Mục lục
Trang
5. Ph ơng pháp nghiên cứu ............................................................................. 7
6. Cấu trúc luận văn ....................................................................................... 7
Một số khái niệm có liên quan đến đề tài ............................................. 9
Danh mục tài liệu tham khảo .............................................................. 87
Mở đầu
1. Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài
1.1. Lịch sử phát triển của hệ thống thể loại báo chí cho thấy những bài
bình luận thờng giữ vai trò quan trọng trong việc định hớng d luận xã hội.. Nó
là thể loại không thể thiếu trong việc giáo dục t tởng chính trị cho quần chúng,
hớng dẫn cách nhìn nhận và đánh giá thông tin. Vì vậy, mỗi tờ báo thờng có
những chuyên mục bình luận riêng và những nhà báo làm công tác bình luận
chuyên nghiệp. Nhiều tác phẩm bình luận báo chí trong những giai đoạn lịch sử
nhất định đã lý giải thành công các hiện tợng xã hội, thay đổi cách nhìn của
công chúng và dự báo đợc các chiều hớng vận động của đời sống xã hội. Trong
một thế giới hiện đại, trong một xã hội bùng nổ thông tin với nhiều biến động
và sự phát triển nh vũ bão của các loại hình truyền thông thì bình luận lại càng
trở nên quan trọng và cần thiết cho đời sống. việc thẩm định, phân tích, đánh
giá các sự kiện, vấn đề, từ đó tìm ra bản chất, tác động của chúng đã trở thành
đòi hỏi bức thiết của công chúng đối với báo chí.
1
1.2. Mỗi một thể loại báo chí đều có những nét đặc trng riêng gọi là đặc
trng loại hình. Đặc trng về ngôn ngữ, cách khai thác thông tin, dung lợng... quy
định sự khác biệt về hình thức thể hiện, cách thức chuyển tải thông tin và đặc
biệt là quy định sự khác nhau trong cách viết loại bài bình luận. Bài bình luận
vừa dựa trên những cơ sở chung nhất nhng lại là một sản phẩm mang dấu ấn cá
nhân. Văn chính luận thờng khô khan, dập khuôn, công thức. Tạo đợc bản sắc
riêng trong viết bình luận là rất khó. Làm cho bài viết trở nên hấp dẫn, sinh
động, lôi cuốn ngời đọc lại là điều khó hơn. Sức hấp dẫn của bài bình luận
không nằm ở chi tiết giật gân, ly kỳ mà chính là ở luận cứ, ở cách phân tích, mổ
Hình thức đơn giản đầu tiên trong thao tác t duy con ngời thể hiện thái độ
khen, chê trớc một sự kiện, hiện tợng, vấn đề của cuộc sống là nguồn gốc của
bình luận. Và sự đánh giá có thể coi là dấu hiệu đầu tiên của hoạt động t duy
bình luận.
Theo nhiều tài liệu về lý luận báo chí trên thế giới thì bình luận xuất hiện
từ nửa đầu thế kỷ XIX ở Anh và Pháp với tác dụng soi sáng và giải thích một
sự kiện, một vấn đề hoặc một hiện tợng xã hội nào đó [ 1, tr. 96]. Ngay từ khi
mới ra đời, bình luận đã đợc các chủ báo khuyến khích vì nó đem lại cho công
chúng những tri thức mới ẩn chứa đằng sau những tin tức, sự kiện và qua sự giải
thích, phân tích, nó tác động, ảnh hởng đến cách suy nghĩ của ngời đọc. Do báo
chí Việt Nam ra đời muộn nên cũng giống nh nhiều thể loại báo chí khác, bình
luận xuất hiện trên các ấn phẩm định kỳ khi đã là một thể loại hoàn chỉnh.
Lịch sử báo chí nớc ta từng chứng kiến nhiều cách gọi khác nhau trớc khi
đi đến thống nhất tên gọi bình luận cùng với quan niệm đầy đủ về những đặc tr-
ng của thể loại này nh hiện nay. Ví dụ năm 1961, Hội Nhà báo Việt Nam dùng
khái niệm ngôn luận của báo; năm 1974 một số dịch giả ngời Việt dịch từ
tiếng Nga là luận văn. Đến năm 1978, các tác giả cuốn sách Giáo trình
nghiệp vụ báo chí của trờng Tuyên huấn Trung ơng gọi loại bài này là bình
luận trên báo. Sau này, trong cuốn sách Nghề nghiệp và công việc của nhà
báo, tác giả bài Bình luận trên báo chí đã trình bày quan niệm nh sau:
Bài bình luận là một thể loại của báo chí, nhiệm vụ của nó là diễn đạt t tởng của
toà soạn về một vấn đề thời sự hoặc một sự kiện, nghĩa là làm cho độc giả hiểu
đợc mối quan hệ đó theo một quan điểm nhất định và từ sự đánh giá đó rút ra đ-
ợc kết luận có tính chất chính trị [ 12, tr. 241]. Hiện nay, báo chí Việt Nam đã
có cách gọi thống nhất là thể loại bình luận.
Do tính thời sự và sự hấp dẫn của loại bài này nên so với các thể loại
chính luận khác, bình luận xuất hiện nhiều hơn trên mặt báo đặc biệt là trong
4
mấy năm trở lại đây. Nếu nh trớc đổi mới, bình luận là những bài viết lớn phân
tích, đánh giá những vấn đề quan trọng của đất nớc nh: chính sách cải cách giáo
phá những đặc sắc và sáng tạo trong cách lập luận của các nhà báo: Hữu Thọ,
Chu Thợng và Quang Lợi- những nhà báo đã thành danh ở thể loại này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.Mục đích nghiên cứu
- Về lý thuyết: Chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu thể loại bình luận ở góc độ báo
chí học và chỉ ra vai trò, vị trí của lập luận trong loại bài này. Bên cạnh đó, trên cơ
sở vận dụng lý thuyết lập luận của ngôn ngữ học, ngời viết phân tích cấu trúc, các
thành phần làm nên lập luận và đặt chúng trong kết cấu bài bình luận.
- Về thực tiễn: Đi sâu khám phá cách lập luận khi viết bài bình luận ở 3
tác giả: Hữu Thọ, Chu Thợng và Quang Lợi để chứng minh rằng: lập luận là yếu
tố then chốt trong thể loại này. Nó là xơng sống, cấu trúc và làm nên hệ thống
thông tin lý lẽ trong bài bình luận.
Có thể nói, trong phạm vi luận văn này, từ phân tích, đánh giá, so sánh
cách lập luận của Hữu Thọ, Chu Thợng và Quang Lợi; chúng tôi muốn hệ thống
hoá và đa ra những nhận định chung, rút ra đặc trng lập luận và khái quát nó
thành các cấu trúc, mô hình trong bài bình luận
3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu
- Trong luận văn này, bằng những kiến thức về ngôn ngữ học và lý luận báo
chí, ngời viết sẽ cố gắng đi sâu phân tích cách lập luận trong bài bình luận báo chí
để chỉ ra những đặc trng, sáng tạo trong cách viết thể loại này; sự cần thiết và yêu
cầu chú trọng, đầu t cho nội dung này khi bình luận báo chí.
- Chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu bản chất, cách kết cấu các thành phần
trong một lập luận, đặc tính của quan hệ lập luận xét trên phơng diện ngôn ngữ
6
học từ đó vận dụng vào việc phân tích các bài bình luận báo chí, chỉ ra cách lập
luận vấn đề khi viết một bài bình luận, nghệ thuật lập luận sao cho bài bình luận
đạt hiệu quả thông tin cao nhất.
4. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tợng nghiên cứu của đề tài là lý luận về thể loại bình luận báo chí
và lý thuyết lập luận của ngôn ngữ học.
ngôn ngữ học. Cụ thể, ngời viết sẽ trình bày đặc điểm của loại bài bình luận báo
chí cũng nh hình thức, đặc trng của lập luận trong các bài bình luận.
1.1. Bình luận
1.1.1. Quan niệm về bài bình luận
Bình luận đợc xem xét ở hai góc độ. Một là xem xét bình luận với ý
nghĩa nh một phơng pháp (cách đánh giá bàn luận về một sự kiện, hiện tợng,
một vấn đề nào đó để đi đến sự nhận thức đầy đủ và sâu sắc về vấn đề đó và
những điều do vấn đề gợi ra) đợc sử dụng trong tất cả các hình thức đăng tải nh
trong tin vắn- dới dạng trích dẫn ý kiến của ngời khác; trong bản tin, xã luận, ký
sự, tổng quan điểm báo. Thứ hai là xem xét bình luận với t cách là một thể loại
báo chí chính luận, mang tính chất tổng hợp, trong đó bao gồm các yếu tố giải
thích, phân tích và có khi cả chứng minh.
Trong cuốn Lý thuyết và thực hành báo chí Xô Viết, E. P. Prôkharốp
có viết Giúp bạn đọc hình thành bức tranh tổng thể của đời sống xã hội từ
những t liệu riêng lẻ trên báo chí là một trong những nguyên nhân làm xuất hiện
thể loại bình luận. Một bài bình luận không chỉ dừng lại ở sự bàn luận, đánh giá
một sự kiện của cuộc sống mà phải từ nhiều sự kiện riêng lẻ, tác giả phải hình
thành đợc bức tranh tổng thể của đời sống xã hội hiện tại. Mặt khác, trên cơ sở
đó phải giúp cho công chúng nhận thức đầy đủ và chính xác về nhiều vấn đề
của quá khứ và hiện tại, biết cách đánh giá thực tế khách quan, hiểu đợc vị trí
của mình để từ đó có hành động cần thiết vì mục tiêu xây dựng cuộc sống ngày
một tốt đẹp hơn [15, tr. 89]. Nh vậy một bài bình luận hoàn chỉnh không chỉ
dừng lại ở sự bàn luận, đánh giá một sự kiện của cuộc sống mà phải từ nhiều sự
9
kiện riêng lẻ hình thành đợc bức tranh tổng thể của đời sống xã hội từ đó giúp
công chúng nhận thức đầy đủ và chính xác về bản chất của sự kiện, hiện tợng
đó.
Còn Karel Storkan thì quan niệm Bình luận là thể loại cơ bản của luận
văn báo chí. Trong đó, tác giả luôn nhằm trình bày với bạn đọc quan điểm của
họ về sự kiện có tính chất thời sự và nhằm thuyết phục bạn đọc rằng quan điểm
thức đợc nâng cao, công chúng không chỉ tiếp nhận các tác phẩm báo chí một
cách thụ động mà còn có khả năng đánh giá và thẩm định tác phẩm đó. Điều
này đồng nghĩa với việc bài bình luận giờ đây không thể đơn thuần chỉ là những
ý kiến, quan điểm chủ quan của tác giả. Sự kiện hoặc vấn đề đa ra bình luận
phải là những sự kiện, vấn đề công chúng đang quan tâm và cần có sự định h-
ớng t tởng. Các bài báo thờng đa ra những gợi mở để ngời đọc tự nhận định vấn
đề. Bình luận có định hớng nhng không mang tính áp đặt. Từ những phân tích
và nhận xét trên đây, chúng tôi đi đến quan niệm: Bình luận là một thể loại
báo chí thuộc nhóm chính luận, trong đó tác giả sử dụng hệ thống thông tin lý
lẽ của mình để giải thích, phân tích những vấn đề có ý nghĩa chính trị, xã hội
rồi từ đó đi đến nhận định, đánh giá về vấn đề đó hoặc có thể để công chúng
tự đánh giá.
1.1.2. Các dạng bình luận
Do có nhiều cách hiểu, nhiều quan niệm khác nhau về thể loại bình luận
nên cũng có nhiều cách phân chia khác nhau. Nhóm tác giả Hội Nhà báo Việt
Nam trong cuốn Nghề nghiệp và công việc của nhà báo chia bình luận
thành các dạng bài:
- Loại bài Bình luận ngắn
- Loại bài Bình luận trong ngày
11
- Loài bài Bình luận trong tuần và bài Bình luận phê bình trong tuần
- Bài bình luận mang tính chất bút chiến và tính chất giải thích.
Nhóm tác giả này đã căn cứ trên sự phong phú, đa dạng của chủ đề và sự
phân biệt của từng chức năng để phân chia thành các dạng bài bình luận khác
nhau. Tuy nhiên, cách phân chia này cha thật khoa học, dễ bị trùng hợp. Ví dụ
nh ngay trong bản thân bài Bình luận bút chiến đã là những bài Bình luận ngắn,
hay nh Bình luận trong ngày, trong tuần đã là những bài giải thích, phân tích
rồi
Trần Thế Phiệt [17, tr. 56] có cách phân chia mang tính khoa học hơn đó
là dựa vào những tiêu chí cụ thể để chia thành các dạng bài:
phân tích, bác bỏ, phủ nhận các quan điểm đó đồng thời rút ra cái tích cực. Bài
bình luận bút chiến phải có tính chiến đấu cao và thờng là để đấu tranh với quan
điểm của các nhà chính trị đối lập, vạch trần âm mu, thủ đoạn của các thế lực
phản động, thù địch
Hiện nay, báo chí sử dụng rất nhiều hình thức bình luận và phạm vi
nghiên cứu của mỗi bài bình luận cũng rất đa dạng. Có những bài bình luận chỉ
dừng lại ở mức xem xét một sự kiện nhỏ, riêng lẻ nào đó trong đời sống xã hội
nh việc đánh giá hành vi của một cá nhân cụ thể nào đó là tốt hay không tốt.
Cũng có khi nhà báo sử dụng bài bình luận để đánh giá, bàn luận về một sự kiện
nhng sự kiện này đã đợc thông báo trên các phơng tiện thông tin đại chúng. Ng-
ời viết trình bày quan điểm của toà soạn hay của chính mình về sự kiện đó hoặc
từ sự kiện đó liên hệ đến những sự kiện hay vấn đề khác. Đây là loại bài mà các
nhà nghiên cứu và giới báo chí gọi là bình luận ngắn vì đề tài mà nó đề cập
không lớn, dung lợng chỉ từ 250 đến 400 từ. Tính chất hớng dẫn nhận thức và
hành động trong bài này thể hiện rõ.
13
1.1.3. Đặc trng của thể loại bình luận
Cuốn sách Các thể loại báo chí (nxb Thông tấn) [ 13, tr. 48] đã làm
nổi bật đặc điểm của bình luận thông qua việc nêu lên những mục tiêu mà thể
loại bình luận hiện nay theo đuổi:
+ Hớng sự chú ý của bạn đọc vào những sự kiện mới quan trọng, nổi lên
hàng đầu trong đời sống xã hội, đánh giá chúng.
+ Đặt sự kiện đợc bình luận trong mối liên hệ với những sự kiện khác,
phát hiện nguyên nhân của sự kiện đó.
+ Hình thành dự báo phát triển của sự kiện đợc bình luận.
+ So sánh, thờng với sự trợ giúp của các ví dụ, những cách thực hành xử
và giải quyết cần thiết cho bài toán.
Trần Quang trong cuốn Các thể loại báo chí chính luận [ 16, tr. 78]
đã đa ra những nhận xét chủ yếu về thể loại này:
- Bài bình luận là một tác phẩm đặc sắc dùng để tái tạo bức tranh toàn
đủ 3 yếu tố: thông báo, bình và luận trong đó bình và luận là 2 mặt quan trọng.
Bình là xem xét, phân tích các khía cạnh của vấn đề, đánh giá, khai thác nó ở
các mặt nội dung, ý nghĩa. Luận là bàn bạc, mở rộng vấn đề, đặt nó vào trong
quá trình diễn biến phát triển, nhận định khả năng và triển vọng, nêu tác dụng
của nó trong đời sống xã hội, trong thực tế và trong lý luận.
Một đặc điểm quan trọng của thể loại này chính là khuynh hớng t tởng
của tác giả và toà soạn báo. Khía cạnh chủ quan này thể hiện ở các mặt nh
quan điểm, lập trờng, thái độ, thậm chí là cả trong việc nhận thức các sự kiện,
cách lựa chọn, sắp xếp, giải thích và phân tích các sự kiện. ở bình luận, dấu ấn
của cái tôi- tác giả, ngời bình luận thể hiện khá rõ nét. Sợi chỉ đỏ xuyên suốt
bài bình luận phải là những nhận xét, đánh giá của tác giả và toà soạn báo đó.
Đặc điểm này khẳng định năng lực cũng nh bản lĩnh của ngời viết bình luận.
15
Bình luận báo chí là 1 trong những thể loại quan trọng trong báo chí hiện
đại. Ngoài những đặc trng mang tính nguyên tắc của báo chí nh: tính Đảng, tính
chân thật, khách quan, tính quần chúng thì bình luận còn có những đặc trng
thể hiện rõ tính trội của thể loại này. Một trong 3 đặc trng quan trọng của loại
bài này là tính khuynh hớng t tởng.
Nội dung thông tin trong bài bình luận là bày tỏ chính kiến, bộc lộ công
khai quan điểm chính trị, t tởng của ngời viết đối với những vấn đề thời sự quan
trọng. Sự phân tích, lý giải của nhà báo giúp bạn đọc nhận thức rõ bản chất của
sự kiện, hiện tợng. Trong thời đại của khoa học, công nghệ với sự phát triển nh
vũ bão của các loại hình truyền thông, bình luận càng phải giữ vững tính
khuynh hớng t tởng. Khuynh hớng chính trị rõ ràng, tác động và hớng dẫn d
luận quần chúng trong khi vẫn hấp dẫn độc giả là thành công lớn của thể loại
bình luận.
Đặc trng thứ 2 của bài bình luận là tính chiến đấu cao. Cũng chính vì
đặc trng này mà báo chí Đức đã gọi thể loại bình luận là bút chiến. Tính chiến
đấu đòi hỏi bình luận phải đợc xây dựng bằng hệ thống lý lẽ sắc sảo, chính xác.
Đó có thể là những lý lẽ để vạch trần bộ mặt của kẻ thù, cũng có thể là những
lôgic và giá trị các nội dung miêu tả đợc đa vào trong lập luận đời thờng không
phải ở chỗ các nội dung này đúng hay sai so với thực tế mà là ở giá trị của nó
đóng góp vào lập luận với t cách là những luận cứ của lập luận đời thờng. Trong
văn nghị luận, tức loại văn bản làm việc với các ý kiến có vấn đề then chốt là
lập luận.
Trong cuốn Đại cơng ngôn ngữ học ( tập 2), Đỗ Hữu Châu cho rằng:
Cái mà ngời nói hớng ngời nghe tới qua thông tin miêu tả có thể là một thái độ,
tình cảm, đánh gía hay nhận định, hành động nào đó cần phải thực hiện. Nói
vắn tắt, cái mà thông tin miêu tả hớng tới là một kết luận nào đó rút từ thông tin
17
miêu tả đó. Từ những phân tích cụ thể trong giao tiếp thông thờng, tác giả đi
đến kết luận Lập luận là đa ra những lý lẽ nhằm dẫn dắt ngời nghe đến một
kết luận hay chấp nhận một kết luận nào đấy mà ngời nói muốn đạt tới [ 10, tr.
155]. Lập luận chỉ là một điều kiện để thuyết phục, còn kết luận có thuyết phục
đợc hay không lại là việc khác.
Ngôn ngữ học với tính chất chặt chẽ và chính xác, khoa học đã chỉ ra
rằng: Thuật ngữ lập luận đợc hiểu theo 2 nghĩa:
- Nó chỉ sự lập luận, tức hành vi lập luận
- Nó chỉ sản phẩm của hành vi lập luận, tức là toàn bộ cấu trúc của lập
luận, cả về nội dung, cả về hình thức.
Thuật ngữ quan hệ lập luận dùng để chỉ quan hệ giữa các thành phần của
một lập luận với nhau. Đó có thể là quan hệ lập luận giữa luận cứ với luận cứ,
giữa luận cứ và kết luận. Bên cạnh đó còn quan hệ lập luận giữa 2 hay nhiều lập
luận với nhau trong một phát ngôn hay trong một diễn ngôn. Do đề tài luận văn
là Phân tích các bài bình luận báo chí trên cơ sở lý thuyết lập luận nên chúng
tôi chỉ xin tập trung tìm hiểu về lập luận trong hình thức diễn ngôn độc thoại:
dạng viết.
Trong diễn ngôn độc thoại dạng viết mà cụ thể ở đây là các bài bình luận
báo chí, không phải chỉ có một lập luận mà thờng là sự phối hợp của một số lập
luận ( và phản lập luận) diễn tiến để dẫn đến kết luận cuối cùng- đích của toàn
Để làm sáng tỏ những quan điểm, t tởng kết đọng trong các luận điểm
cần phải có những luận cứ. Cho nên luận cứ là cứ liệu, những bằng chứng, chi
tiết để xây dựng và chứng minh cho luận điểm. Trong một luận điểm có nhiều
luận cứ. Trong bài bình luận, những luận cứ đợc lập luận một cách rất linh hoạt.
Luận cứ có thể là bằng chứng thực tế lấy từ cuộc sống, có thể là các lý lẽ, chân
lý về mặt lý luận đã đợc công nhận. Các luận cứ này rất xác thực, đáng tin cậy.
19
Ngôn ngữ học chỉ ra rằng: luận cứ có hiệu quả lập luận mạnh hơn thờng đợc đặt
ở sau luận cứ có hiệu quả lập luận yếu hơn. Chính vì thế mà hiệu quả lập luận
không chỉ do nội dung của luận cứ mà còn do vị trí của chúng trong lập luận
quyết định [ 10, tr. 69]
Trong thể loại bình luận, rất nhiều luận cứ là con số, dẫn chứng cụ thể.
Điều đó tạo cho loại bài này tính chính xác cao, mang đậm nét tả thực. Mối
quan hệ giữa luận điểm, luận cứ rất khăng khít, chặt chẽ. Luận điểm đứng đợc
là dựa vào luận cứ, còn luận cứ nêu ra là để phục vụ cho luận điểm. Trong nội
bộ các luận cứ: lý lẽ và dẫn chứng cùng soi sáng cho nhau. Lý lẽ tạo cho dẫn
chứng khả năng thuyết minh cho luận điểm, còn dẫn chứng thực tế lại làm cho
lý lẽ có nội dung, sức mạnh.
* Luận chứng
Có luận điểm, luận cứ rồi còn phải biết làm sao cho luận cứ nói lên
luận điểm, làm sao cho lý lẽ và dẫn chứng thực tế phối hợp với nhau để thuyết
minh luận điểm một cách mạnh mẽ, nổi bật, thuyết phục. Luận chứng là sự vận
dụng các phép suy luận lôgíc, phối hợp tổ chức các lý lẽ và dẫn chứng để thuyết
minh cho luận điểm. Luận chứng trong bài bình luận rất chặt chẽ, toàn diện và
có trật tự.
Lập luận chỉ có giá trị thuyết phục khi có các luận cứ tin cậy, bảo đảm sự
tơng hợp giữa luận cứ và kết luận. Tuy nhiên điều kiện đó cha đủ. Ngời lập luận
phải biết sử dụng các phơng pháp lập luận đúng, phù hợp với những quy luật
lôgíc trong t duy.
1.2.3. Các phơng pháp lập luận
* Phơng pháp quy nạp
Quy nạp là quá trình lập luận đi từ cái riêng đến cái chung, từ sự quan
sát, nghiên cứu các hiện tợng, đối tợng cụ thể, riêng biệt, đơn nhất tiến đến
những kết luận tổng quát; từ luận chứng riêng suy ra nguyên tắc, nguyên lý phổ
21
biến hay nói cách khác từ việc xem xét những hiện tợng, đối tợng riêng lẻ, tìm
ra mối liên hệ bản chất giữa chúng với nhau từ đó nâng lên thành nhận định
khái quát, trừu tợng về những dấu hiệu chung. Trong phơng pháp quy nạp, thậm
chí từ những tiền đề đúng đắn có thể suy ra đợc một kết luận mang tính xác suất
bởi vì độ tin cậy của tri thức riêng rẽ ( các tiền đề) không thể xác định một cách
giống nhau tính chân thực của tri thức chung.
* Phơng pháp diễn dịch
Là phơng pháp ngợc lại với quy nạp. Vận dụng phơng pháp này, tác giả
bài bình luận đi từ cái chung, khái quát đến cái riêng, cụ thể; vận dụng nguyên
lý chung để xem xét đến những sự vật riêng biệt. Sự suy lý sẽ mang hình thức
diễn dịch nếu ta đặt một hiện tợng riêng dới nguyên tắc chung và từ quan niệm
chung rút ra kết luận về các tính chất một đối tợng, vật thể riêng rẽ. Phơng pháp
này đóng vai trò to lớn trong quá trình t duy của con ngời cũng nh trong thực
tiễn báo chí đặc biệt là ở thể loại bình luận.
* Phơng pháp phối hợp diễn dịch- quy nạp ( còn gọi là phơng pháp tổng-
phân- hợp)
Phân tích chỉ là bớc đầu của sự khám phá các yếu tố có quan hệ tơng hỗ,
các mối liên hệ qua lại giữa nguyên nhân và kết quả còn kết cục của nó là sự
liên kết các yếu tố đợc khảo sát riêng rẽ đó thành một tổng thể toàn vẹn, có
nghĩa là sự tổng hợp. Phép tổng hợp dựa trên những dữ liệu thu nhận đợc từ
phép phân tích. Phơng pháp này gồm có 3 phần: Nêu vấn đề, giải quyết vấn đề,
kết luận vấn đề.
Thực tế cho thấy trong các bài bình luận luôn sử dụng cân bằng 2 cách
lập luận quy nạp và diễn dịch. Đối với những vấn đề cần đa những luận điểm
mang tính tổng quát sau đó dẫn giải, phân tích giúp công chúng hiểu rõ chi tiết
các hiện tợng xảy ra. Trong phơng pháp lập luận này, ngời viết thờng sử dụng 2
cách: trình bày nguyên nhân trớc, kết qủa sau; chỉ ra kết quả trớc, trình bày
23
nguyên nhân sau hoặc trình bày hàng loạt sự việc theo quan hệ nhân- quả liên
hoàn. Việc thiết lập các mối liên hệ nhân- quả của các sự kiện, quá trình, hoạt
động này hay hoạt động khác là nhiệm vụ trung tâm của việc giải thích.
Điểm đặc thù của mối liên hệ nhân- quả là chúng có tính xác định và đơn
nhất, có nghĩa là trong cùng một điều kiện, nguyên nhân nh nhau sẽ tạo ra các
kết quả cùng nhau. Trong cuốn Các thể loại báo chí, A.A. Chertchơni cho
rằng: Để thiết lập mối liên hệ nhân- quả, trớc hết phóng viên cần phải tách tập
hợp các hiện tợng anh ta quan tâm ra khỏi loạt chung các sự kiện khác. Tiếp
theo nên chú ý đến những hoàn cảnh xảy ra trớc sự xuất hiện của mối liên hệ.
Sau đó từ các hoàn cảnh này cần phân biệt những tình tiết xác định cụ thể, có
khả năng trở thành nguyên nhân của hiện tợng này [ 22, tr. 49]. Trong bình
luận, việc làm rõ mối quan hệ nhân- quả của các sự kiện sẽ giúp tác giả khai
thác triệt để đề tài và là chiếc chìa khóa để tạo ra một tác phẩm bình luận có
tính chất phân tích.
* Vấn đáp: Nêu ra câu hỏi rồi trả lời hoặc để tự ngời đọc trả lời.
1.2.4. Lập luận và thuyết phục
Không có một bài báo nào nói chung và bài bình luận nói riêng lại không
nhằm thuyết phục công chúng tin và nghe theo quan điểm của toà soạn hay
chính nhà báo đó. Tuỳ theo năng lực và cá tính sáng tạo mà ngời viết đa ra các
chuỗi lập luận hay phản lập luận để rồi bác bỏ phản lập luận đó, đi đến kết luận
chung có tính khái quát về sự kiện, hiện tợng xảy ra trong đời sống xã hội. GS.
TS Đỗ Hữu Châu trong cuốn Đại cơng ngôn ngữ học ( tập 2) đã khẳng định:
Lập luận và vận động lập luận là một chiến lợc hội thoại nhằm dẫn dắt ngời
nghe, ngời đọc đến chỗ nắm bắt đợc cái kết luận mà ngời lập luận muốn đi tới.
Lập luận là một hành vi ở lời có đính thuyết phục [ 10, tr. 164]. Song để thuyết
phục đợc ngời khác, Aristote có chỉ ra 3 nhân tố cần phải đạt đợc:
- Nhân tố lý lẽ. Muốn thuyết phục đợc phải có lý lẽ