ĐẠI HỌC MỞ TP.HCM
KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
MÔN: QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH QUỐC TẾ Tên đề tài:
ĐỒNG EURO VÀ CUỘC KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG
CHÂU ÂU GVHD: PGS.TS. Lê Phan Thị Diệu Thảo
Thực hiện: Nhóm 1
1. Trần Vĩnh Bình
2. Đỗ Thị Lệ Khánh
3. Lê Tuyết Linh
4. Trần Thanh Phong
5. Lê Bảo Trâm
6. Phan Trịnh Dũng Tâm TP.H CHÍ MINH, 02/2014
Thực hiện chính sách đối ngoại và an ninh chung, dần tiến tới một chính sách quốc phòng
chung. Đến thời điểm chín muồi, chính sách này sẽ dẫn đến một nền quốc phòng chung.
Bảo vệ các quyền về lợi ích của kiều dân các nước thành viên bằng việc cho ra quốc tịch
liên bang.
Nỗ lực thống nhất Châu Âu được thể hiện tại cuộc họp thượng đỉnh các nước thuộc EU ở
Maastricht (tháng 12/1991) với Hiệp Ước được thông qua về thống nhất EU, về việc thành lập
EMU và Liên Minh Chính Trị (EPU) nhằm làm cho Châu Âu thay đổi mạnh vào năm 2000 với
một nền văn minh mới. Ngày 2/10/1997 tại Amsterdam (Hà Lan) ngoại trưởng các nước EU đã
ký chính thức bản Dự thảo hiệp định đã được các nhà lãnh đạo cao cấp EU thông qua tại cuộc
họp lần thứ 57 (tháng 6/1997).
Hiệp Định Amsterdam có các sửa đổi quan trọng, là sự nối tiếp và bổ sung cho Hiệp Ước
Maastricht về thành lập EU cùng các cải tổ sâu sắc hệ thống thể chế của EU để tăng cường hơn
nữa liên kết giữa các nước thành viên, đưa tiến trình liên kết lên một mức mới cao hơn trên mọi
lĩnh vực trong bối cảnh EU sẽ tiếp tục mở rộng số nước thành viên lên tới 25 nước trong những
thập niên đầu thế kỷ 21. EU tập trung thiết lập ba vành đai kinh tế: các nước trong Cộng Đồng
Châu Âu là hạt nhân (15 nước EU hiện tại làm trung tâm), Hiệp Hội Thương Mại Tự Do Châu
Âu (EFTA) là vành đai thứ hai, một số nước Đông Âu là vành đai thứ ba.
Đầu năm 1998, EU đã kết nạp thêm 6 nước thành viên mới: Hungary, Ba Lan, Cộng hòa
Czech, Estonia, Slovenia và Chypres.
Sau 40 năm đàm phán, kể từ khi nguyên thủ của các quốc gia Châu Âu ký Hiệp Ước
Roma nă m 1957, cuối cùng Liên Minh Tiền Tệ Châu Âu (EMU) đã chính thức hoạt động vào
ngày 1/1/1999, 11 nước tham gia vào EMU đồng ý chuyển giao các chính sách đồng tiền riêng
rẽ của từng nước cho một tổ chức thống nhất mới là Ngân Hàng Trung Ương Châu Âu (ECB)
Đồng Euro và cuộc khủng hoảng nợ công Châu Âu
Nhóm 1 Trang 2 và đồng Euro được chính thức sử dụng để trao đổi và mua bán hàng hóa, dịch vụ. Từ tháng
1/2000 Hy Lạp là thành viên thứ 12 gia nhập vào khu vực EMU.
1.2. Tiến trình thay thế đồng bản tệ bằng đồng Euro
YenĐồng Euro và cuộc khủng hoảng nợ công Châu Âu
Nhóm 1 Trang 3 D
Tr Ngoi T Quc T
60
14
20
6
USD
Các đ ng tin
khác
Euro
Yen
Ngay từ đầu năm 1999, khách hàng và các doanh nhân có thể mở các tài khoản ngân hàng,
ghi “séc” và vay tiền bằng đồng Euro. Các du lịch có thể mua các séc du lịch bằng đồng Euro.
Cổ phiếu và trái phiếu ghi mệnh giá bằng Euro. EMI là chữ viết tắt của European Economics
and Monetary Union (Liên Minh Kinh Tế và Tiền Tệ Châu Âu), đây là tên chính thức của một
hệ thống mà theo đó các quốc gia thành viên sẽ cùng có chính sách tiền tệ chung. Việc thành lập
liên minh này đã được thảo luận từ hàng thập niên nay. Vào năm 1992, các nước thuộc EU đã
ký Hiệp Ước Maastricht để thành lập đồng tiền chung và thiết lập các tiêu chuẩn mà các quốc
gia cần phải đáp ứng, nếu họ muốn trở thành thành viên EMU.
Để tiến hành hoạt động của EMU, một tổ chức có tên gọi ECB (Ngân Hàng Chung Châu
Âu) có trụ sở ở Franfurt (Đức) ECB sẽ ấn định lãi suất và điều hành các chính sách tiền tệ của
12 quốc gia thành viên. ECB có chức năng gần giống như ngân hàng Dự Trữ Liên Bang Mỹ
Theo nghiên cứu của Ngân hàng Trung ương Châu Âu, dự trữ ngoại tệ của thế giới ở đồng
EURO liên tục gia tăng: năm 2001 là 13%; 2002 là 16,4%; 2003 là 18,7%; tháng 9/2007 là
26,4%.
Tóm lại, sự ra đời của đồng Euro làm thay đổi cục diện các đồng tiền mạnh trên thế giới.
2. TÁC ĐỘNG CỦA ĐỒNG EURO ĐỐI VỚI KINH TẾ CÁC NƯỚC EU
Các người đứng đầu chính phủ các nước EU đã chính thức làm lễ khai sanh đồng Euro
khi long trọng khẳng định có 11 nước tham gia (hiện là 18) đồng tiền này, đồng thời xác định cơ
chế tỷ giá hối đoái giữa các đồng tiền quốc gia so với đồng Euro.
Các nước tham gia đồng tiền chung này được gọi là những nước thuộc “Euroland” (Khu
vực đồng Euro), lúc đầu gồm 11 nước. Đức, Pháp, Ý, Hà Lan, Bỉ, Luxembourg, Áo, Tây Ban
Nha, Bồ Đào Nha, Ireland, và Phần Lan. Còn được gọi là nhóm EU11 và hiện nay là EU12. Kể
từ khi khu vực đồng Euro ra đời, bất chấp sự khủng hoảng nền kinh tế thế giới, đặc biệt là cuộc
khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Châu Á và ở Nga, sự biến động về tỷ giá giữa các đồng tiền các
nước thuộc EU ở mức không đáng kể. Khu vực đồng Euro là 1 trung tâm kinh tế của thế giới,
chiếm 19,4% GDP toàn thế giới (trong khi đó của Mỹ là 19,6% và Nhật Bản là 7,7%) và 20%
kim ngạch buôn bán thế giới (so với 16% của Mỹ và 10% của Nhật).
Đồng Euro và cuộc khủng hoảng nợ công Châu Âu
Nhóm 1 Trang 5 2.1. Lợi thế
Việc xây dựng thành công khu vực đồng Euro sẽ mang lại cho các nước trong khu vực
nhiều lợi thế:
Việc 11 nước ban đầu tham gia EMU – Liên minh tiền tệ Châu Âu hình thành một thị
trường rộng lớn trên thế giới và nền kinh tế gần tương đương với Mỹ có trình độ phát triển kinh
tế cao. Như vậy các nước EU sẽ trở thành một khối kinh tế vững mạnh hơn, liên kết chặt chẽ
hơn, và do đó địa vị của EU sẽ được nâng cao, nhất là trong quan hệ kinh tế với Mỹ. Đồng thời
sẽ tăng cường sức mạnh kinh tế quốc tế của khu vực đồng Euro, đảm bảo cho khu vực này ít bị
tác động bởi các biến động tài chính, tiền tệ quốc tế, như cơn bão tài chính năm 1997 ở Châu Á.
ECB có năng lực lớn hơn nhiều so với từng nước EU riêng lẻ trong việc kiềm chế lạm
chính sách tiền tệ chung có thể là quá nới lỏng với nước này, nhưng lại quá khắt khe với một
nước khác.
Lãi suất do ECB đề ra có thể sẽ quá thấp để hạn chế lạm phát ở một số nước đang tăng
trưởng mạnh, nhưng lại quá cao để kích thích tăng trưởng ở các nước kinh tế đang suy giảm.
Như vậy việc thi hành một chính sách tiền tệ chung thích hợp cho tất cả nước thành viên vẫn
còn nhiều hạn chế.
Việc ra đời đồng tiền chung có tác dụng tăng cường sự cạnh tranh khu vực, từ đó sẽ thúc
đẩy sự phát triển phân cực giữa các nước. Cho đến nay, EU vẫn chưa giải quyết được triệt để sự
phân hóa về trình độ phát triển giữa Bắc và Nam của Ý, giữa Đông và Tây Đức, giữa các vùng
ở Pháp vẫn còn rất lớn. Trong một quốc gia đã khó giải quyết, vấn đề phát triển phân cực giữa
các nước lại càng khó hơn. Để có sự thống nhất của 15 thành viên trước đây và 25 thành viên
hôm nay (2006) vốn có các hoàn cảnh, điều kiện và các mối quan hệ khác nhau thực không dễ.
Vấn đề đặt ra đối với việc cải cách sắp tới của EU là các nước phải tìm các biện pháp hữu hiệu
để dung hòa lợi ích của từng quốc gia thành viên, vừa đảm bảo sự phát triển của EU vừa giữ
được bản sắc riêng về kinh tế, chính trị, văn hóa,… Dù sao các thành công của EU đã và sẽ là
các đóng góp lớn đối với sự phát triển của nhân loại.
Đồng Euro và cuộc khủng hoảng nợ công Châu Âu
Nhóm 1 Trang 7 3. CUỘC KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG CHÂU ÂU
3.1 Khái niệm nợ công
Một cách khái quát nhất, có thể hiểu “nợ chính phủ, nợ công hoặc nợ quốc gia là tổng giá
trị các khoản tiền mà chính phủ thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa phương đi vay nhằm tài trợ
cho các khoản thâm hụt ngân sách, vì thế, nợ chính phủ, nói cách khác, là thâm hụt ngân sách
luỹ kế tính đến một thời điểm nào đó. Để dễ hình dung quy mô của nợ chính phủ, người ta
thường đo xem khoản nợ này bằng bao nhiêu phần trăm so với tổng sản phẩm quốc nội
Nhóm 1 Trang 9 GDP năm nay. Đây là con số cao nhất trong số những quốc gia châu Âu có hạng mức tín nhiệm
AAA.Mặc dù Pháp có nhiều tập đoàn nổi tiếng thế giới như LVMH Moët Hennessey Louis
Vuitton, L’Oréal, Renault và Danone, nhưng nền kinh tế lại tăng trưởng chậm so với mức dự
báo. Thất nghiệp đang ở mức khoảng 9%. Ngày 10.8, cổ phiếu của ngân hàng Pháp như Société
Générale, BNP Paribas sụt giảm mạnh do lo ngại Pháp sẽ bị hạ mức tín nhiệm AAA. Lý do là
các ngân hàng này nắm giữ rất nhiều trái phiếu của Ý, Hy Lạp, Tây Ban Nha và một lượng trái
phiếu khổng lồ của Pháp.Tăng trưởng kinh tế quý I/2010 tại châu Âu. (Nguồn: BBC)
Đồng Euro và cuộc khủng hoảng nợ công Châu Âu
Nhóm 1 Trang 10 3.3 Nguyên nhân của khủng hoảng nợ công ở Châu Âu
“Khủng hoảng nợ công châu Âu là một cuộc khủng hoảng bị phóng đại bởi một số quỹ
đầu tư có ý đồ xấu trên thị trường vốn quốc tế và các phương tiện truyền thông.
Mục đích của ý đồ này chính là:
Thứ nhất, muốn chống lại đồng EUR, tạo ra một sự bất ổn kinh tế cho toàn bộ nền kinh
tế châu Âu; Hai là muốn xoay chuyển đồng USD theo chiều hướng suy yếu trên thị trường tài
chính quốc tế, nhằm bảo vệ ngôi vị bá chủ tiền tệ thế giới của đồng Mỹ kim.
Trong thế giới hiện tại, đồng EUR có ảnh hưởng ngày càng lớn, dần dần gây nên mối đe
dọa trực tiếp cho ngôi vị bá chủ của đồng USD trong lĩnh vực tài chính. Do đó, việc chống lại
đồng EUR, chắc chắn sẽ giúp nâng cao được vị trí mạnh mẽ của đồng Mỹ kim. Nếu đồng EUR
sụp đổ, không chỉ có thể xóa bỏ hoàn toàn mối đe dọa của đồng EUR đối với ngôi vị bá chủ của
đồng USD, mà còn có thể ngăn chặn nền kinh tế châu Âu thách thức nền kinh tế Mỹ. Cho dù
giới, gấp đôi so với số trái phiếu chính phủ Hy Lạp chiếm xấp xỉ 120% GDP. Nhưng Standard
& Poors, Moodys, Fitch – ba cơ quan xếp hạng tín dụng có quyền lực lớn nhất hiện nay lại chưa
bao giờ đưa ra bất kỳ một sự cảnh báo nào ra ngoài thế giới về nợ công và thâm hụt ngân sách
của Mỹ, Nhật Bản. Bởi vì ba cơ quan đánh giá tín dụng này nằm trong tay kiểm soát bởi các
nhóm tài chính lớn của Mỹ.
Một bằng chứng rõ ràng nữa cho vấn đề này chính là việc các chuyên gia kinh tế khẳng
định đồng đôla Mỹ (USD) không những không cáo chung mà đang tiếp tục giữ vị trí quan trọng
trong rổ các ngoại tệ mạnh nhất thế giới, nhất là sau cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu vừa
qua. Tình thế hiện nay tạo cho đồng USD vị thế cao trong rổ ngoại tệ mạnh toàn cầu, đặc biệt
trong bối cảnh tốc độ tăng trưởng của kinh tế Mỹ trong năm 2011 nhanh gấp 3 lần kinh tế Anh,
Nhật Bản và khu vực đồng euro. Lãi suất ở các nền kinh tế phát triển mới đây đã tăng cao
nhưng không tác động đến đồng USD.
Tuy nhiên, châu Âu suy cho cùng vẫn là một khu vực có chủ nghĩa tư bản lâu đời nhất,
thị trường vốn phát triển, khả năng kiểm soát rủi ro tài chính mạnh hơn Mỹ, trật tự tài chính
càng chuẩn mực hơn, càng không có nhiều sản phẩm tài chính phát sinh có thể gây ra khủng
hoảng tài chính với quy mô lớn như ở Mỹ. Cho nên, rủi ro tài chính của châu Âu hoàn toàn có
thể khống chế được, không thể xuất hiện cuộc khủng hoảng tài chính như cơn bão tài chính ở
Phố Wall. Các nước chủ yếu của châu Âu đã ý thức được tầm quan trọng của việc giải cứu các
nước thuộc khu vực đồng tiền chung châu Âu Eurozone đang nằm trong cơn bão nợ. Vì thế, khả
Đồng Euro và cuộc khủng hoảng nợ công Châu Âu
Nhóm 1 Trang 12 năng khủng hoảng nợ châu Âu diễn biến thành khủng hoảng tài chính với quy mô lớn là không
lớn”
2
.
Năm 1996, để chuẩn bị cho việc ra mắt đồng euro, Hội đồng châu Âu đã họp tại Dublin
để thảo luận các vấn đề cần thiết. Và Liên minh châu Âu (EU) ký một hiệp ước quy định các
và EU gây áp lực khiến Hy Lạp công bố lại.
Dưới áp lực từ châu Âu, Hy Lạp công bố là 3,2% bởi trước đó đã tính các trợ cấp thuế
ước tính của châu Âu vào nguồn thu chính phủ. Bốn tháng sau đó, Hy Lạp thừa nhận đã bỏ qua
một số khoản chi tiêu quân sự, tính cao lên giá trị thặng dư an sinh xã hội cùng lãi suất thấp đi,
nên con số thực phải là 4,6%. Đến tháng 3.2005, Hy Lạp “thành thật” thông báo thâm hụt của
năm 2003 là 5,2%. Và trong lần “thành thật” cuối cùng vào cuối năm đó, con số tăng lên mức
5,7%. Sau 18 tháng, số liệu thâm hụt năm 2003 đã tăng từ 2,6 tỉ lên 8,8 tỉ euro.
Theo ông Jean-Pierre Jouyet, chủ tịch uỷ ban Giám sát thị trường chứng khoán Pháp và
là cựu cố vấn trưởng của chủ tịch Uỷ ban châu Âu, vấn đề hiện tại của Hy Lạp cũng cho thấy
thể chế tài chính của EU không đủ năng lực và chuyên môn để kềm chế những thành viên
không tuân thủ hiệp ước của khối. Liên minh tiền tệ EUROZONE đã được xem là công cụ cho
liên minh chính trị, nên các “sáng lập viên” chẳng hề quan tâm nhiều đến chuyện trừng phạt
thành viên vi phạm quy chế chung.
Năm 1996, khi thảo luận xem liệu có cần thiết có những công cụ trừng phạt những thành
viên vi phạm hay không, Tổng thống Pháp Jacques Chirac và Thủ tướng Đức Helmut Kohl cho
rằng nên dựa vào ý thức, và cuối cùng EU ủng hộ chủ trương này. EU cho rằng các quốc gia sẽ
phải tự điều tiết lấy. Willem Buiter, kinh tế gia trưởng của Citigroup và là thành viên của uỷ ban
Chính sách tiền tệ của ngân hàng Anh quốc, mô tả hiệp ước 1996 như những con hổ giấy. Còn
ông Jean-Pierre Jouyet nói: “Một hiệp ước mà không có biện pháp trừng phạt thì là vô
nghĩa”.Đâu chỉ Hy Lạp, vào năm 2002 đến 2004, Pháp và Đức vượt chuẩn thâm hụt thì các
Đồng Euro và cuộc khủng hoảng nợ công Châu Âu
Nhóm 1 Trang 14 quốc gia EU khác cũng bình chân như vại. Ông Jean-Luc Dehaene, cựu Thủ tướng Bỉ, không
ngại chỉ trích: “Họ có xu hướng đưa ra quyết định chính trị”. Nay, đến khi Hy Lạp kêu van và lo
sợ đồng euro chết yểu thì EU mới vào cuộc
3
.
Mặt khác, áp dụng kiến thức vĩ mô đã được học, ta có thể nhận xét về nguyên nhân gây
suất danh nghĩa trong khi đáng lẽ chỉ tiêu này chỉ nên tính theo lãi suất thực tế. Do lãi suất danh
nghĩa bằng lãi suất thực tế cộng với tỷ lệ lạm phát, nên thâm hụt ngân sách đã bị phóng đại.
Trong những thời kỳ lạm phát ở mức cao và nợ chính phủ lớn thì ảnh hưởng của yếu tố này rất
lớn.
(4) Tài sản đầu tư
Nhiều nhà kinh tế cho rằng tính toán nợ chính phủ cần phải trừ đi tổng giá trị của tài sản
chính phủ. Điều này cũng đơn giản như khi xử lý tài sản của cá nhân: khi một cá nhân vay tiền
để mua nhà thì không thể tính anh ta đã thâm hụt ngân sách bằng số tiền đã vay mà phải trừ đi
giá trị của căn nhà. Tuy nhiên khi tính toán theo phương pháp này lại gặp phải vấn đề những gì
nên coi là tài sản của chính phủ và tính toán giá trị của chúng như thế nào, ví dụ: đường quốc lộ,
kho vũ khí hay chi tiêu cho giáo dục
(5) Các khoản nợ tiềm tàng
Nhiều nhà kinh tế lập luận rằng tính toán nợ chính phủ đã bỏ qua các khoản nợ tiềm tàng
như tiền trợ cấp hưu trí, các khoản bảo hiểm xã hội mà chính phủ sẽ phải chi trả cho người lao
Đồng Euro và cuộc khủng hoảng nợ công Châu Âu
Nhóm 1 Trang 16 động hay các khoản mà chính phủ sẽ phải chi trả khi đứng ra bảo đảm cho các khoản vay của
người có thu nhập thấp mà trong tương lai họ không có khả năng thanh toán
4Những mốc chính trong khủng hoảng nợ công ở Châu Âu
Dưới đây là những mốc quan trọng trong khủng hoảng nợ châu Âu tính từ tháng 11/2009
khi chính phủ mới của Hy Lạp khiến thế giới chấn động với việc tuyên bố nâng gấp đôi ước tính
về thâm hụt ngân sách năm 2009.
5/11/2009 Thủ tướng Hy Lạp cho biết thâm hụt ngân sách năm 2009 sẽ ở mức 12,7%
GDP, cao gấp đôi con số công bố trước đó và sẽ cố gắng cứu Hy Lạp khỏi khả năng vỡ nợ.
22/12/2009 Moody hạ xếp hạng nợ của Hy Lạp xuống mức A2 từ mức A1 bởi thâm hụt
nguyên nhân dẫn dến khủng hoảng nợ, công bố cấm bán khống vô căn cứ cổ phiếu của 10 tổ
chức tài chính lớn nhất tại Đức, trái phiếu chính phủ đồng euro và hợp đồng hoán đổi vỡ nợ tín
dụng (CDS).
25/5/2010 Nội các Italia bỏ phiếu thông qua kế hoạch thắt chặt ngân sách, tiết kiệm 24 tỷ
euro với mục tiêu đến năm 2012 đưa thâm hụt ngân sách về mức 2,7% GDP từ mức 5,3% của
năm 2009.
27/5/2010 Quốc hội Tây Ban Nha chấp thuận kế hoạch thắt chặt ngân sách nhằm tiết
kiệm 15 tỷ euro tương đương 18,4 tỷ USD
28/5/2010 Fitch hạ xếp hạng tín dụng của Tây Ban Nha từ AAA xuống AA+ bởi nợ tiêu
dùng và doanh nghiệp tại nước này tăng lên mức quá cao, đó là chưa kể đến nợ công đang ở
mức đáng báo động.
29/5/2010 Hàng ngàn người biểu tình ở Lisbon - Bồ Đào Nha để phản đối kế hoạch thắt
chặt ngân sách của chính phủ.
7/6/2010 Đảng của Thủ tướng Đức chấp thuận kế hoạch thắt chặt ngân sách và thuế để
hoàn thành mục tiêu đưa thâm hụt ngân sách của Đức về mức quy định của Liên minh châu Âu
trong khoảng thời gian từ nay đến năm 2013.
Đồng Euro và cuộc khủng hoảng nợ công Châu Âu
Nhóm 1 Trang 18 8/6/2010 Công đoàn Tây Ban Nha công bố 75% người lao động trong lĩnh vực công
không đi làm để thể hiện sự phản đối kế hoạch thắt chặt chi tiêu của chính phủ. Tỷ lệ lạm phát
của Hy Lạp tháng 5/2010 tăng 5,4%, vượt mọi kỳ vọng của các chuyên gia và lên mức cao nhất
từ tháng 8/1997.
9/6/2010 Kế hoạch thắt chặt ngân sách được bàn đến trong các cuộc bầu cử và Đảng có
chủ trương này đã chiến thắng. Tuy nhiên cuối cùng, thật khó để các nhà hoạch định chính sách
thống nhất với nhau.
10/6/2010 Thỏa thuận để cải tổ thị trường lao động Tây Ban Nha sụp đổ. Chính phủ buộc
phải áp dụng quy định tuyển dụng và sa thải lỏng lẻo hơn dù không có sự hỗ trợ của nghiệp
đoàn lao động.
Eurozone là bằng chứng cho thấy, các biện pháp khắc khổ với hy vọng giảm bớt nợ công và bội
chi ngân sách không phải là "liều thuốc" thích hợp cho khu vực này vào thời điểm hiện nay, khi
sức tiêu thụ của tư nhân đi xuống, khủng hoảng niềm tin của các nhà đầu tư đẩy các hoạt động
của khu vực sản xuất càng xuống thấp trong năm qua.
Theo giáo sư kinh tế Jacques Sapir, Giám đốc trường Cao đẳng Khoa học Xã hội
(EHESSP Paris), thất nghiệp đang trở thành một vấn đề cấp bách không kém gì so với cuộc
khủng hoảng nợ công của Eurozone. Trong khi đó, trước mắt các quốc gia Eurozone không có
mấy hy vọng giải quyết được vấn đề này trong nay mai.
Khủng hoảng ngân hàng trở thành nỗi lo mới
Khủng hoảng ngân hàng đã nổi lên là nguy cơ mới đối với sự liên kết của khu vực đồng
euro và Liên minh châu Âu (EU). Cộng hòa Síp, một trong những thành viên nhỏ nhất của EU
đã thừa nhận có thể phải tìm kiếm một khoản cứu trợ cho các ngân hàng của họ, cùng với Tây
Ban Nha. Síp đang sa vào khủng hoảng ngân hàng do nền kinh tế và các ngân hàng của họ phụ
thuộc nặng nề vào Hy Lạp.
Lợi tức trái phiếu chính phủ giảm sút tại Đức, Anh và Mỹ cho thấy vấn đề nghiêm trọng
trong hệ thống ngân hàng của các nước Địa Trung Hải thuộc khu vực đồng euro. Lợi tức trái
phiếu chính phủ Đức kỳ hạn 10 năm ngày 4/6 giảm xuống còn 1,2%, cho thấy vốn đang rời khỏi
khu vực Địa Trung Hải để chuyển sang trái phiếu của các nền kinh tế mạnh nhất. Tương tự, lợi
tức trái phiếu chính phủ Mỹ tụt xuống 1,5% là đáng báo động.
Đồng Euro và cuộc khủng hoảng nợ công Châu Âu
Nhóm 1 Trang 20 Nhà chiến lược Marshall Auerback của công ty Pinetree Capital tại Toronto nhận xét lợi
tức trái phiếu chính phủ Mỹ chưa bao giờ giảm xuống dưới 2% trong các năm 1919-1941, tức là
thời kỳ xảy ra Đại suy thoái và bắt đầu Chiến tranh Thế giới lần thứ hai.
Mới đây, chính phủ Tây Ban Nha tiết lộ trong quý 1/2012, khoản vốn trị giá 97 tỷ euro
đã bị rút khỏi nước này, tương đương với 10% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Tây Ban
Nha. Điều nguy hiểm là việc rút vốn dường như không dừng lại trong quý 2 bởi vì Tây Ban Nha
cần tìm kiếm khoản tiền lên tới 19 tỷ euro để cứu trợ Ngân hàng Bankia và nền kinh tế sa sút
chấp nhận lạm phát trong chừng mực nhất định. Lãi suất cơ bản tiệm cận 0% ở hầu hết các
nước: FED (Mỹ): 0,25%; ECB (EU): 1%; BOE (Anh): 0,5%; Nhật Bản 0,1%.
Ngược lại ở Việt Nam, lãi suất huy động lẫn lãi suất cho vay vẫn đứng ở mức cao. Các
doanh nghiệp phải vay vốn với lãi suất khoảng 14-16%/năm với kỳ hạn ngắn và khoảng 14,5-
17%/năm với kỳ hạn trung, dài hạn.
Nếu tính đến lạm phát ước cho năm 2010 là dưới 10%, doanh nghiệp phải đạt mức tỷ
suất lợi nhuận trên 24-27%, là mức cao so với tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu bình quân
của các ngành trong năm 2009 (khoảng 20%).
Đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm
Khủng hoảng nợ công châu Âu có thể tạo ra hai tác động trái chiều hoàn toàn với luồng
vốn FDI trên phạm vi toàn cầu. Trong những quốc gia có trình độ phát triển tương đương với
các nước thuộc EU sẽ hưởng lợi do nguồn vốn FDI sẽ dịch chuyển từ châu Âu sang các quốc
gia này khi nhà đầu tư muốn tránh thuế thu nhập doanh nghiệp đang có xu hướng tăng cao tại
các quốc gia châu Âu.
Ngược lại, các nước có trình độ phát triển thấp như Việt Nam lại hoàn toàn không được
hưởng lợi từ việc dịch chuyển luồng vốn FDI khỏi châu Âu do sự chênh lệch quá lớn về trình độ
công nghệ, trong khi luồng vốn từ các nhà đầu tư châu Âu vào các quốc gia này giảm sút do
cuộc khủng hoảng nợ.
Giá vàng bùng nổ
Các nhà đầu tư trên thế giới đang tìm vàng như một nơi trú ẩn an toàn trước nguy cơ
cuộc khủng hoảng nợ châu Âu ngày một lan rộng, làm cho giá vàng trong thời gian qua tăng
mạnh, lên mức trên 1.300 USD/ounce. Điều này phản ánh nhu cầu về dự trữ an toàn hơn so với
đồng tiền giấy, sau khi nhiều cá nhân và tổ chức ở châu Âu, châu Á đua nhau mua vàng, mua
bạch kim và bạc.
Đồng Euro và cuộc khủng hoảng nợ công Châu Âu
Nhóm 1 Trang 22 Việc giá vàng tăng cùng với xu hướng tăng mạnh của đồng USD là điều ít khi xảy ra. Rất
có thể sẽ tăng tới một kỷ lục mới trong thời gian tới và tạo sự tách biệt hoàn toàn giữa giá tài
Để đối phó với cuộc khủng hoảng nợ công, liên minh Châu Âu đã đưa ra các giải pháp
ngắn hạn và dài hạn như sau:
Ngắn hạn:
Quỹ Bình ổn tài chính Châu Âu (EFS F): Ngày 9/5/2010, 27 nước Châu Âu đã đồng ý
thành lập quỹ Bình ổn tài chính Châu Âu, một công cụ tài chính hợp pháp được tài trợ tài chính
bởi các thành viên liên minh Châu Âu nhằm giúp đảm bảo ổn định tài chính tại Châu Âu.
Cơ chế Bình ổn tài chính Châu Âu (EFS M): Ngày 5/1/2011, Liên minh Châu Âu
thành lập Cơ chế Bình ổn tài chính Châu Âu, đây là một quỹ khẩn cấp lấy vốn từ các thị trường
tài chính và ngân sách của Liên minh Châu Âu dưới sự đảm bảo bởi Ủy ban Châu Âu.
Hiệp ước Brussels: Ngày 26/10/2011, lãnh đạo 17 nước đã họp tại Brussels và đồng ý
xóa 50% nợ cho Hy Lạp bằng quỹ cứu trợ do Quỹ Bình ổn tài chính Châu Âu thực hiện.
Sự can thiệp của Ngân hàng trung ương Châu Âu (ECB): ECB đã thực hiện một số
những biện pháp nhằm hạn chế tính bất ổn và nâng cao tính thanh khoản của thị trường tài
chính. ECB mua lại các khoản nợ của chính phủ và tư nhân, lên tới 200 tỷ EUR và công bố kế
hoạch phân phối các hoạt động tái cấp vốn dài hạn.
Cải tổ và tái cơ cấu đối với hệ thống tài chính ngân hàng, quản lý nhà nước, tái cấu trúc
nền kinh tế, khu vực đầu tư công,…
Dài hạn:
Liên minh Tài khóa Châu Âu (European Fiscal Union): Thiết lập một Liên minh Tài
khóa trong khu vực Eurozone, với những cơ chế kiểm soát tài khóa chặt chẽ và trừng phạt
nghiêm các thành viên trong Hiệp ước của Liên minh Châu Âu.
Cơ chế Bình ổn Châu Âu (European Stablity Mechanism): Là một chương trình quỹ
cứu trợ dài hạn tiếp theo quỹ Bình ổn Tài chính Châu Âu và Cơ chế Bình ổn tài chính Châu Âu.
ESM được triển khai vào tháng 7/2012, song hành với EFSF cho đến khi quỹ cứu trợ ngắn hạn
này hết hiệu lực vào giữa năm 2013. Nhiệm vụ của ESM là hỗ trợ tài chính cho các thành viên
Eurozone vào thời điểm khó khăn nhằm duy trì sự ổn định tài chính trong khu vực. Các nước
thành viên Eurozone đang gặp khó khăn về tài chính có thể vay tiền từ ESM để đối phó với
cuộc khủng hoảng nợ công nhưng đổi lại các nước này phải tiến hành cải cách tài chính và tái
cơ cấu nền kinh tế.