Tiểu luận
Tìm hiểu thực tế về các nhân tố ảnh hưởng cũng
như quy trình các hoạt động chi tiết trong chuỗi
cung ứng xuất nhập khẩu ngành cà phê Việt Nam. I.TỔNG QUAN VỀ CÂY CÀ PHÊ VÀ NGÀNH CÀ PHÊ Ở VIỆT NAM
1 Nguồn gốc cây cà Phê
Cây Cà Phê là một cây có nguồn gốc từ các nước thuộc vùng nhiệt đới Châu Phi
sau khi được con người tìm ra đã nhanh chóng thuần dưỡng thành một loại cây trồng.
Cà Phê là một loại thức uống được tiêu dùng rộng rãi và ngày càng nhiều trên thế
giới. Cà phê có nhiều đặc điểm đáng quý, được nhiều người ưa thích và nó có tác dụng
bồi bổ cơ thể nâng cao sinh lực kích thích thần kinh làm con người thông minh, hoạt bát.
Từ một loại đồ uống chỉ quen với giới thượng lưu trong các quán Cà Phê ở các
nước Tây Âu vào thế kỷ thứ 18, Cà Phê ngày càng được tiêu dùng rộng rãi. Ngày nay Cà
phê không chỉ là thức uống ưa thích của các tầng lớp trên mà nó trở thành một đồ uống
thường dùng của nhân dân lao động nhiều nước trên thế giới.
Sản phẩm Cà Phê chủ yếu vẫn được dùng trong chế biến bánh kẹo, đồ uống Cà
Phê trở thành một đồ uống truyền thống quốc tế, sản phẩm Cà Phê đang là một trong
những mặt hàng có già trị kinh tế và được xuất khẩu ngày càng nhiều ở nước ta và nhiều
nước trên thế giới.
Cà Phê chè: đây là giống Cà phê quan trong nhất được biết đến lâu đời nhất và
được phát triển rộng rãi trên thế giới. Cà phê Chè là một loại Cà Phê thơm ngon có tiếng
được nhiều người ưa chuộng. Đây là một loại Cà Phê có chất lượng cao hơn so với Cà
Phê vối (C.Robusta) và Cà Phê mít thường được bán với giá cao hơn trong khi đó diện
tích Cà Phê chè ở nước ta mới chỉ có khoảng 3000. ha, rất thích hợp trồng ở Miền Bắc
sản lượng chiếm khoảng 3đến 5% tổng sản lượng.
giới đến thời kỳ khủng hoảng dư thừa. Giá Cà Phê giảm liên tục đến mức thấp kỷ lục 30
năm trở lại đây người ta hô hào trữ lại Cà Phê không bán, chủ trưong loại bỏ hàng loạt Cà
Phê chất lượng Cà Phê kém… thời đại hoàng kim của ngành Cà Phê đã đi qua, ngành Cà
Phê bước vào thời kỳ ảm đạm có phần hoảng loạn, đài phát thanh và báo chí thường
xuyên đưa tin nông dân phá cây Cà Phê ở nơi này nơi khác…
Đây là tình trạng chung của ngành cà Phê toàn cầu nó tác động đến tình hình nước
ta, một ngành Cà Phê đứng thứ nhì trên thế giới với quy mô sản xuất không ngừng mở
rộng. Tình hình thị trường thế giới tập chung vào những thay đổi then chốt của nền kinh
tế Cà Phê thế giới, cán cân cung cầu và vân động của giá cả thị trường thế giới.
Ngoài Cà Phê Robusta (Vối) hiện đang chiếm dần hết diện tích và sản lượng Việt
Nam đang thực hiện một chương trình mở rộng diên tích Cà Phê arbica trong đó có một
chương trình chuyển dịch cơ cấu giống từ cà Phê Rubusta sang cà phê arabi ca.
II. PhÇn tÝch m«i trêng kinh doanh.
1. Môi trường vĩ mô
1.1Các nhân tố kinh tế.
Các nhân tố kinh tế có vai trò quan trọng hàng đầu và ảnh hưởng có tính quyết
định đến hoạt đến hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành Cà Phê Việt Nam. Các nhân
tố kinh tế ảnh hưởng mạnh nhất đến hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành thường là
trạng thái phát triển của nền kinh tế: tăng trưởng ổn định hay suy thoái.
Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam gần đây là một động lực thúc đẩy ngành
Cà Phê Việt Nam phát triển.
Bên cạnh đó theo dự báo của ngân hàng thế giới cầu về Cà Phê trong những năm
tới có xu hướng tăng lên. Tổng cầu thế giới tăng bình quần 1.4%/năm. Một xu hướng
quan trọng các nước công nghiệp là chuyển từ tiêu thụ Cà Phê Robusta sang Cà Phê
arbica. Xu thế này rất rõ ở Anh và Tây Ban Nha mặc dù mức tiêu thụ bình quân đầu
người ở Mỹ giảm xuống 2%/năm, nhưng loại Cà Phê ngon miệng đắt tiền phù hợp thị
hiếu vẫn ngày càng được ưa chuộng. Nhịp độ tăng tiêu dùng Cà Phê của khối EU dự
đoán sẽ khoảng 1.4%/năm. Các nước dự kiến sẽ tăng cầu Cà Phê là CHLB Đức, Pháp,
Tây Ban Nha, Anh điều này cũng tác động đến ngành Cà Phê Việt Nam.
Lạm phát luôn là nguy cơ đối với các doanh nghiệp. Thế nhưng trong mấy năm
quốc tế không thể không chỉ chuyển giao làm chủ công nghệ nhập ngoại mà phải có
khả năng sáng tạo được kỹ thuật công nghệ tiên tiến.
•
Kỹ thuật công nghệ mới thúc đẩy hoạt đông sản xuất kinh doanh, đảm bảo ổn định
bền vững và bảo vệ môi trường sinh thái.
• Những năm gần đây nhiều công ty, nông trường đã xây dựng các xưởng chế biến
mới khá hoàn chỉnh với thiết bị nhập Đức, Braxin.
•
Một số nông trường sản xuất ra thị trường có chất lượng tốt như Đăklăk có Cà Phê
của công ty Thắng Lợi, Phước An, các công ty Việt Đức, Buôn Hồ, Đ’Rao…được
khách hàng đánh giá cao.
•
Tuy nhiên vẫn còn nhiều cơ sở tái chế trang bị không hoàn chỉnh, việc thu mua từ
người dân chủ yếu được xử lý phân tán ở từng hộ nông dân qua con đường phơi khô
trên cả sân xi măng lẫn sân đất hay dùng các máy xay sát nhỏ. Nên chế biến sản
phẩm chất lượng không đều.
1.5 Môi trường tự nhiên
Nước Việt nam nằm trong vành đai nhiệt đới bắc bán cầu trải dài theo
phương kinh tuyến từ 80độ 30phút đến 23độ 30phút vĩ độ bắc.Điều kiện khí hậu và điều
kiện địa lý rất thích hợp với việc phát triển Cà Phê đem lại cho Cà Phê Việt Nam một
hương vị rât riêng .
Ở 16độ 14phút có đèo hải vân nằm trong dãy núi Bạch Mã, cuối dãy trường sơn
Bắc, nằm ngảnga đén biển tạo nên một bức thành cao trên 1000m ngăn gió mùa đông bắc
và chia địa lý khí hậu Việt Nam thành hai miền. Miền địa lý khí hậu phía nam thuộc khí
hậu nhiệt đới nóng ẩm thích hợp với Cà Phê Robusta. Miền khí hậu phía Bắc có mùa
đông lạnh và có mưa phùn thích hợp với Cà Phê arabica.Đó là vùng chủ yếu quy hoạch
phát triển cà phê arabica của Viêt Nam.Bên cạnh đó đất nông nghiệp nước ta có kết cấu
tơi xốp khá cao lượng mưa nhiều độ ẩm không khí cao cho phép phát triển cây Cà Phê
1.6 . Toàn cầu hoá
•
Trên thế giới hiện nay, khoa học công nghệ phát triển rất mạnh cùng với sự phát triển
đó ngành Cà Phê Việt Nam đòi hỏi cần có sự đầu tư đúng mức hơn. Tình hình chế biến
Cà Phê của nước ta còn rất phân tán và khá tuỳ tiện trừ một số ít nông trường quốc doanh
và các công ty xuất khẩu Cà Phê lớn đã quan tâm xây dựng trang thiết bị với những
xưởng chế biến có quy mô lớn và hiện đại còn lại khoảng từ 60-70% là được chế biến
phân tán trong các hộ gia đình, các chủ vườn nhỏ bằng các công cụ sản xuất thô sơ với
công nghệ phơi khô sát vỏ đơn giản rất dễ tạo ra sản phẩm thấp .
Có thể nói ở Việt Nam Cà Phê được chế biến với nhiều quy mô khác nhau. Trong nhân
dân Cà Phê chủ yếu được chế biến bằng các máy không chuyên và máy thủ công còn
trong các xí nghiệp có quy mô lớn thì các máy móc đã quá cũ và công nghệ quá lạc hậu
nên tỉ lệ chế biến đạt rất thấp không đáp ứng được yêu cầu về chất lượng do chúng ta
chưa thực sự chú trọng đầu tư vào cải tiến công nghệ cho nên việc xuất khẩu Cà Phê Việt
Nam chủ yếu dưới dạng nguyên liệu thô chưa qua chế biến cao cấp.
• Lực lương lao động lớn thuân lợi cho việc sản xuất Cà Phê, nguồn lao động trong
ngành cà phê Việt Nam hiện nay, trình độ kỹ thuật chủ yếu là qua kinh nghiệm của
các bậc đi trước,trình độ đã qua đào tạo còn rất ít. Với tổng diện tích đạt trên 500ha,
và sản lượng 10 triệu bao mỗi tấn, cà phê hiện nay được xếp thứ hai sau gạo trong
danh mục hàng nông sản xuất khẩu của Việt nam.
•
Về vốn. Để giá Cà Phê xuất khẩu của Việt Nam có thể nâng lên và không bị quá
chênh lệch so với giá thế giới thì vấn đề về vốn cần tập trung giải quyết.thiếu vốn
nghiêm trọng luôn là vấn đề nan giải đối với ngành Cà Phê Việt Nam.
•
Do thiếu vốn nên nhiều doanh nghiệp kinh doanh Cà Phê không thể duy trì tồn kho
chờ giá lên cao để xuất khẩu. Theo tổng công ty Cà Phê Việt Nam (Vinacafe) để
xuất khẩu 70.000 tấn công ty cần đến 1000 tỷ đồng vốn phải vay ngân hàng.
•
Thiếu vốn, lãi suất cao, không thể tăng khối lượng thu mua vào mùa thu hoạch nên
không có cơ hội gom hàng chờ giá lên cao mới xuất, thu mua phải bán nhanh chóng
trại không lớn lắm, thường môi hộ chỉ có 2-5 ha cà phê. Trang trại lớn có từ 30-50
ha nhưng số nay chưa nhiều.
•
Có ba doanh nghiệp xuất khẩu lớn: Công ty Olam (100% vốn nước ngoài) xuất
khẩu 21.326 tấn, công ty Đakman ( liên doanh) xuất khẩu 18.076 tấn, Vinafimex
xuất khẩu 13.719 tấn (2009).
III. THỊ TRƯỜNG CÀ PHÊ VIỆT NAM
1. Quy mô trồng cà phê tại Việt Nam
Ngành cà phê ở Việt Nam là 1 trong những ngành hàng nông sản mới so với các
ngành lúa gạo, cao su, chè nhưng có tốc độ phát triển khá nhanh. Sau hơn 30 năm phát
triển, Việt Nam trở thành nước xuất khẩu cà phê đứng thứ 2 thế giới và đứng thứ nhất về
xuất khẩu cà phê vối. Cà phê đã trở thành một trong 5 mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ
lực với sản lượng xuất khẩu trên 1 triệu tấn/năm và đạt kim ngạch xuất khẩu gần 2 tỷ
USD/năm và đứng thứ hai sau mặt hàng gạo
Cây cà phê được đưa vào Việt Nam từ cuối thế kỷ 19 và được trồng rộng rãi ở các
đồn điền vào đầu thế kỷ 20. Năm 1930, diện tích cà phê Việt Nam là 5.900 ha, trong đó
có 4.700 ha trồng cà phê Arabica, 900 ha trồng cà phê Excelsa (cà phê mít) và 300 ha cà
phê Robusta.
Biểu đồ 1: Diện tích và sản lượng cà phê Việt Nam 2001 - 2007
Qua nhiều năm phát triển, mở rộng, diện tích cà phê Việt Nam đạt mức cao nhất
vào năm 2001 (trên 565.000 ha, chiếm 4,14% tổng diện tích các loại cây trồng, đứng thứ
3 sau lúa và ngô), sau đó giảm dần dưới tác động của thị trường (khủng hoảng giá cà phê
thế giới), bình quân giảm 2,8% trong giai đoạn 2001- 2006.
Năm 2007, Việt Nam có ~500.000 ha đất trồng cà phê, giảm 10,42% so với năm
2001.( ~ 20.000 ha trồng cà phê Arabica), sản lượng bình quân mỗi năm gần 1 triệu tấn.
Năng suất cà phê ngày càng được nâng cao, từ 1,42 tấn/ha năm 2002 lên đến 1,89 tấn/ha
năm 2007, bình quân đạt 1,63 tấn/ha. Theo Cục trồng trọt, Bộ NN & PTNT, diện tích cà
phê Việt Nam sẽ quy hoạch ở mức 460.000 ha vào năm 2010.
80% diện tích trồng cà phê là ở khu vực phía Nam (Tây Nguyên và Đông Nam
28.875
25.000
Kon Tum
12.984
15.000
Bình Ph
ư
ớc
13.693
15.000
Đ
ắc Lắc
237.262
360.000
2. Chủng loại cà phê
Việt Nam nằm trong vành đai nhiệt đới Bắc Bán Cầu, khí hậu rất thích hợp với
việc phát triển cây cà phê và đem lại cho cà phê Việt Nam một hương vị rất riêng. Hai
loại cà phê đuợc trồng phổ biến tại Việt Nam là cà phê Robusta (90% diện tích) và cà
Ngành cà phê Việt Nam bao gồm 02 ngành nhỏ: ngành kinh doanh cà phê nhân và
ngành kinh doanh cà phê chế biến.
4.1. Ngành kinh doanh cà phê nhân Việt Nam:
Hiện nay cả nước có hơn 140 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu cà phê nhân. Tuy
nhiên chỉ có khoảng 15 doanh nghiệp xuất khẩu lớn và có uy tín như Công ty CP Đầu tư
và XNK Cà phê Tây Nguyên, Công ty TNHH 1 TV XNK 2/9 Đăk Lăk, Công ty CP XNK
Intimex…
Lượng cà phê tiêu thụ nội địa tăng lên trong vài năm gần đây, đặc biệt ở các khu
vực trồng cà phê và các khu đô thị lớn. Tuy nhiên lượng cà phê bình quân đầu người vẫn
chỉ ở mức 0,6 kg/năm, lượng tiêu thụ nội địa chỉ chiếm chưa đến 5% tổng sản lượng
(trong khi tỷ lệ này ở các nước thành viên ICO là hơn 20%).
Bảng 2: Cơ cấu tiêu dùng nội địa của cà phê nhân Việt Nam
Ch
ỉ ti
êu
2007
2008
2009
T
ổng sản l
ư
ợng (triệu bao 60 kg)
21,25
17,5
sự giảm sút về khối lượng và giá trị xuất khẩu trong năm 2009 và niên vụ 2009 - 2010 là
do mưa ảnh hưởng đến chất lượng cà phê; hệ thống chế biến, tiêu thụ, xuất khẩu chưa tốt
dẫn đến tình trạng bị ép giá.
Số liệu Thống kê Hải quan mới nhất cho thấy, mùa vụ xuất khẩu cà phê của Việt
Nam thường từ cuối quý IV năm trước đến quý I năm sau. Thế nhưng, quý I năm 2010,
giá và lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam đạt mức thấp nhất so với cùng kỳ ba năm trở
lại đây (từ năm 2007).
Tính đến hết tháng 3/2010, lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam chỉ đạt 345 nghìn
tấn, giảm 22% so với cùng kỳ năm trước, trị giá là 483 triệu USD, giảm 27,8%, tương
ứng giảm 186 triệu USD; trong đó, phần trị giá giảm do lượng giảm là 147 triệu USD và
phần trị giá giảm do giá giảm là 39 triệu USD. Như vậy, lượng và trị giá xuất khẩu cà phê
của Việt Nam trong trong quý I/2010 đạt mức thấp nhất so với cùng kỳ 3 năm trở lại đây.
Biểu đồ 3: Thống kê khối lượng, đơn giá và trị giá cà phê xuất khẩu của Việt
Nam theo quý trong giai đoạn 2005- 2010
Theo số liệu thống kê của Tổ chức Cà phê thế giới (ICO), từ năm 2000 lượng xuất
khẩu cà phê của Việt Nam đã vượt qua Côlômbia để vươn lên trở thành nhà xuất khẩu
lớn thứ hai cung cấp cà phê ra thị trường thế giới, chiếm tỷ trọng khoảng 15,3% trong
giai đoạn 2000 -2008. Hiện nay, Việt Nam chỉ đứng sau Braxin với tỷ trọng chiếm gần ¼
lượng cà phê xuất khẩu của thế giới.
Biểu đồ 4: Cơ cấu các nước xuất khẩu cà phê thế giới 2009 Hiện cà phê Việt Nam được xuất khẩu sang khoảng 97 quốc gia. Trong nhiều năm
qua, Đức và Hoa Kỳ vẫn là hai thị trường nhập khẩu cà phê lớn nhất của Việt Nam với tỷ
trọng tính chung khoảng 22% tổng lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam. Sô liệu thống
kê của ICO cũng ghi nhận Đức và Hoa Kỳ cũng là hai thị trường nhập khẩu cà phê lớn
40% so với năm 2009.
Để khắc phục tình trạng giá cà phê liên tục giảm trong thời gian vừa qua, ngày
04/03/2010, tại cuộc họp giữa Bộ NN&PTNT với các bộ ngành bàn về biện pháp hỗ trợ
thu mua tạm trữ cà phê cho nông dân, Hiệp Hội cà phê – ca cao và Tổng Công ty Cà phê
Việt Nam đã kiến nghị mua tạm trữ 200.000 tấn cà phê. Hiện Chính phủ đã đồng ý giao
Tổng công ty Cà phê quản lý nguồn tiền hỗ trợ 6% lãi suất trong vòng 06 tháng trữ
200.000 tấn cà phê niên vụ 2009 – 2010 (Quyết định số 48/QĐ-TTg ngày 13/4/2010 của
Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ mua tạm trữ cà phê niên vụ 2009-2010) Trên cơ sở
đó, Ngày 21/04/2010, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ra quyết định số
1017/QĐ-BNN-CB về việc chỉ định các doanh nghiệp mua tạm trữ cà phê niên vụ 2009-
2010.
Bảng 4: Các doanh nghiệp được giao thu mua tạm trữ cà phê niên vụ 2009/2010
STT Tên doanh nghiệp
S
ố l
ư
ợng
tối đa (tấn)
A
Doanh nghi
ệp do Hiệp hội C
à phê Ca cao đ
ề nghị1
T
ổng Công ty c
5
Công ty Th
ực phẩm miền Bắc (Fonexi
m)
10.000
6
Công ty TNHH MTV Tín Ngh
ĩa (Đồng Nai)
5.000
B
Doanh nghi
ệp do UBND tỉnh đề xuất7
Công ty TNHH Thái Hòa (Lâm
Đ
ồng)
7.000
2.000
12
Công ty TNHH V
ĩnh Hiệp (Gia Lai)
2.000
13
Công ty XNK cà phê Đ
ắc H
à (Kon Tum)
3.000T
ổng cộng A + B
200.000
4.2. Ngành kinh doanh cà phê chế biến
Thị trường cà phê chế biến hiện đã phân chia thành 2 phân khúc rõ ràng: cà phê
rang xay (cà phê phin). Năm 2007, doanh thu từ cà phê rang xay chiếm đến 80% thị
trường cà phê chế biến và tăng trưởng 12% so với năm 2006, phần còn lại là cà phê hòa
tan với tốc độ tăng doanh thu là 13%.
Mức tiêu thụ cà phê bình quân đầu người của Việt Nam vẫn còn rất thấp, chỉ 0,6 kg
cà phê rang xay và 0,25 kg cà phê hòa tan một năm.Có thể thấy triển vọng khá tốt đẹp
n
(1)
Đ
ại
l
ý
thu
mua (2)
DN l
ớn thu
mua (3)
DN XK (4)
Khác
2%
Moment
4%
Nescafe
36%
Vinacafe
52%
G7
6%
Vinacafe
Nescafe
G7
Moment
Khác
Cà phê nguyên liệu sẽ được giao cho các đại lý thu mua vệ tinh/Doanh nghiệp thu
đến cảng xuất mà DN thu mua phải thực hiện chế biến lại. Đối với lô hàng đủ tiêu
chuẩn sẽ được cấp Phiếu Giám sát chất lượng, số lượng của Đơn vị giám định.
(4) Doanh nghiệp Xuất khẩu (Intimex, Inexim,…): Các doanh nghiệp Việt Nam có
02 kênh để xuất khẩu: giao dịch mua bán trực tiếp với đối tác nước ngoài (phổ biến) và
tham gia mua bán trên thị trường London bằng Hợp đồng tương lai và Quyền chọn (mới
bắt đầu triển khai).
- Có 2 phương thức kinh doanh:
+ Ký HĐ đầu ra Ký HĐ đầu vào: ít rủi ro nhưng lợi nhuận không cao (Intimex).
HĐ đầu vào và đầu ra đều đã chốt giá.
HĐ đầu vào và đầu ra đều chưa chốt giá.
HĐ đầu vào đã chốt giá, HĐ đầu ra chưa chốt giá.
HĐ đầu vào chưa chốt giá, HĐ đầu ra đã chốt giá.
+ Thu mua Dự trữ Ký HĐ đầu ra (Đầu cơ): rủi ro lớn do mặt hàng cà phê có
biến động giá mạnh, nhưng có thể đem lại lợi nhuận rất cao (Công ty XNK 2/9 ĐăkLăk).
HĐ đầu vào đã chốt giá.
HĐ đầu vào chưa chốt giá.
- Thực hiện HĐ đầu ra:
+ Giá bán: là giá giao ngay hoặc giá xác định theo phương pháp trừ lùi biên độ.
Phương thức xác định giá trừ lùi biên độ:
Tại ngày ký HĐ: các bên thỏa thuận lựa chọn kỳ hạn và biên độ trừ lùi (chẳng
hạn, chọn giá kỳ hạn tháng 11, biên độ đầu vào 130USD/tấn, biên độ đầu ra 100
USD/tấn).
Thời gian chốt giá: từ khi ký HĐ đến ngày đầu tiên của tháng có giá kỳ hạn ghi
trong HĐ (Ký HĐ ngày 30/07, chọn giá kỳ hạn tháng 11 thời gian được phép chốt giá:
từ 30/07đến 1/11)
Tại ngày giao hàng: Nếu đã chốt giá giao hàng và thanh toán bình thường.
Nếu giá chưa được chốt thanh toán trước 70%- 80% giá trị tạm tính của lô hàng, phần
còn lại được thanh toán sau khi chốt giá.
Trong trường hợp giá cà phê biến động mạnh, có thể chọn điểm dừng (stop loss),
thông thường mức độ chấp nhận biến động giá là từ 25- 30% so với giá giao ngay tại thời