU91,
UE89, UE24,
UE85,UE35,
UC80, UU8,
Eu8, Eu12, 46B,
GR3, E1, E13,
E21, E22, E23,
PN21, PN24,
PN108,
11
BTT02
BTT03
BNM13
BNM12
BNM12b
BNM11
BNM8
BNM9
BNM7
BĐB, BĐB2
10
PN1
PN2b
PN3
PN4
H5
H6
QY7
XXRG6,
XXRG7,
XXRG8,
XXRG9,
XXRG10,
H3, H5, XX
16679,
XX20132,
XX20135,
XX20865
10
VT1
VT2
VT3
VT4
VT5
UY6
UY7
VT8
VT9
VT10
10
AH.07.01
AH.07.02
AH.07.03
AH.07.04
AH.07.05
AH.07.06
AH.07.07
3
UG01
Brazin
19
4
UG14
Brazin
16
5
UG07
Brazin
17
6
46B
Phú Thọ
5
7
TTG1-số 4
Viện LN
10
8
TTG2-số 5
Viện LN
5
15
PN14
Phú Thọ
10
16
EH5
Trung Quốc
5
17
U16
Trung Quốc
20
18
Eu12
Phú Thọ
18
19
GU8
Trung Quốc
25
20
W4
Trung Quốc
10
27
PN1
Phú Thọ
10
28
PN2b
Phú Thọ
6
29
PN3
Phú Thọ
5
30
PN4
Phú Thọ
8
31
H6
Phú Thọ
2
32
QY9
Vĩnh Phúc
11
VXI, VXII, EDI, EDII, UG1407, UG1014, UG1011, Eu16,
Eu8, TCI, TCII, NG3, W4, Gu8, Eu12, 46B, GR3, E1, E13,
E21, E22, E23, VX5, H5, H6, QY7, QY8, QY9, QY10,
BNM13, BNM8, TK1, TK2, TD1, TD2, TD3, TD4, TD5,
TD6, TD7, TD8
69
Keo
KL2, KL20, KLTA3, KL3, BV10; KBC1, KNM7, KNM8,
XXRG1, XXRG2, XXRG3, XXRG4, XXRG5, XXRG6,
XXRG7, XXRG8, XXRG9, XXRG10, H3, H5, XX 16679,
XX20132, XX20135, XX20865; VT1; VT2; VT3; VT4;
VT5; UY6; UY7; VU8; VU9; VU10, AH.07.01, AH.07.02,
AH.07.03, AH.07.04, AH.07.05, AH.07.06, AH.07.07,
AH.07.08, AH.07.09, AH.07.10
44
Bảo tồn in vitro
Kết quả bảo tồn in vitro trong năm 2010 đƣợc trình bày ở bảng 04.
Kết quả chỉ ra trong năm 2010 nhiệm vụ vẫn tiếp tục duy trì bảo tồn cho 31
dòng trong điều kiện in vitro, số lƣợng bình giống gốc tƣơng đƣơng so với năm
2009. Đây là sự cố gắng hết sức của tập thể cán bộ thực hiện nhiệm vụ bảo tồn in
vitro. Do trong năm 2010, hiện tƣợng mất điện xảy ra thƣờng xuyên nên chu kỳ cấy
chuyển bảo tồn bị rút ngắn lại. Có 2 dòng không còn lƣu giữ đƣợc trong điều kiện
in vitro là dòng 46B và dòng H6. Năm 2010, Viện đã đƣa vào bảo tồn in vitro 01
18
dòng keo tai tƣợng AH.07.01. Các bình giống gốc của 32 dòng nói trên sẽ là nguồn
vật liệu quan trọng phục vụ cho công tác nghiên cứu phát triển giống cây nguyên
liệu giấy của Viện.
Bảng 04. Kết quả bảo tồn in vitro đến tháng 11 năm 2010.
6
TTG1-số 4
Viện LN
15
7
TTG2-số 5
Viện LN
15
8
TTG3-số 3
Viện LN
8
9
Eu16
Trung Quốc
13
10
PN3d
Phú Thọ
7
11
EU8
Phú Thọ
17
18
GU8
Trung Quốc
15
19
W4
Trung Quốc
8
20
NG3
Phú Thọ
15
21
TC2
Phú Thọ
3
22
TC1
Phú Thọ
3
23
Eu33
Phú Thọ
8
30
QY9
Vĩnh Phúc
18
31
QY10
Vĩnh Phúc
11
32
AH.07.01
Tuyên Quang
10
(2) Kết quả tuyển chọn nguồn gen mới năm 2010
Đầu năm 2010 nhiệm vụ bảo tồn gen đã thu thập đƣợc 13 dòng bạch đàn và
04 dòng keo lai từ Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, 04 dòng keo tai tƣợng ở
khu vực Đền Hùng - Phú Thọ. Các dòng bạch đàn và keo lai này đƣợc công nhận
giống, đƣợc Viện tuyển chọn và đƣa vào chƣơng trình bảo tồn. Các dòng keo tai
tƣợng đƣợc chọn lọc theo tiêu chuẩn chọn cây trội của Viện nghiên cứu cây nguyên
liệu giấy, sau đó đƣợc dẫn dòng mang về trồng. Hiện nay, 21 dòng này đã đƣợc
19
trồng tại khu bảo tồn trong Viện. Bảng 05 dƣới đây trình bày tên các dòng chọn lọc
đƣợc trong năm 2010 (cụ thể xem phụ lục Lý lịch giống năm 2010). Và đặc biệt
trong đó có 2 dòng CU91 và UE24 là các dòng bạch đàn lai đã bị mất trong quá
trình bảo tồn trƣớc đây nay tiếp tục đƣợc Viện tuyển chọn đƣa vào trồng bảo tồn.
Trong năm 2010, nhiệm vụ còn tiến hành dẫn dòng đƣợc cho 6 dòng bạch
đàn TD1, TD2, TD3, TD4, TD6, TD7. Đây là các dòng có triển vọng đã đƣợc
Bảng 06. Khả năng nhân giống in vitro của bạch đàn và keo.
TT
Loài cây
Hệ số nhân chồi
Tỷ lệ chồi hữu hiệu%
1
Bạch đàn
3.5
0.85
2
Keo
1.7
0.55
Nhân chồi và tạo ra đƣợc nhiều chồi hữu hiệu là giai đoạn quan trọng quyết
định đến sự thành công của quá trình nuôi cấy in vitro. Số lƣợng chồi (hệ số nhân
chồi) càng nhiều thì khả năng nhân giống càng lớn và ngƣợc lại. Vì vậy chúng tôi
tiến hành đánh giá khả năng nhân giống của các nguồn gen đƣa vào lƣu giữ với hai
20
chỉ tiêu quan trọng nhất là hệ số nhân chồi và tỷ lệ chồi hữu hiệu. Bảng 06 dƣới đây
trình bày khả năng nhân giống in vitro của 2 loài bạch đàn và keo.
2.2.2.2 Nuôi cấy trở lại điều kiện bình thường sau thời gian lưu giữ đến năm
2010
Tiến hành cấy chuyển toàn bộ bình giống gốc sau thời gian lƣu giữ vào môi
trƣờng nuôi cấy và điều kiện nuôi cấy của dây truyền nuôi cấy mô tế bào. Kết quả
cho thấy mẫu nuôi cấy sinh trƣởng bình thƣờng và không ảnh hƣởng gì đến hình
thái, hệ số nhân chồi cũng nhƣ tỷ lệ ra rễ của mẫu nuôi cấy. Điều này khẳng định
việc bảo tồn và lƣu giữ theo phƣơng pháp trên là rất an toàn và khoa học.
2.2.2.3. Đánh giá đặc điểm sinh trưởng và phát triển các nguồn gen tại các thí
nghiệm bảo tồn ngoài hiện trường
PN3d
76
11.4
2.7
18.6
1.9
0.11088
0.06197
15.2
1.4
2.5
0.5
2
PN32
98
11.3
3.0
16.7
2.2
0.09402
0.06861
12.9
2.2
2.4
0.4
3
PN14
98
11.1
2.6
13.6
1.3
2.3
0.4
6
PN41
92
10.0
1.9
16.6
2.3
0.07031
0.03126
13.2
2.2
2.2
0.4
7
PN46
74
8.0
1.5
14.2
2.2
0.03742
0.02031
12.1
2.1
1.7
0.3
0.7
8.6
1.5
0.00799
0.00315
6.9
1.5
1.5
0.6
11
CTIV
96
14.7
2.6
20.9
2.2
0.18939
0.08114
15.5
2.4
2.7
0.5
12
ECI
64
5.2
0.8
8.6
1.2
0.00949
0.4
15
CT3
98
10.6
2.3
19.0
2.5
0.09221
0.0569
15.6
2.3
2.3
0.4
Bảng 07 và 08 cho thấy, sinh trƣởng và tăng trƣởng của các dòng khác nhau
là khác nhau. Tỷ lệ sống của các dòng là rất cao, từ 90 đến 100% (ngoại trừ dòng
21
ECII, ECI, PN46 và PN3d có tỷ lệ sống thấp hơn). Dòng ECII có tỷ lệ sống thấp
nhất đạt 50% và giảm mạnh so với năm 2009 là 86% là do có hiện tƣợng chết khô
ngọn hàng hoạt. Hiện tƣợng trên xảy ra với dòng ECII là rất đáng quan tâm và cần
có các biện pháp nhƣ bảo tồn in vitro giúp bảo tồn tốt hơn dòng ECII nói trên. Tỷ lệ
sống cao ở các dòng còn lại cho thấy triển vọng bảo tồn ngoại vi là rất cao. Kết quả
về sinh trƣởng của 15 dòng này vẫn chỉ ra rằng 2 dòng CTIV, CT4 vẫn sinh trƣởng
tốt nhất ; các dòng CT3, PN32; PN14; PN16c; PN2 và U6 có sinh trƣởng tƣơng
đƣơng nhau và cao hơn các dòng PN41; PN8; PN7 và PN46, 2 dòng ECI và ECII là
có sinh trƣởng và tăng trƣởng kém nhất.
Bảng 08. Tổng hợp các chỉ tiêu về tăng trƣởng của 15 dòng bạch đàn ở 66 tháng tuổi.
TT
Dòng
0.01629
0.00981
3.0
0.5
2.0
0.5
4
U6
0.01249
0.00541
2.9
0.3
1.8
0.4
5
PN16c
0.01709
0.00977
3.3
0.6
2.0
0.4
6
PN41
0.01278
0.00568
3.0
0.4
1.8
0.3
0.9
0.1
11
CTIV
0.03443
0.01475
3.8
0.4
2.7
0.5
12
ECI
0.00172
0.0007
1.6
0.2
0.9
0.1
13
PN8
0.01111
0.00617
2.9
0.4
1.7
0.3
14
CT4
0.02472
0.00892
TT
Dòng
Tỷ lệ
sống
%
D1.3
(cm)
SD1.3
(cm)
Hvn
(m)
Shvn
(m)
V (m3)
Sv (m3)
Hdc
(m)
Shdc
(m)
Dt
(m)
Sdt
(m)
1
DI
40
5.5
0.9
7.3
1.8
2.6
0.4
4
CT4
100
14.2
1.6
12.3
0.6
0.09837
0.02421
9.4
0.7
3.0
0.0
5
CT3
100
11.0
1.4
12.3
0.8
0.05991
0.01815
9.8
0.4
2.3
0.3
6
UG11
1.6
0.04409
0.01927
7.9
0.8
2.4
0.2
9
PN2
100
7.8
1.3
9.3
0.7
0.02286
0.00935
7.4
1.1
2.1
0.2
10
PN14
100
8.7
3.1
8.9
2.1
0.03174
0.02132
6.7
VX1
100
10.5
1.0
10.3
0.6
0.04495
0.00883
7.5
0.7
2.6
0.2
14
VX2
100
9.8
1.1
10.5
0.6
0.04034
0.00916
7.2
0.7
2.6
0.1
15
PN10
100
11.0
2.3
8.7
1.4
2.6
0.2
18
PN32
60
5.6
2.1
6.5
1.3
0.00953
0.009
5.0
1.0
1.8
0.3
Kết quả phân tích thấy rằng:
- Đối với đƣờng kính: Đƣờng kính giữa các dòng có sự phân hóa mạnh.Các
dòng CTIV và CT4 có đƣờng kính trung bình lớn nhất. Tiếp đến là các dòng
CT3, U6, PN41, PN47, VX1, VX2 và PN10. Các dòng DI, DII, PN32, PN2,
PN14, PN3d, UG07, UG11 và PN46 có đƣờng kính trung bình nhỏ nhất.
Đƣờng kính cây CT4 là lớn nhất và lớn gấp 4 lần đƣờng kính cây DII.
- Đối với chiều cao: Tƣơng tự nhƣ đƣờng kính, dẫn đầu về chiều cao là các
dòng CTIV, CT4, CT3, PN41 và PN10. Thấp nhất là các dòng PN32, DI và
DII. Các dòng còn lại có chiều cao tƣơng đƣơng nhau.